Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- I. Yêu cầu đối với bài văn nghị luận phân tích tác phẩm thơ song thất lục bát
- II. Hướng dẫn viết theo các bước
- Bước 1: Trước khi viết
- Bước 2: Viết bài
- Bước 3: Chỉnh sửa bài viết
- III. Phân tích bài viết tham khảo: "Hồn tôi vang tiếng trống trường" (về bài thơ Trưa vắng – Hồ Dzếnh)
- 1. Cách mở bài
- 2. Cách triển khai thân bài
- 3. Cách kết bài
- 4. Những điểm cần học tập từ bài viết tham khảo
- IV. Bài văn mẫu: Phân tích 16 câu thơ cuối bài Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến)
- V. Một số lưu ý khi viết bài
- 1. Về nội dung
- 2. Về nghệ thuật
- 3. Về hình thức
- 4. Bảng kiểm tra bài viết
Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (thơ song thất lục bát) trong chương trình Ngữ văn 9. Bài viết dưới đây giúp các em nắm vững yêu cầu, cách viết từng bước, phân tích bài viết tham khảo và bài văn mẫu
I. Yêu cầu đối với bài văn nghị luận phân tích tác phẩm thơ song thất lục bát
Phân tích tác phẩm văn học là làm rõ những nét đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Với bài văn phân tích tác phẩm thơ song thất lục bát, cần đảm bảo các yêu cầu sau:
Thứ nhất, giới thiệu khái quát về tác phẩm thơ song thất lục bát (tên tác phẩm, tên tác giả), nêu được nhận định chung của người viết về tác phẩm.
Thứ hai, làm rõ được nội dung chủ đề của tác phẩm.
Thứ ba, phân tích được những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm (vần, nhịp, từ ngữ, biện pháp tu từ,…) và hiệu quả thẩm mĩ của chúng. Đặc biệt, cần tập trung vào những yếu tố đặc trưng của thể thơ song thất lục bát và tác dụng của thể thơ này trong việc thể hiện nội dung tác phẩm.
Thứ tư, triển khai được hệ thống luận điểm chặt chẽ; sử dụng lí lẽ, bằng chứng xác đáng từ tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến nêu trong bài viết.
Thứ năm, khẳng định được ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.
II. Hướng dẫn viết theo các bước
Bước 1: Trước khi viết
a. Lựa chọn đề tài
Nhớ lại các tác phẩm thơ song thất lục bát đã học hoặc đã đọc, chẳng hạn: Ai tư vãn (Lê Ngọc Hân), Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến), Hai chữ nước nhà (Trần Tuấn Khải), Đêm khuya tự tình với sông Hương (Hàn Mặc Tử), Tiếng đàn mưa (Bích Khê),… Chọn trong số đó một tác phẩm em cảm thấy thú vị, có nhiều xúc cảm để phân tích.
b. Tìm ý
Để tìm ý cho bài văn, em cần thực hiện các bước sau:
Tìm hiểu thông tin về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm (nếu có) và những thông tin khác có liên quan để viết phần Mở bài và liên hệ, mở rộng khi phân tích.
Xác định bố cục của tác phẩm và nội dung chính của từng phần.
Xác định những nỗi niềm tâm tư, xúc cảm chủ đạo trong tác phẩm.
Tìm hiểu các yếu tố nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng để truyền tải nội dung chủ đề:
- Đặc điểm của thể thơ song thất lục bát (vần, nhịp,…).
- Từ ngữ (đặc biệt là các từ ngữ chỉ xúc cảm, từ tượng thanh, từ tượng hình,…).
- Biện pháp tu từ (điệp thanh, điệp vần, so sánh, ẩn dụ, nhân hóa,…).
- Cách ngắt nhịp, dấu câu đặc biệt (dấu chấm lửng, câu hỏi tu từ,…).
Lưu ý quan trọng: Nghị luận về một tác phẩm thơ song thất lục bát, bài viết nên kết hợp phân tích nội dung và nghệ thuật để làm rõ sự hô ứng, hòa quyện của hai phương diện này trong cùng một (hoặc một nhóm) câu thơ. Việc triển khai bài viết sẽ thuận lợi hơn khi lần lượt phân tích theo trình tự các phần của tác phẩm thơ.
c. Lập dàn ý
Tổ chức, sắp xếp các ý đã tìm được thành dàn ý chặt chẽ, hợp lí:
Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác phẩm thơ song thất lục bát (nhan đề, tên tác giả) và nêu ý kiến chung về tác phẩm.
Thân bài: Lần lượt phân tích các phần theo bố cục tác phẩm:
- Phần 1 (từ câu… đến câu…): phân tích những tâm tư, nỗi niềm, khát vọng,… và một số nét đặc sắc về nghệ thuật.
- Phần 2 (từ câu… đến câu…): phân tích những tâm tư, nỗi niềm, khát vọng,… và một số nét đặc sắc về nghệ thuật.
- (Tiếp tục với các phần còn lại…)
Ngoài cách phân tích theo bố cục, có thể phân tích theo cách lần lượt đi từ nội dung đến hình thức nghệ thuật hoặc ngược lại.
Kết bài: Khẳng định ý nghĩa, giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Bước 2: Viết bài
Việc thực hiện bài viết đòi hỏi triển khai đầy đủ các ý đã có trong dàn ý. Mỗi ý trong phần Thân bài nên được viết thành một đoạn văn. Khi viết, cần lựa chọn những từ ngữ chính xác, phù hợp, thể hiện được quan điểm và tình cảm của người viết, tránh sử dụng những từ ngữ sáo rỗng, cầu kì. Nên sử dụng hiệu quả các thông tin ngoài tác phẩm (nếu có), giúp cho việc phân tích được rõ ràng, nổi bật hơn.
Lưu ý: Với trường hợp tác phẩm thơ dài, có thể chỉ trích dẫn ở mỗi phần những câu thơ, đoạn thơ quan trọng và phân tích sâu. Tùy điều kiện, thời gian làm bài để có cách xử lí thích hợp.
Bước 3: Chỉnh sửa bài viết
Đọc lại bài viết, căn cứ vào yêu cầu đối với bài văn phân tích tác phẩm thơ song thất lục bát và dàn ý đã lập, rà soát các phần để chỉnh sửa:
- Rà soát xem đã triển khai đầy đủ các ý chưa, nếu thiếu thì phải bổ sung.
- Rà soát xem bài viết đã phân tích các giá trị nội dung và nghệ thuật (đặc biệt là đã khai thác những đặc điểm của thể thơ song thất lục bát) chưa. Nếu thiếu thì phải bổ sung.
- Đối chiếu quy mô và dung lượng thông tin giữa các ý. Nếu chưa cân đối thì cần điều chỉnh.
- Chỉnh sửa các lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, tạo lập đoạn văn và văn bản (nếu có).
III. Phân tích bài viết tham khảo: “Hồn tôi vang tiếng trống trường” (về bài thơ Trưa vắng – Hồ Dzếnh)
SGK Ngữ văn 9 cung cấp bài viết tham khảo phân tích bài thơ Trưa vắng của Hồ Dzếnh. Dưới đây là phân tích cách triển khai bài viết để các em học tập:
1. Cách mở bài
Bài viết mở đầu bằng việc giới thiệu khái quát về tác giả và tác phẩm, đồng thời nêu nhận định chung: Hồ Dzếnh (1916 – 1991) là tác giả đã khẳng định được tên tuổi từ phong trào Thơ mới, với giọng thơ ấm áp, chân thật. Bài thơ Trưa vắng in trong tập Quê ngoại (1942) là sáng tác tiêu biểu cho giọng thơ, hồn thơ của thi sĩ.
Nhận xét: Phần mở bài ngắn gọn nhưng đầy đủ thông tin, giúp người đọc có cái nhìn tổng quan trước khi đi vào phân tích chi tiết.
2. Cách triển khai thân bài
Bài viết phân tích lần lượt theo bố cục bài thơ (5 khổ thơ), mỗi khổ được phân tích thành một đoạn văn, kết hợp chặt chẽ giữa nội dung và nghệ thuật:
Khổ 1 – Phân tích hình ảnh ngôi trường trong kí ức: Bài viết chỉ ra ngôi trường được cảm nhận qua thị giác (“nước vôi xanh”, “bờ cỏ tươi non”), khứu giác (“thoảng mùi thơm”) và thính giác (“chân đi nghe động”). Đồng thời phân tích đặc điểm song thất lục bát: mỗi khổ gồm một cặp câu 7 chữ và một cặp lục bát, có tới 7 tiếng gieo vần – điều không một thể thơ nào khác có được – tạo âm hưởng du dương dẫn dắt người đọc.
Khổ 2 – Phân tích kỉ niệm tuổi thơ: Bài viết khai thác biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (“Sâu rộng quá những giờ vui trước” – dùng cảm nhận không gian để miêu tả thời gian) và phép đối trong câu “Ném đầu chim chích, bắt đuôi chuồn chuồn”.
Khổ 3 – Phân tích ước mơ làm thơ: Bài viết phân tích câu hỏi tu từ (“Đời đẹp quá, tôi buồn sao kịp?”) và đặc biệt khai thác hai cách ngắt nhịp của câu “Tôi nguyền: sau lớn làm thơ suốt đời!” (nhịp 2/2/2/2 tạo lời giãi bày, nhịp 2/6 tạo lời “tuyên thệ” dõng dạc).
Khổ 4 – Phân tích sự đổi thay theo thời gian: Bài viết khai thác tác dụng của dấu chấm lửng giữa khổ thơ – không phải ngăn cách mà như một khoảng lặng thẫn thờ, chất chứa ngậm ngùi.
Khổ 5 – Phân tích kỉ niệm sống dậy trong buổi trưa vắng: Bài viết liên hệ mở rộng với bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu, khai thác tác dụng của dấu chấm lửng cuối bài – thể hiện âm vang tiếng trống trường năm xưa còn chưa dứt.
Nhận xét: Cách triển khai theo bố cục bài thơ giúp bài viết mạch lạc, không bỏ sót ý. Điểm đặc biệt là mỗi đoạn đều kết hợp nhuần nhuyễn giữa phân tích nội dung và nghệ thuật.
3. Cách kết bài
Bài viết khẳng định giá trị, ý nghĩa của bài thơ: ngôn ngữ tự nhiên, mộc mạc, giàu biểu cảm; thể thơ song thất lục bát giàu vần điệu, ngắt nhịp đa dạng, có khả năng chuyển tải xúc cảm muôn màu. Bài thơ làm sống dậy những kỉ niệm tuổi thơ, khiến ta thêm yêu quý, trân trọng những phút giây đã và đang sống.
4. Những điểm cần học tập từ bài viết tham khảo
- Kết hợp phân tích nội dung và nghệ thuật trong cùng một đoạn văn, không tách rời hai phương diện này.
- Khai thác đặc điểm thể thơ song thất lục bát: vần điệu, mật độ gieo vần, cách ngắt nhịp đa dạng.
- Chú ý các yếu tố nghệ thuật đặc sắc: biện pháp tu từ (ẩn dụ, đối, câu hỏi tu từ), dấu câu (dấu chấm lửng), cách ngắt nhịp.
- Liên hệ mở rộng với tác phẩm khác để tăng chiều sâu cho bài viết.
- Sử dụng ngôn ngữ chính xác, giàu cảm xúc nhưng không sáo rỗng.
IV. Bài văn mẫu: Phân tích 16 câu thơ cuối bài Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến)
Các em có thể đọc bài thơ tại đây
Dưới đây là bài văn mẫu phân tích đoạn trích bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến – một tác phẩm tiêu biểu viết theo thể song thất lục bát.
Đã từ lâu, tình bạn là chủ đề quen thuộc trong văn học Việt Nam. Nguyễn Khuyến – nhà thơ lớn cuối thời trung đại – là người có nhiều bài thơ viết về tình bạn chân thành, sâu nặng. Nếu trong Bạn đến chơi nhà, ông dùng giọng thơ hóm hỉnh để nói về tình bạn không màng vật chất, thì sang bài Khóc Dương Khuê, giọng thơ đã thay đổi hẳn. Cả bài thơ như tiếng khóc nấc lên trong nỗi đau mất bạn. Đặc biệt, mười sáu câu thơ cuối bài đã đẩy cảm xúc thương tiếc lên tận cùng, khiến người đọc xúc động sâu sắc.
Nguyễn Khuyến xuất thân nhà nho, có tài văn chương, đỗ đầu cả ba kì thi nên còn được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ. Ông thường viết về gia đình, bạn bè, quê hương và châm biếm bọn thực dân. Bài thơ Khóc Dương Khuê ban đầu được viết bằng chữ Hán, sau được ông dịch lại bằng chữ Nôm. Dương Khuê là bạn tri âm của Nguyễn Khuyến – mặc dù kém bốn tuổi nhưng cũng đỗ chức tước cao, là người bạn thân thiết nhất đời ông. Mười sáu câu thơ cuối chính là nỗi đau đáu, thương xót của nhà thơ trước sự ra đi đột ngột của bạn.
Hai câu thơ mở đầu đoạn trích được viết bằng giọng vừa khôi hài vừa chua xót:
“Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác, Tôi lại đau trước bác mấy ngày.”
Quả thật, Nguyễn Khuyến hơn Dương Khuê bốn tuổi, nhưng vẫn dùng cách xưng hô thân mật “tôi – bác”. Cụm từ “đau trước bác mấy ngày” sử dụng biện pháp ẩn dụ, ý nói sự ra đi của Dương Khuê quá đột ngột, khiến tác giả giật mình và đau đớn. Hai câu thất với nhịp thơ đều đặn như lời tâm sự nhẹ nhàng nhưng chất chứa nỗi xót xa.
Bốn câu thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục mạch cảm xúc trầm lắng:
“Làm sao bác vội về ngay, Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời. Ai chẳng biết chán đời là phải, Sao vội vàng mà mải lên tiên.”
Tác giả sử dụng biện pháp nói giảm nói tránh rất khéo léo: “vội về ngay”, “chán đời”, “lên tiên” – tất cả đều là cách nói tránh sự ra đi vĩnh viễn của bạn, nhằm giảm đi sự đau thương. Nhưng trớ trêu thay, càng nói tránh, câu thơ càng đau bội phần. Đồng thời, biện pháp nói quá “chân tay rụng rời” phóng đại nỗi đau đến cùng cực – chắc hẳn vì quá bất ngờ mà nhà thơ suy sụp, không đứng vững nổi. Cặp lục bát “Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời” với vần lưng “nghe – rời” tạo âm hưởng kéo dài, như nỗi đau lan tỏa khắp cơ thể.
Tiếp đó, nhà thơ bộc lộ sự trống vắng khi không còn bạn bên cạnh:
“Rượu ngon không có bạn hiền, Không mua không phải không tiền không mua. Câu thơ nghĩ đắn đo không viết, Viết đưa ai, ai biết mà đưa; Giường kia treo cũng hững hờ, Đàn kia gãy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.”
Đây là đoạn thơ đặc sắc nhất. Biện pháp điệp từ “không” ba lần liên tiếp trong câu “Không mua không phải không tiền không mua” nhân lên gấp bội sự vô vị, chán chường khi thiếu bạn hiền. Rượu vẫn còn đó, tiền vẫn có đó, nhưng không còn tri âm thì mua rượu để làm gì?
Câu thơ “Viết đưa ai, ai biết mà đưa” sử dụng biện pháp điệp từ “ai” và “đưa”, kết hợp với phép chơi chữ tạo nên vòng luẩn quẩn: viết xong không biết đưa cho ai, mà cũng không có ai để đưa. Mất Dương Khuê, Nguyễn Khuyến gần như mất đi cả người đọc tri kỉ duy nhất.
Các sự vật gắn với thú vui ngày xưa – giường, đàn – cũng mất đi sức sống, trở nên “hững hờ” và “ngẩn ngơ”. Hai từ láy này đồng thời là hai từ nhân hóa đặc sắc, khiến những sự vật tưởng như vô tri vô giác cũng hòa cùng nỗi đau mất bạn của nhà thơ. Cặp lục bát cuối đoạn với vần lưng “hờ – ngơ” tạo âm hưởng ngẩn ngơ, trống vắng, như chính tâm trạng của thi nhân.
Cuối cùng, dù đau đớn đến cùng cực, Nguyễn Khuyến cũng đành chấp nhận sự thật:
“Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở, Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương. Tuổi già hạt lệ như sương, Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!”
Câu thơ “Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở” là lời trách móc nhẹ nhàng mà đầy xót xa. Trách bạn sao vội ra đi – đó là điều vô lý vì sinh tử là lẽ thường, nhưng lại hết sức hợp lý vì tình bạn quá sâu nặng nên nhà thơ không nỡ chấp nhận.
Mãi đến tận cuối bài thơ, giọt nước mắt mới xuất hiện, nhưng giọt lệ ấy lại “như sương”, phải “ép” mới ra. Biện pháp so sánh “hạt lệ như sương” vừa gợi hình ảnh giọt lệ mỏng manh của tuổi già, vừa ẩn chứa nỗi đau quá lớn đến mức không thể khóc thành dòng. Nước mắt chảy ngược vào trong – đó mới là nỗi đau thực sự sâu thẳm nhất.
Bằng ngôn ngữ bình dân, mộc mạc, gần gũi nhưng chất chứa cảm xúc mãnh liệt, cùng việc sử dụng tài tình các biện pháp tu từ nhân hóa, điệp ngữ, so sánh, nói giảm nói tránh, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ tình thương bạn sâu nặng và nỗi đau muôn phần khi mất tri âm. Thể thơ song thất lục bát với cặp câu bảy chữ dồn dập xen kẽ cặp lục bát ngân nga đã tạo nên nhịp thơ lúc nghẹn ngào, lúc trầm lắng – rất phù hợp để diễn tả những cung bậc cảm xúc của nỗi đau mất bạn. Bài thơ khiến ta thêm trân trọng những tình bạn đẹp đẽ, trong sáng giữa cuộc đời.
V. Một số lưu ý khi viết bài
1. Về nội dung
- Cần xác định rõ chủ đề của bài thơ trước khi viết: bài thơ nói về điều gì? Tâm trạng, cảm xúc chủ đạo là gì?
- Mỗi luận điểm cần có lí lẽ và dẫn chứng cụ thể từ tác phẩm. Tránh nhận xét chung chung mà không trích dẫn thơ.
- Nên liên hệ, mở rộng với các tác phẩm khác khi phù hợp để tăng chiều sâu cho bài viết.
2. Về nghệ thuật
- Bắt buộc phải khai thác đặc điểm thể thơ song thất lục bát: cấu trúc cặp song thất + cặp lục bát, mật độ gieo vần lớn (7 tiếng gieo vần trong 28 chữ), cách gieo vần (vần chân, vần lưng), cách ngắt nhịp linh hoạt.
- Phân tích các biện pháp tu từ: ẩn dụ, nhân hóa, so sánh, điệp ngữ, câu hỏi tu từ, phép đối,…
- Chú ý các yếu tố đặc biệt: dấu chấm lửng, cách ngắt nhịp, từ láy, từ tượng thanh, tượng hình.
3. Về hình thức
- Bài viết cần có bố cục rõ ràng: mở bài, thân bài, kết bài.
- Mỗi ý trong thân bài nên được viết thành một đoạn văn riêng.
- Các đoạn văn cần có câu chuyển tiếp tự nhiên, tạo sự liền mạch.
- Ngôn ngữ chính xác, giàu cảm xúc, tránh sáo rỗng.
4. Bảng kiểm tra bài viết
Sau khi viết xong, hãy tự kiểm tra bằng các câu hỏi sau:
- Đã giới thiệu tác giả, tác phẩm và nêu nhận định chung chưa?
- Đã làm rõ nội dung chủ đề của bài thơ chưa?
- Đã phân tích đặc điểm thể thơ song thất lục bát (vần, nhịp, cấu trúc) chưa?
- Đã phân tích các biện pháp tu từ và tác dụng của chúng chưa?
- Đã sử dụng dẫn chứng (trích dẫn thơ) đầy đủ chưa?
- Dung lượng các phần đã cân đối chưa?
- Đã khẳng định giá trị, ý nghĩa của tác phẩm ở kết bài chưa?
- Có lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu không?

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
