Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- I. Yêu cầu đối với bài văn phân tích một tác phẩm (truyện)
- II. Các bước viết bài
- Bước 1: Trước khi viết
- Bước 2: Viết bài
- Bước 3: Chỉnh sửa bài viết
- III. Phân tích bài viết tham khảo trong SGK
- IV. Bài viết mẫu
- Bài mẫu 1: Sức hấp dẫn của đoạn trích "Xe đêm" (Pau-xtốp-xki)
- Bài mẫu 2: Phân tích đoạn trích "Lá cờ thêu sáu chữ vàng" (Nguyễn Huy Tưởng)
Trong chương trình Ngữ văn 8, kĩ năng viết bài văn phân tích một tác phẩm truyện là một trong những kĩ năng quan trọng mà các em cần rèn luyện. Phân tích tác phẩm giúp ta hiểu sâu sắc hơn về vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ và những thông điệp mà tác giả gửi gắm. Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn các em nắm vững lý thuyết, các bước viết bài và cung cấp 2 bài viết mẫu để tham khảo.
I. Yêu cầu đối với bài văn phân tích một tác phẩm (truyện)
Khi viết bài văn phân tích một tác phẩm truyện, các em cần đảm bảo những yêu cầu sau:
- Giới thiệu tác phẩm truyện (nhan đề, tác giả) và nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.
- Nêu ngắn gọn nội dung chính của tác phẩm.
- Nêu được chủ đề của tác phẩm.
- Chỉ ra và phân tích được tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật (cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôi kể, ngôn ngữ,…). Cần tập trung vào một số yếu tố nghệ thuật nổi bật nhất, phân tích có diện, có điểm để bài viết không bị dàn trải mà có chiều sâu.
- Sử dụng bằng chứng từ tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến nêu trong bài viết.
- Nêu được ý nghĩa, giá trị của tác phẩm truyện.
Lưu ý quan trọng: Bài văn phân tích tác phẩm truyện khác với bài kể lại câu chuyện hay bài nêu cảm nghĩ. Mục đích của bài phân tích là làm rõ nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật, thuyết phục người đọc đồng tình với ý kiến của em về tác phẩm.
II. Các bước viết bài
Bước 1: Trước khi viết
a) Lựa chọn đề tài
Chọn một tác phẩm truyện mà em yêu thích và có hiểu biết sâu sắc. Ví dụ: Sức hấp dẫn của đoạn trích “Xe đêm” (Pau-xtốp-xki); Những nét đặc sắc của truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” (Lê Minh Khuê); Giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích “Đi lấy mật” (trích Đất rừng phương Nam – Đoàn Giỏi),…
b) Tìm ý
Đặt và trả lời các câu hỏi xoay quanh tác phẩm:
- Nội dung của truyện là gì? Nội dung ấy được thể hiện như thế nào qua hệ thống nhân vật, sự kiện?
- Chủ đề của truyện là gì?
- Truyện có những đặc điểm nổi bật nào về hình thức nghệ thuật? Những đặc điểm ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện nội dung?
- Ý nghĩa của truyện là gì?
Mẹo: Em không nhất thiết phải phân tích hết mọi phương diện nghệ thuật mà nên đi sâu khai thác một số yếu tố đặc sắc, tiêu biểu nhất. Phân tích có diện, có điểm sẽ khiến bài viết có chiều sâu.
c) Lập dàn ý
Sắp xếp các ý đã tìm được thành dàn ý hợp lí:
Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm (nhan đề, tác giả); nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.
Thân bài:
- Nêu nội dung chính của tác phẩm.
- Nêu chủ đề của tác phẩm.
- Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật (đây là phần trọng tâm, cần viết dài và sâu nhất).
Kết bài: Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.
Bước 2: Viết bài
- Dựa vào dàn ý, triển khai bài viết theo hệ thống luận điểm đã xây dựng.
- Mỗi luận điểm cần được làm sáng tỏ bằng lí lẽ và bằng chứng cụ thể từ tác phẩm.
- Khi phân tích, cần bám sát sự kiện, nhân vật, ngôi kể, ngôn ngữ…
- Chú ý lựa chọn yếu tố nghệ thuật đặc sắc nhất để đi sâu khai thác.
Bước 3: Chỉnh sửa bài viết
Đọc lại bài và kiểm tra theo bảng kiểm:
| Nội dung kiểm tra | Đạt | Chưa đạt |
|---|---|---|
| Giới thiệu được tác giả, tác phẩm và nêu ý kiến khái quát | ||
| Nêu được nội dung chính của tác phẩm | ||
| Nêu được chủ đề của tác phẩm | ||
| Chỉ ra và phân tích được nét đặc sắc về nghệ thuật | ||
| Có bằng chứng trích dẫn từ tác phẩm | ||
| Khẳng định ý nghĩa, giá trị tác phẩm | ||
| Đảm bảo chính tả, diễn đạt |
III. Phân tích bài viết tham khảo trong SGK
Bài viết tham khảo trong sách giáo khoa phân tích truyện ngắn “Bức tranh của em gái tôi” (Tạ Duy Anh) với nhan đề “Bức tranh của em gái tôi – lời tự thú chân thành”. Các em có thể học hỏi cách viết từ bài tham khảo này:
Về cách mở bài: Tác giả giới thiệu ngắn gọn về Tạ Duy Anh (vài nét về phong cách sáng tác), sau đó dẫn dắt tự nhiên đến tác phẩm “Bức tranh của em gái tôi” và nêu ý kiến khái quát: Tạ Duy Anh viết cho thiếu nhi bằng kiểu viết giản dị, gọn gàng và đầy trìu mến, tuổi thơ trong mắt ông là khoảng thời gian đẹp đẽ, trong trẻo nhất.
Về cách triển khai thân bài: Bài viết nêu ngắn gọn nội dung chính rồi xác định chủ đề: ca ngợi tài năng, lòng nhân hậu của Kiều Phương, sự ăn năn thức tỉnh của nhân vật “tôi”, đặt ra vấn đề tâm lí tuổi mới lớn và quan hệ ứng xử trong gia đình. Sau đó, bài viết tập trung phân tích hai yếu tố nghệ thuật đặc sắc nhất: nghệ thuật xây dựng nhân vật (phân tích kĩ tâm lí nhân vật “tôi”) và tác dụng của ngôi kể thứ nhất. Bài viết không dàn trải phân tích tất cả mà chọn điểm nhấn – đó chính là cách “phân tích có diện, có điểm”.
Cụ thể, khi phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật, bài viết tham khảo đã:
- Đặt hai nhân vật Kiều Phương và “tôi” trong tương quan đối sánh, bổ sung, soi chiếu cho nhau.
- Phân tích nhân vật Kiều Phương qua lời nói, cử chỉ, hành động – hồn nhiên, trong trẻo, vô tư.
- Phân tích kĩ lưỡng diễn biến tâm lí nhân vật “tôi”: từ sự quan tâm ban đầu → ghen tị khi tài năng em được phát hiện → bức bối khó giải toả → vỡ lẽ trước bức tranh em vẽ. Mỗi giai đoạn đều có bằng chứng cụ thể từ tác phẩm.
Khi phân tích tác dụng ngôi kể, bài viết chỉ ra: ngôi thứ nhất khiến chi tiết bức tranh ở phần cuối trở nên bất ngờ; dưới cái nhìn xét nét của người anh, em gái lại hiện lên chân thực hơn; tâm trạng “tôi” được bộc lộ sâu sắc như “bản tự thú chân thành”.
Về cách kết bài: Khẳng định tâm huyết, tài năng của tác giả và ý nghĩa, giá trị của tác phẩm – ngôn ngữ trong sáng, cốt truyện đơn giản nhưng thắt mở hợp lí, kết truyện bất ngờ.
IV. Bài viết mẫu
Bài mẫu 1: Sức hấp dẫn của đoạn trích “Xe đêm” (Pau-xtốp-xki)
Côn-xtan-tin Pau-xtốp-xki là nhà văn Nga nổi tiếng với những trang viết mang chất thơ nhẹ nhàng, tinh tế, khơi dậy ở người đọc sự rung cảm trước những vẻ đẹp bình dị, khuất lấp trong cuộc sống. Trong số các sáng tác của ông, “Xe đêm” là truyện ngắn tiêu biểu, gửi gắm thông điệp sâu sắc về sức mạnh của trí tưởng tượng và ảnh hưởng kì diệu của nó trong văn chương cũng như trong đời sống. Đoạn trích “Xe đêm” trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 đã cho thấy sức hấp dẫn đặc biệt của ngòi bút Pau-xtốp-xki qua hình tượng nhà văn An-đéc-xen trên chuyến xe đêm từ Vơ-ni-dơ đến Vê-rô-na.
Đoạn trích kể về An-đéc-xen trên chuyến xe đêm cùng một nhà tu hành và thiếu phụ E-lê-na. Dọc đường, ba cô gái muốn lên xe nhưng không đủ tiền, An-đéc-xen đã hào phóng trả giúp. Trên xe, chàng trò chuyện cùng các cô gái, “tiên đoán” về tương lai và hạnh phúc của họ bằng trí tưởng tượng bay bổng và trái tim nhân hậu. Chủ đề của đoạn trích chính là ca ngợi sức mạnh kì diệu của trí tưởng tượng khi được nuôi dưỡng bởi tấm lòng yêu thương con người – điều đã tạo nên sức cuốn hút không thể cưỡng lại cho truyện cổ tích An-đéc-xen.
Sức hấp dẫn đầu tiên của đoạn trích nằm ở nghệ thuật xây dựng nhân vật An-đéc-xen. Nhân vật được khắc hoạ qua hai chiều đối lập: trong thực tế, chàng “rất xấu trai”, “cao kều và nhút nhát”, tay chân lòng thòng “như con rối xâu dây”; nhưng trong tưởng tượng, chàng hình dung mình “đẹp trai, trẻ trung, hoạt bát”, tự giới thiệu với các cô gái rằng mình là “nhà tiên tri” có thể “nhìn thấu được bóng tối”, là “hoàng tử bất hạnh” từ xứ sở Hăm-lét. Sự đối lập ấy không khiến nhân vật trở nên buồn cười mà ngược lại, gợi lên sự đồng cảm. An-đéc-xen tự ti về ngoại hình nhưng luôn khao khát hướng đến cái đẹp – và chính khao khát ấy là nguồn gốc của trí tưởng tượng phong phú, tạo nên những trang truyện cổ tích bất hủ.
Nhưng đặc sắc hơn cả là cách nhà văn miêu tả trạng thái sáng tạo của An-đéc-xen. Khi trò chuyện với các cô gái, chàng cảm thấy mặt mình “lạnh toát”, gần tới trạng thái mà chàng trải nghiệm mỗi lần sáng tác – trạng thái “hoà trộn của một thoáng ưu tư, một dòng tuôn chảy những từ ngữ chẳng rõ từ đâu tới, một cảm nhận bất ngờ về sức mạnh thi ca”. Hình ảnh chiếc rương thần “bỗng bật tung ra” nơi ẩn chứa “tất cả sự mê hồn của trái đất – tất cả những bông hoa của nó, tất cả màu sắc và âm thanh, những làn gió ngát hương” là hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp cho khoảnh khắc cảm hứng sáng tạo ùa đến. Đoạn văn này cho thấy: An-đéc-xen không chỉ đang trò chuyện – chàng đang sáng tạo, đang dùng trí tưởng tượng để “viết” truyện cổ tích ngay trong đời thực.
Những lời tiên đoán cho ba cô gái cũng thể hiện rõ tấm lòng nhân hậu của An-đéc-xen. Với Ni-cô-li-na, chàng nhìn thấy trái tim nồng nhiệt sẵn sàng “vượt qua ngàn dặm” cứu người yêu. Với Ma-ri-a, chàng tiên đoán cô sẽ gặp được người xứng đáng có “tâm hồn lớn lao”. Với An-na, chàng vẽ nên bức tranh hạnh phúc giản dị của một gia đình đông con, sum vầy. Mỗi lời tiên đoán đều ngọt ngào, đều hướng đến hạnh phúc. Chàng không chỉ nói – chàng trao tặng niềm tin, dũng khí và ước mơ cho những cô gái nghèo chưa dám tin vào tương lai của mình. Chính vì thế, thiếu phụ E-lê-na đã xúc động mời Ma-ri-a đến nhà mình ở Vê-rô-na – lời tiên đoán đã biến thành hành động thực, thành cơ hội thực cho con người.
Câu chuyện An-đéc-xen giấu quà dưới gốc nấm cho con gái người gác rừng ở xứ Giuýt-len cũng là chi tiết đầy ý nghĩa. Trước lời phản đối của nhà tu hành – người cho rằng đó là “đánh lừa một sinh thể ngây thơ” – An-đéc-xen đáp: “trái tim bé sẽ không dễ bị trơ lì như với những người chưa từng chứng kiến chuyện cổ tích như thế.” Câu trả lời ấy chứa đựng một chân lí: trí tưởng tượng và truyện cổ tích có sức mạnh nuôi dưỡng tâm hồn, giữ cho trái tim không chai sạn trước cuộc đời. Nhà tu hành với quan điểm đạo đức khô cứng chỉ thấy bề ngoài, còn An-đéc-xen hiểu được giá trị sâu xa của trí tưởng tượng với tâm hồn trẻ thơ.
Không thể không nhắc đến vai trò của không gian đêm tối trong đoạn trích. Bóng đêm che giấu ngoại hình thiếu hấp dẫn của An-đéc-xen, tạo điều kiện cho trí tưởng tượng bay bổng tự do. An-đéc-xen thầm nhủ: “Bóng đêm dễ chịu hơn ánh sáng ban ngày. Bóng tối cho ta được bình yên suy ngẫm về mọi điều.” Nhờ bóng tối, ranh giới giữa thực và mơ được xoá nhoà, những câu chuyện kì diệu có cơ hội hiện hình. Cốt truyện đa tuyến (truyện lồng truyện) với ngôi kể thứ ba khách quan cũng góp phần tạo nên sự phong phú, hấp dẫn cho đoạn trích.
“Xe đêm” là tác phẩm thể hiện rõ phong cách Pau-xtốp-xki: văn chương giàu chất thơ, nhẹ nhàng mà sâu lắng, khơi dậy rung cảm trước vẻ đẹp bình dị của cuộc sống. Qua hình tượng An-đéc-xen, nhà văn gửi gắm thông điệp: trí tưởng tượng khi kết hợp với trái tim nhân hậu sẽ tạo nên sức mạnh kì diệu – có thể chinh phục lòng người, mang lại niềm vui và khích lệ con người dũng cảm tìm kiếm hạnh phúc. Đó cũng chính là bí mật tạo nên sức sống bất tử cho truyện cổ tích An-đéc-xen – và cho văn chương nói chung.
Bài mẫu 2: Phân tích đoạn trích “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” (Nguyễn Huy Tưởng)
Nguyễn Huy Tưởng (1912–1960) là nhà văn có thiên hướng khai thác đề tài lịch sử, nổi bật ở hai thể loại tiểu thuyết và kịch. Trong số các tác phẩm viết cho thiếu nhi của ông, “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” là cuốn truyện lịch sử được nhiều thế hệ bạn đọc yêu mến. Đoạn trích thuộc phần 3 của tác phẩm đã tái hiện thành công hình ảnh chàng thiếu niên Trần Quốc Toản với lòng yêu nước nồng nhiệt và ý chí quyết tâm đánh giặc cứu nước, đồng thời cho thấy bút pháp kể chuyện lịch sử tài tình của Nguyễn Huy Tưởng.
Đoạn trích kể về sự kiện Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản tìm đến bến Bình Than – nơi vua Trần Nhân Tông họp các vương hầu bàn kế sách chống quân Nguyên xâm lược – nhưng bị quân Thánh Dực ngăn không cho xuống thuyền vì chưa đủ tuổi. Sau khi liều mình xông xuống thuyền ngự tâu vua xin đánh giặc, Quốc Toản được vua khen ngợi và ban cho quả cam, nhưng vẫn không được dự bàn việc nước. Chàng quyết chí chiêu binh mãi mã, bóp nát quả cam vua ban lúc nào không hay. Chủ đề đoạn trích là ca ngợi lòng yêu nước nồng nhiệt, chân thành và ý chí quyết tâm đánh giặc của chàng thiếu niên Trần Quốc Toản, qua đó thể hiện khí thế hào hùng của nhà Trần thời kháng chiến chống quân Nguyên Mông.
Nét đặc sắc nổi bật nhất của đoạn trích là nghệ thuật xây dựng nhân vật Trần Quốc Toản. Nhà văn đặt nhân vật vào một tình huống đầy mâu thuẫn: vận nước lâm nguy, Quốc Toản khao khát được góp sức đánh giặc nhưng lại chưa đủ tuổi dự bàn việc nước. Chính tình huống éo le ấy khiến tính cách nhân vật được bộc lộ trọn vẹn qua từng giai đoạn.
Khi đứng trên bờ quan sát hội nghị, Quốc Toản thẫn thờ, cảm thấy “nhục nhã” vì phải “đứng rìa”, cay đắng nghĩ “Cha ta mất sớm, nên ta mới phải đứng rìa nhục nhã thế này!”. Chàng khẳng định dứt khoát: dã tâm của giặc đã rõ, “chỉ có việc đánh”, làm gì phải bàn đi bàn lại. Chàng còn so sánh mình với các bô lão áo vải ở Hội nghị Diên Hồng – những người “còn biết đường phải trái, huống chi ta là bậc tôn thất”. Những dòng suy nghĩ nội tâm này được đan xen vào lời kể một cách tự nhiên – đây là thủ pháp nghệ thuật đặc sắc của đoạn trích, giúp người đọc hiểu sâu tâm trạng sôi sục của nhân vật.
Khi quyết xông xuống thuyền vua, hành động của Quốc Toản hết sức mạnh mẽ, quyết liệt: xô lính ngã chúi, tuốt gươm, “mắt trừng lên một cách điên dại”, vung gươm múa tít không ai dám tới gần. Tính chất hành động thì bồng bột, nông nổi nhưng mục đích lại hoàn toàn trong sáng. Trò chuyện với Chiêu Thành Vương, chàng cúi đầu lễ phép nhưng kiên quyết: “khi quốc biến thì đến đứa trẻ cũng phải lo, huống hồ cháu đã lớn”. Khi nghe có người chủ hoà, chàng “đứng phắt dậy, mắt long lên”, dùng hàng loạt câu hỏi tu từ chất vấn đầy phẫn nộ, dẫn điển cố “giả đồ diệt Quắc” để vạch trần âm mưu của giặc. Quỳ tâu vua, tiếng nói của chàng “như thét”: “Xin quan gia cho đánh! Cho giặc mượn đường là mất nước.” Sự kết hợp giữa lễ phép với kiên quyết, giữa bồng bột với trong sáng, tạo nên một chàng thiếu niên vừa đáng yêu vừa đáng kính.
Chi tiết đắt giá nhất – cũng là chi tiết giàu ý nghĩa nhất – nằm ở phần kết đoạn trích: quả cam vua ban bị Quốc Toản bóp nát lúc nào không hay, “chỉ còn trơ bã”. Quả cam là ân sủng quý giá nhưng chàng đã vô tình nghiền nát nó trong cơn phẫn uất vì không được dự bàn việc nước, lại bị cười chế nhạo. Chi tiết này vừa thể hiện tâm hồn bồng bột đặc trưng của tuổi thiếu niên, vừa bộc lộ lòng yêu nước sục sôi, ý chí quyết chiến mãnh liệt đến mức dồn nén trong từng nắm tay. Đây là chi tiết có thật trong sử sách – Đại Việt sử ký toàn thư ghi: Quốc Toản “trong lòng hổ thẹn, phẫn khích, tay cầm quả cam bóp nát lúc nào không hay” – nhưng qua ngòi bút Nguyễn Huy Tưởng, nó trở nên sống động, giàu cảm xúc hơn nhiều.
Bên cạnh nhân vật chính, các nhân vật phụ cũng góp phần làm nổi bật tính cách Quốc Toản. Vua Trần Nhân Tông xử lý vừa có lý vừa có tình, ghi nhận tấm lòng của chàng – cho thấy đây là vị minh quân đức độ. Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc – kẻ chủ hoà – “sầm nét mặt” và xin chém đầu Quốc Toản, đối lập hoàn toàn với chàng thiếu niên yêu nước. Nghệ thuật đối lập này làm hình ảnh Quốc Toản thêm nổi bật, rực rỡ.
Ngôn ngữ đoạn trích cũng mang đậm sắc thái lịch sử với hệ thống từ Hán Việt chỉ tước vị, xưng hô, đồ vật hoàng gia (Hoài Văn Hầu, quan gia, thuyền ngự, nghi trượng…), cùng thành ngữ, điển cố (giả đồ diệt Quắc, quân pháp vô thân…). Những yếu tố ngôn ngữ này tái hiện không khí trang nghiêm, hào hùng của thời đại nhà Trần.
“Lá cờ thêu sáu chữ vàng” là tác phẩm thể hiện tài năng kể chuyện lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng. Bằng cách đan xen ý nghĩ nhân vật vào lời kể, xây dựng tình huống kịch tính tăng dần, sử dụng ngôn ngữ đậm sắc thái lịch sử và đặt nhân vật trong nhiều mối quan hệ, nhà văn đã tạo nên hình tượng Trần Quốc Toản sống động, chân thực – một chàng thiếu niên trẻ tuổi nhưng sớm biết lo cho giang sơn xã tắc, yêu nước nồng nhiệt, mạnh mẽ và quả cảm. Chân dung ấy cũng là hình ảnh tiêu biểu cho lớp lớp thiếu niên anh hùng trong truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
