Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- I. Tác giả Xuân Diệu
- II. Giới thiệu tác phẩm
- 1. Xuất xứ
- 2. Thể loại và phương thức biểu đạt
- 3. Luận đề
- 4. Bố cục
- III. Tri thức ngữ văn – Nghị luận văn học
- IV. Phân tích chi tiết văn bản
- 1. Phần giới thiệu vấn đề
- 2. Phân tích, bình vẻ đẹp bài Thu ẩm
- 3. Phân tích, bình vẻ đẹp bài Thu vịnh
- 4. Phân tích, bình vẻ đẹp bài Thu điếu
- 5. Cách kết thúc vấn đề
- 6. Cách nêu và phân tích bằng chứng của Xuân Diệu
- V. Tổng kết
- 1. Nghệ thuật
- 2. Nội dung
- 3. Ý nghĩa
- VI. Sơ đồ tư duy bài "Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam"
Trong chương trình Ngữ văn 8, bài “Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam” của Xuân Diệu là một văn bản nghị luận văn học đặc sắc. Qua bài viết này, Xuân Diệu đã phân tích, bình giảng ba bài thơ thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến – Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh – để làm nổi bật vẻ đẹp của mùa thu thôn quê Việt Nam trong thơ ca dân tộc. Đây không chỉ là bài phê bình văn học xuất sắc mà còn là bài học quý giá giúp các em hiểu cách viết một bài nghị luận văn học. Dưới đây là bài phân tích chi tiết theo chương trình Ngữ văn 8.
I. Tác giả Xuân Diệu
Xuân Diệu (1916–1985), tên đầy đủ là Ngô Xuân Diệu, quê ở Hà Tĩnh. Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của nền thơ hiện đại Việt Nam. Nhà phê bình Hoài Thanh từng nhận xét: “thiết tha, rạo rực, sôi nổi, băn khoăn như Xuân Diệu”. Thơ ông nồng nàn, sôi nổi, thể hiện tấm lòng yêu đời, ham sống thiết tha.
Bên cạnh thơ ca, Xuân Diệu còn viết nhiều tiểu luận phê bình văn học. Những bài viết của ông thể hiện sự khám phá tinh tế, sâu sắc vẻ đẹp của kho tàng thơ ca dân tộc. Với vốn kiến thức uyên bác và tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm, Xuân Diệu được đánh giá là một trong những nhà phê bình văn học tài năng bậc nhất của Việt Nam.
Một số sáng tác và tiểu luận phê bình tiêu biểu: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), Phê bình giới thiệu thơ (1960), Dao có mài mới sắc (1963), Mài sắt nên kim (1977), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập I, 1981; tập II, 1982),…

II. Giới thiệu tác phẩm
1. Xuất xứ
Văn bản “Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam” được trích trong tập Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập II, xuất bản năm 1982. Đây là bài phê bình văn học mà Xuân Diệu dành để bình giảng, phân tích ba bài thơ thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến: Thu điếu (Mùa thu câu cá), Thu ẩm (Mùa thu uống rượu) và Thu vịnh (Mùa thu ngâm vịnh).
2. Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: Văn xuôi – bài phê bình văn học (nghị luận văn học).
- Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
3. Luận đề
Luận đề của bài viết là: Vẻ đẹp của mùa thu thôn quê Việt Nam qua ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến.
Luận đề được thể hiện rõ nét ngay ở nhan đề văn bản – “Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam”. Toàn bộ nội dung bài viết đi sâu khám phá đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của ba bài thơ thu, để chứng minh rằng Nguyễn Khuyến xứng đáng là nhà thơ đã viết nên những bài thơ thu hay nhất, điển hình nhất cho mùa thu của Việt Nam.
4. Bố cục
Văn bản có thể chia làm 6 phần:
- Phần 1 (đoạn văn đầu): Giới thiệu về ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến – vấn đề nghị luận của bài viết.
- Phần 2: Giới thiệu bài Thu điếu (trích nguyên văn bài thơ).
- Phần 3: Phân tích, bình vẻ đẹp bài Thu ẩm.
- Phần 4: Phân tích, bình vẻ đẹp bài Thu vịnh.
- Phần 5: Phân tích, bình vẻ đẹp bài Thu điếu.
- Phần 6: Đánh giá khái quát về ba bài thơ thu.
III. Tri thức ngữ văn – Nghị luận văn học
Trước khi đi vào phân tích, các em cần nắm một số khái niệm quan trọng:
- Luận đề: Vấn đề chính được đặt ra để bàn luận trong toàn bài viết.
- Luận điểm: Ý kiến, quan điểm cụ thể của người viết nhằm làm sáng tỏ luận đề. Mỗi bài viết có thể có nhiều luận điểm.
- Lí lẽ: Những điều được nêu ra một cách có căn cứ, hợp lô-gíc để làm rõ tính đúng đắn của luận điểm. Lí lẽ chỉ có sức thuyết phục khi căn cứ trên cơ sở tri thức văn học chuẩn xác.
- Bằng chứng: Các dẫn chứng cụ thể (câu văn, đoạn văn, dòng thơ, chi tiết, hình ảnh…) được dẫn từ tác phẩm để làm sáng tỏ, tăng sức thuyết phục cho bài viết. Bằng chứng có thể được trích nguyên văn hoặc diễn giải lại.
Lí lẽ và bằng chứng là cơ sở cho luận điểm. Không có lí lẽ và bằng chứng thuyết phục thì luận điểm không thể đứng vững.
IV. Phân tích chi tiết văn bản
1. Phần giới thiệu vấn đề
Mở đầu bài viết, Xuân Diệu giới thiệu vấn đề một cách rõ ràng, ngắn gọn và hàm súc:
- Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm.
- Trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, “nức danh nhất” là ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh.
- Ba bài thơ ấy được nhớ, thuộc, truyền tụng vì là “ba bài thơ hay và điển hình nhất cho mùa thu của Việt Nam, ở miền Bắc nước ta, chứ không ở nước nào khác”.
Cách giới thiệu vấn đề rất ấn tượng: từ ngữ chọn lọc (“nổi tiếng nhất”, “nức danh nhất”), câu văn dẫn dắt tự nhiên từ khái quát đến cụ thể. Xuân Diệu không chỉ giới thiệu đối tượng nghị luận mà còn bộc lộ ngay thái độ đánh giá rất cao ba bài thơ thu và tài năng của Nguyễn Khuyến.
Tiếp đó, tác giả nhấn mạnh: ba bài thơ thu được hàng vạn người đọc thuộc, trong khi các bài thu khác của các tác giả khác thì không – bởi thơ thu của Nguyễn Khuyến “rất là đất nước nhà mình, có thật, rất sống, chứ không theo ước lệ như ở trong văn chương sách vở”. Đây chính là luận đề xuyên suốt bài viết, thể hiện quan điểm đánh giá riêng dưới góc nhìn của một nhà phê bình văn học – nghệ sĩ.
2. Phân tích, bình vẻ đẹp bài Thu ẩm
Luận điểm: Thu ẩm không còn những ước lệ văn hoa sang trọng (rèm châu, lầu ngọc, chén vàng) mà bình dân, “tiến lên hiện thực rồi”. Bài thơ hay trong cái thực của nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Đồng thời, Thu ẩm không chỉ nói trong một thời điểm mà là “tổng hợp nhiều thời điểm, khái niệm, khái quát về cảnh thu”.
Để chứng minh luận điểm này, Xuân Diệu đưa ra lí lẽ và bằng chứng rất chặt chẽ, tỉ mỉ:
Thứ nhất, tác giả phân tích câu thơ “Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè” và lập luận rằng phải là “đêm sâu” mới hay, mới khiến ngõ thật tối, đom đóm mới lập loè. Ông còn so sánh với bản chép “đêm khuya” để chỉ ra rằng “đêm khuya” chỉ bao hàm ý muộn và vắng, không bao hàm ý tối, không đi với đom đóm một cách tự nhiên. Cách phân tích từng chữ, từng từ cho thấy sự tỉ mỉ và am hiểu sâu sắc của người viết.
Thứ hai, tác giả chỉ ra rằng nếu hiểu bài thơ chỉ là cảnh một đêm trăng thì sẽ “tù túng và thiếu lô-gíc”, bởi “Ngõ tối đêm sâu” mâu thuẫn với “Làn ao lóng lánh bóng trăng loe”. Mặt khác, “Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt” là điển hình cho buổi chiều quê – khói bếp nhà ai đã nấu cơm chiều, gặp hơi nước nhiều trong không khí thì lan dài là là quấn quýt lấy vừa tầm lưng giậu. Và “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt” chắc hẳn không phải trời một đêm trăng mà phải là trời một buổi chiều. Để tăng sức thuyết phục, Xuân Diệu còn dẫn hai câu thơ chữ Hán của chính Nguyễn Khuyến: “Chồi liễu rủ lá xanh, có ánh mặt trời xuyên qua / Giậu tre um màu biếc, làn khói chiều bao phủ” – cho thấy hình ảnh khói nhạt lưng giậu gắn liền với buổi chiều trong sáng tác của Nguyễn Khuyến.
Đặc biệt, Xuân Diệu dành những lời khen ngợi nhiệt thành cho câu thơ “Làn ao lóng lánh bóng trăng loe”. Tác giả phân tích rất tinh tế: bốn chữ “l” khá nặng (làn, lóng, lánh, loe) gợi chất vàng nước kim loại; ba dấu sắc khứ thanh (lóng, lánh, bóng) gợi ánh sáng bắn đi; từ “loe” với âm “oe” gợi cái gì tròn như cái ao. Từ đó, ông đánh giá đây là “một câu thơ hiếm có” về cảnh sắc Việt Nam.
Cách phân tích của Xuân Diệu ở đoạn này vừa cụ thể, chi tiết, chú trọng cắt nghĩa, lí giải, vừa bám sát ngôn ngữ văn bản. Mọi diễn giải, suy luận đều dựa trên cơ sở văn bản chứ không rơi vào bình tán. Đặc biệt, việc phân tích ngữ âm (thanh điệu, phụ âm, vần) cho thấy sự am hiểu sâu sắc về nghệ thuật ngôn ngữ thơ ca.
3. Phân tích, bình vẻ đẹp bài Thu vịnh
Luận điểm: “Trong ba bài thơ, bài này mang cái hồn của cảnh vật mùa thu hơn cả, cái thanh, cái trong, cái nhẹ, cái cao. Mang cái thần của cảnh mùa thu.”
Xuân Diệu khẳng định: cái hồn, cái thần của cảnh thu là nằm ở bầu trời, ở trên trời thu. “Trời thu rất xanh rất cao toả xuống cả cảnh vật.” Từ nhận định ấy, tác giả lần lượt phân tích từng hình ảnh trong bài thơ để chứng minh:
- Cây tre Việt Nam, những cây còn non, ít lá, thanh mảnh cao vót như cái cần câu in lên trời biếc, gió đẩy đưa khe khẽ – “thật là thanh đạm, hợp với hồn thu”.
- “Song thưa để mặc bóng trăng vào” cũng thuộc về trời cao.
- “Một tiếng trên không ngỗng nước nào” cũng nói về trời cao, gợi sự xa xăm, gợi cái bâng khuâng về không gian.
- “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái” gợi cái bâng khuâng man mác về thời gian.
- “Nước biếc trông như tầng khói phủ” gợi niềm bay bổng nhẹ nhàng và mơ hồ như hư như thực.
Tất cả các hình ảnh đều hướng lên cao, hướng ra xa, tạo nên một khung cảnh mùa thu thanh thoát, trong trẻo, nhẹ nhàng. Cả khung cảnh ấy dẫn đến ý hai câu kết mà Xuân Diệu diễn giải: “Sao ta còn bị buộc chân ở đây, sa lầy trong vòng danh lợi ố bẩn phi nghĩa này? Sao ta chưa trả mũ từ quan quy khứ như Đào Uyên Minh, cho nhẹ nhõm trong sáng?”
Cách phân tích bài Thu vịnh cho thấy Xuân Diệu sử dụng linh hoạt phương pháp phân tích gắn với tưởng tượng, liên tưởng. Bằng tâm hồn nhạy cảm của một nhà thơ, ông không chỉ giải thích nghĩa của từng hình ảnh mà còn giúp người đọc cảm nhận được cái “hồn”, cái “thần” vô hình ẩn sau ngôn từ. Đồng thời, ông còn dẫn gián tiếp ý thơ (diễn giải hai câu kết) thay vì chỉ trích dẫn nguyên văn – một cách nêu bằng chứng linh hoạt và hiệu quả.
4. Phân tích, bình vẻ đẹp bài Thu điếu
Luận điểm: “Bài Thu vịnh có thần hơn hết, nhưng ta vẫn phải nhận bài Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam (ở Bắc Bộ).”
Đây là luận điểm quan trọng nhất trong bài viết. Xuân Diệu khẳng định Thu điếu tuy không “có thần” bằng Thu vịnh nhưng lại “điển hình” hơn cả cho mùa thu Việt Nam. Để chứng minh, tác giả triển khai lí lẽ và bằng chứng rất thuyết phục:
Về tính điển hình của cảnh sắc:
Xuân Diệu mời người đọc “về thăm Vườn Bùi chốn cũ” – xứ Vườn Bùi, vùng Trung Lương nằm trong xã Yên Đổ cũ – để hiểu rõ bài Thu điếu. Cả huyện Bình Lục là xứ đồng chiêm rất trũng, nên “lắm ao” lắm. Nhiều ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà “bé tẻo teo”. Sóng biếc gợn rất nhẹ, một chiếc lá vàng rụng theo gió, bay bay xoay xoay rồi rơi xuống xa xa một cách khẽ khàng. Khung ao tuy hẹp nhưng không thiếu không gian: “Nhìn lên: trời thu xanh cao đám mây đọng lơ lửng; trông quanh: các lối đi trong làng hai bên tre biếc mọc sầm uất, chạy ngoắt ngoéo cho đến lúc tưởng như tre đã kín lại; mọi người ra đồng làm, cho nên làng vắng teo.”
Ở đây, Xuân Diệu sử dụng phương pháp phân tích gắn với liên hệ thực tế – ông liên hệ trực tiếp đến địa lí, cảnh vật vùng quê hương Nguyễn Khuyến để giúp người đọc hiểu vì sao bài thơ lại “điển hình” cho mùa thu đồng bằng Bắc Bộ. Cảnh trong thơ không phải ước lệ sách vở mà lấy từ chính hiện thực nông thôn miền Bắc.
Về cái thú vị của nghệ thuật:
Xuân Diệu chỉ ra ba cái thú vị chính của Thu điếu:
Thứ nhất là “các điệu xanh”: xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo – và “có một màu vàng đâm ngang” của chiếc lá thu rơi. Sự kết hợp giữa gam màu xanh chủ đạo với một điểm nhấn vàng tạo nên bức tranh thu hài hoà, tinh tế, rất đặc trưng cho mùa thu Bắc Bộ (khác hẳn mùa thu sắc vàng, sắc đỏ trong thơ Đường, thơ Tống Trung Quốc).
Thứ hai là “những cử động”: chiếc thuyền con lâu lâu mới nhích, sóng gợn tí, lá đưa vèo, tầng mây lửng, ngõ trúc quanh, chiếc cần buông, con cá động. Tất cả đều là những cử động rất nhẹ, rất khẽ, gợi không gian yên tĩnh, thanh bình đặc trưng của làng quê.
Thứ ba là “các vần thơ”: không phải chỉ giỏi vì là tử vận (vần hiểm hóc) mà chính hay vì kết hợp với từ, với nghĩa chữ, đến một cách thoải mái đúng chỗ, do “một nhà nghệ sĩ cao tay”. Cả bài thơ không non ép một chữ nào.
Xuân Diệu đặc biệt ca ngợi hai câu 3–4:
“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí” đối với “Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo”
Tác giả nhận xét: “thật tài tình; nhà thơ đã tìm được cái tốc độ bay của lá, vèo, để tương xứng với cái mức độ gợn của sóng: tí.” Cách phân tích này cho thấy Xuân Diệu không chỉ cảm nhận vẻ đẹp chung của bài thơ mà còn phát hiện ra sự tinh tế trong từng con chữ, từng phép đối, từng nhịp điệu – thể hiện con mắt tinh tường của nhà phê bình bậc thầy.
Cuối cùng, tác giả còn so sánh, liên hệ câu thơ “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” với câu thơ thời Lê Hồng Đức: “Trời muôn trượng thắm làu làu sạch” – để cho thấy quá trình ngôn ngữ thơ đã tiến bộ như thế nào, từ “vất vả nặng nề” đến “trong sáng nhẹ nhàng, như không một trở lực nào níu được sự diễn đạt nữa”. Từ đó, ông rút ra nhận xét sâu sắc: “những câu thơ thoải mái tự nhiên là kết quả của một sự khổ luyện, khổ luyện qua những thời đại, hoặc là khổ luyện trong một người”.
5. Cách kết thúc vấn đề
Phần kết, Xuân Diệu đưa ra nhận định khái quát: “Ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, nhìn gộp chung lại, là thành công tốt đẹp của quá trình dân tộc hoá nội dung mùa thu cho thật là thu Việt Nam, trên đất nước ta, và dân tộc hoá hình thức lời thơ, câu thơ cho thật là Nôm, là Việt Nam.”
Đây là câu văn đánh giá có sức nặng, ngắn gọn nhưng hàm súc, khái quát được toàn bộ vấn đề đã phân tích trong bài:
- “Dân tộc hoá nội dung mùa thu” nghĩa là về phương diện nội dung, chùm thơ thu đã thể hiện được vẻ đẹp của quê hương làng cảnh Việt Nam, vẻ đẹp của đồng bằng Bắc Bộ trên đất nước ta, chứ không phải ở một quốc gia nào khác. Phong cảnh mùa thu hiện lên thật chân thực: “năm gian nhà cỏ”, “ngõ tối đêm sâu”, ở “các điệu xanh” chứ không phải sắc vàng, sắc đỏ như mùa thu trong thơ Đường, thơ Tống của Trung Quốc.
- “Dân tộc hoá hình thức lời thơ” nghĩa là tác giả đã sử dụng “hình thức lời thơ, câu thơ cho thật là Nôm, là Việt Nam” – nhiều hình ảnh giản dị, gần gũi, dễ hiểu, ngôn ngữ trong sáng tự nhiên.
Cần hiểu rằng, thời trung đại, văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá, văn học Trung Hoa. Viết về mùa thu, không ít nhà thơ sử dụng thi liệu, hình ảnh ước lệ tượng trưng, khiến mùa thu trong thơ mang đặc trưng của mùa thu phương Bắc chứ không giống quê hương làng cảnh Việt Nam. Những vần thơ thu mang dấu ấn dân tộc vẫn là một khoảng trống trên thi đàn, và Nguyễn Khuyến đã góp phần lấp đầy khoảng trống ấy. Đó là thành công lớn, đóng góp lớn lao của Nguyễn Khuyến mà Xuân Diệu đánh giá rất cao.
6. Cách nêu và phân tích bằng chứng của Xuân Diệu
Trong văn bản này, Xuân Diệu sử dụng linh hoạt nhiều cách thức nêu bằng chứng khác nhau:
- Trích dẫn nguyên văn bài thơ, câu thơ, cụm từ, từ (ví dụ: trích nguyên văn cả ba bài Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh).
- Dẫn gián tiếp ý thơ (ví dụ: đoạn diễn giải ý hai câu kết trong bài Thu vịnh).
- Dẫn các hình ảnh thơ (ví dụ: đoạn dẫn các hình ảnh trong bài Thu điếu như “các điệu xanh”, “những cử động”).
Cách phân tích bằng chứng cũng rất đa dạng và thuyết phục:
- Phân tích cụ thể, chi tiết; chú trọng cắt nghĩa, lí giải: Mỗi bằng chứng đưa ra đều được phân tích kỹ lưỡng, giải thích rõ ràng tại sao lại hay, tại sao lại đúng. Ví dụ: đoạn phân tích vì sao Thu ẩm là bài thơ tổng hợp nhiều thời điểm chứ không phải chỉ một đêm trăng.
- Phân tích bám sát ngôn ngữ văn bản: Mọi diễn giải, suy luận, giảng bình đều dựa trên cơ sở văn bản chứ không rơi vào bình tán. Điển hình là những đoạn phân tích vẻ đẹp ngôn ngữ (thanh điệu, phụ âm, vần) trong câu “Làn ao lóng lánh bóng trăng loe”.
- Phân tích gắn với tưởng tượng, liên tưởng: Bằng sự liên tưởng tinh tế của một nhà thơ, Xuân Diệu giúp người đọc hình dung cảnh vật: một chiếc lá vàng rụng theo gió, bay bay xoay xoay rồi rơi xuống xa xa một cách khẽ khàng; khói bếp gặp hơi nước thì lan dài là là quấn quýt lấy vừa tầm lưng giậu…
- Phân tích gắn với so sánh, liên hệ: Tác giả liên hệ đến những câu thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến, liên hệ câu thơ thời Lê Hồng Đức để tăng tính thuyết phục cho lí lẽ của mình.
Tất cả các luận điểm, lí lẽ, bằng chứng trong bài đều tập trung hướng đến làm sáng tỏ luận đề. Vẻ đẹp chung và vẻ đẹp riêng của ba bài thơ thu chính là sự cụ thể hoá luận đề về vẻ đẹp làng cảnh Việt Nam trong thơ Nguyễn Khuyến.
V. Tổng kết
1. Nghệ thuật
- Cách mở đầu, dẫn dắt vấn đề tự nhiên, hợp lí, ngắn gọn mà hàm súc.
- Cách tổ chức luận điểm chặt chẽ, logic; sử dụng lí lẽ sắc bén, bằng chứng phong phú và thuyết phục.
- Ngôn ngữ giàu hình ảnh, chọn lọc từ ngữ tinh tế. Lời văn có sự xen kẽ của yếu tố biểu cảm, khiến văn bản giàu cảm xúc, không khô khan.
- Giọng văn linh hoạt: Khi thì giảng giải, cắt nghĩa tỉ mỉ; lúc lại tưởng tượng, liên tưởng bay bổng; có khi mang tính đối thoại, tranh biện; có khi lại say sưa, chân thành, tràn đầy tình cảm và niềm tự hào với di sản văn học dân tộc.
- Cách nêu và phân tích bằng chứng đa dạng: trích dẫn nguyên văn, dẫn gián tiếp, phân tích bám sát văn bản, kết hợp tưởng tượng – liên tưởng – so sánh – liên hệ.
2. Nội dung
Xuân Diệu đánh giá cao ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến ở chỗ: các bài thơ này viết về cảnh sắc mùa thu Việt Nam vừa nên thơ vừa chân thực, làm nổi bật vẻ đẹp của mùa thu thôn quê đồng bằng Bắc Bộ. Nguyễn Khuyến đã thành công trong việc “dân tộc hoá nội dung mùa thu” và “dân tộc hoá hình thức lời thơ” – đưa mùa thu Việt Nam vào thơ ca một cách tự nhiên, giản dị, đẹp đẽ, không vay mượn ước lệ sách vở.
3. Ý nghĩa
- Văn bản thể hiện góc nhìn riêng, độc đáo của Xuân Diệu – một nhà phê bình văn học tài năng, tinh tế.
- Nhắc nhở mỗi người về giá trị lớn lao của văn chương và cần biết trân trọng nền văn học dân tộc.
- Bài nghị luận là mẫu mực để học tập cách viết bài nghị luận văn học: cách đặt vấn đề, cách triển khai luận điểm, cách nêu và phân tích bằng chứng.
VI. Sơ đồ tư duy bài “Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam”
NHÀ THƠ CỦA QUÊ HƯƠNG LÀNG CẢNH VIỆT NAM – Xuân Diệu
│
├── 1. TÁC GIẢ
│ ├── Xuân Diệu (1916–1985), quê Hà Tĩnh
│ ├── Nhà thơ tiêu biểu của thơ ca hiện đại Việt Nam
│ └── Nhà phê bình văn học tài năng, tinh tế
│
├── 2. TÁC PHẨM
│ ├── Xuất xứ: trích Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập II (1982)
│ ├── Thể loại: Phê bình văn học (nghị luận văn học)
│ ├── PTBĐ: Nghị luận
│ ├── Luận đề: Vẻ đẹp mùa thu thôn quê VN qua 3 bài thơ thu của NK
│ └── Bố cục: 6 phần
│ ├── Giới thiệu vấn đề
│ ├── Giới thiệu Thu điếu
│ ├── Phân tích Thu ẩm
│ ├── Phân tích Thu vịnh
│ ├── Phân tích Thu điếu
│ └── Đánh giá khái quát
│
├── 3. GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ
│ ├── NK nổi tiếng nhất về thơ Nôm
│ ├── Nức danh nhất: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh
│ ├── Ba bài thơ hay và điển hình nhất cho mùa thu VN
│ └── Cách giới thiệu: rõ ràng, ngắn gọn, hàm súc
│
├── 4. TRIỂN KHAI VẤN ĐỀ
│ │
│ ├── a) THU ẨM
│ │ ├── Luận điểm: bình dân, hay trong cái thực nông thôn Bắc Bộ
│ │ ├── Lí lẽ: bài thơ tổng hợp nhiều thời điểm, không chỉ một đêm trăng
│ │ ├── Bằng chứng: phân tích "đêm sâu", "khói nhạt lưng giậu",
│ │ │ "da trời xanh ngắt" → buổi chiều, không phải đêm trăng
│ │ ├── Dẫn thơ chữ Hán của NK để chứng minh
│ │ └── Ca ngợi câu "Làn ao lóng lánh bóng trăng loe" → câu thơ hiếm có
│ │
│ ├── b) THU VỊNH
│ │ ├── Luận điểm: mang cái hồn, cái thần cảnh thu hơn cả
│ │ ├── Lí lẽ: cái hồn thu nằm ở bầu trời
│ │ ├── Bằng chứng: cần trúc in lên trời biếc, bóng trăng vào song thưa,
│ │ │ tiếng ngỗng trên không, hoa năm ngoái, nước biếc như khói phủ
│ │ └── Diễn giải ý hai câu kết → muốn từ quan, giữ tiết thao trong sạch
│ │
│ ├── c) THU ĐIẾU
│ │ ├── Luận điểm: điển hình hơn cả cho mùa thu làng cảnh VN
│ │ ├── Lí lẽ: Bình Lục nhiều ao → ao nhỏ → thuyền bé tẻo teo
│ │ ├── Cái thú vị:
│ │ │ ├── "Các điệu xanh" + một màu vàng lá thu
│ │ │ ├── "Những cử động" rất nhẹ, rất khẽ
│ │ │ └── "Các vần thơ" thoải mái, tự nhiên, không non ép
│ │ ├── Ca ngợi cặp đối: "gợn tí" – "đưa vèo" → thật tài tình
│ │ └── So sánh ngôn ngữ thời Lê Hồng Đức với NK
│ │
│ └── CÁCH NÊU BẰNG CHỨNG
│ ├── Trích dẫn nguyên văn thơ, câu thơ, cụm từ
│ ├── Dẫn gián tiếp ý thơ
│ ├── Dẫn hình ảnh thơ
│ ├── Phân tích bám sát ngôn ngữ văn bản
│ ├── Phân tích gắn tưởng tượng, liên tưởng
│ └── Phân tích gắn so sánh, liên hệ
│
├── 5. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
│ ├── "Dân tộc hoá nội dung mùa thu" → thu VN, không phải thu nước nào khác
│ ├── "Dân tộc hoá hình thức lời thơ" → Nôm, là Việt Nam
│ └── Đánh giá cao đóng góp lớn lao của Nguyễn Khuyến
│
├── 6. NGHỆ THUẬT
│ ├── Dẫn dắt tự nhiên, luận điểm chặt chẽ
│ ├── Ngôn ngữ giàu hình ảnh, xen yếu tố biểu cảm
│ ├── Giọng văn linh hoạt (giảng giải – tưởng tượng – tranh biện – say sưa)
│ └── Lí lẽ sắc bén, bằng chứng phong phú, phân tích thuyết phục
│
└── 7. NỘI DUNG – Ý NGHĨA
├── Ca ngợi vẻ đẹp 3 bài thơ thu của NK → mùa thu thôn quê VN
├── Thể hiện góc nhìn riêng của nhà phê bình XD
└── Bài học: trân trọng văn học dân tộc + học cách viết nghị luận VH

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
