Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- I. Xác định kiểu bài
- II. Yêu cầu của bài văn
- 1. Về hình thức
- 2. Về nội dung
- III. Quy trình viết bài
- Bước 1: Trước khi viết
- Bước 2: Viết bài
- Bước 3: Kiểm tra và chỉnh sửa
- IV. Phân tích bài viết tham khảo trong SGK
- V. Bài văn mẫu
- Bài mẫu 1: Chuyến tham quan cụm di tích cầu Hiền Lương – sông Bến Hải
- Bài mẫu 2: Chuyến tham quan Hoàng thành Thăng Long
Trong chương trình Ngữ văn 8, phần Viết của bài “Câu chuyện của lịch sử” yêu cầu các em viết bài văn kể lại một chuyến đi tham quan di tích lịch sử, văn hóa. Đây là kiểu bài tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm, giúp các em vừa rèn kỹ năng viết, vừa lưu giữ những trải nghiệm ý nghĩa. Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn các em cách viết đúng yêu cầu, kèm theo 2 bài văn mẫu để tham khảo.
I. Xác định kiểu bài
Kiểu bài: Văn tự sự kết hợp yếu tố thuyết minh, miêu tả và biểu cảm.
Đối tượng: Một chuyến đi tham quan di tích lịch sử, văn hóa mà em đã trực tiếp tham gia.
Mục đích: Chia sẻ những hiểu biết và trải nghiệm có được qua chuyến đi, thu hút sự quan tâm của người đọc về di tích lịch sử, văn hóa của dân tộc.
II. Yêu cầu của bài văn
1. Về hình thức
- Đảm bảo cấu trúc ba phần: mở bài – thân bài – kết bài.
- Kể theo ngôi thứ nhất (tôi/em).
- Bài văn gồm nhiều đoạn văn, giữa các đoạn liên kết chặt chẽ.
- Diễn đạt mạch lạc, trôi chảy, không mắc lỗi dùng từ, đặt câu.
2. Về nội dung
- Giới thiệu được lí do, mục đích của chuyến tham quan; bày tỏ cảm xúc của người viết.
- Kể được diễn biến chuyến tham quan: trên đường đi, trình tự những điểm đến thăm, những hoạt động chính.
- Nêu được ấn tượng về đặc điểm nổi bật của di tích: phong cảnh, con người, công trình kiến trúc, hiện vật…
- Thể hiện được cảm xúc, suy nghĩ về chuyến đi.
- Sử dụng được yếu tố miêu tả, biểu cảm trong bài viết.
III. Quy trình viết bài
Bước 1: Trước khi viết
Lựa chọn đề tài: Liệt kê các chuyến tham quan di tích lịch sử, văn hóa mà em đã tham gia, chọn chuyến đi để lại ấn tượng sâu sắc nhất. Nên chọn chuyến đi mà em có nhiều cảm xúc, hiểu biết và kỷ niệm nhất.
Tìm ý bằng cách trả lời các câu hỏi:
- Đó là chuyến tham quan di tích nào? Do ai tổ chức? Mục đích là gì?
- Chuyến đi diễn ra như thế nào? (trên đường đi, khi đến nơi, các hoạt động chính)
- Khung cảnh di tích có gì nổi bật? (thiên nhiên, kiến trúc, hiện vật…)
- Em có cảm xúc, suy nghĩ gì về chuyến đi?
Lập dàn ý:
- Mở bài: Giới thiệu khái quát về chuyến tham quan (thời gian, địa điểm, người tổ chức, mục đích). Bày tỏ cảm xúc khi được tham gia.
- Thân bài: Kể lại cụ thể diễn biến chuyến tham quan theo trình tự thời gian hoặc không gian. Thuyết minh, miêu tả về đặc điểm nổi bật của di tích. Kết hợp nêu cảm xúc, suy nghĩ.
- Kết bài: Nêu cảm xúc, suy nghĩ chung về chuyến đi và ý nghĩa của nó.
Bước 2: Viết bài
Khi viết, em cần lưu ý:
- Bám sát dàn ý, sắp xếp sự việc theo trình tự thời gian và không gian cụ thể.
- Kết hợp giữa kể hoạt động với miêu tả đặc điểm di tích và thể hiện cảm xúc cá nhân.
- Lựa chọn những hoạt động tiêu biểu, đặc điểm ấn tượng nhất để kể – không kể lan man dài dòng.
- Các thông tin về di tích cần chính xác.
- Cảm xúc thể hiện cần chân thành, gắn liền với đặc điểm di tích, tránh viết chung chung, sáo rỗng.
Bước 3: Kiểm tra và chỉnh sửa
Sau khi viết xong, đối chiếu bài viết với bảng kiểm sau:
| Yêu cầu | Đạt | Chưa đạt |
|---|---|---|
| Đảm bảo kết cấu ba phần, các đoạn văn liên kết chặt chẽ | ||
| Chính tả và diễn đạt đúng, mạch lạc | ||
| Nội dung đúng yêu cầu: kể về chuyến tham quan di tích lịch sử, văn hóa | ||
| Diễn biến buổi tham quan đầy đủ, theo trình tự thời gian hoặc không gian | ||
| Sử dụng yếu tố miêu tả, biểu cảm làm nổi bật đặc điểm di tích | ||
| Nêu được suy nghĩ, ấn tượng của người viết |
IV. Phân tích bài viết tham khảo trong SGK
Bài viết tham khảo trong sách giáo khoa kể về chuyến tham quan khu lưu niệm Nguyễn Du. Qua phân tích, ta rút ra những điểm đáng học hỏi:
Mở bài (đoạn đầu): Giới thiệu thời gian, địa điểm tham quan, mục đích chuyến đi (giúp học sinh yêu mến và tự hào về địa chỉ văn hóa quan trọng) và cảm xúc háo hức của người viết.
Thân bài (8 đoạn văn): Các sự việc được kể theo trình tự thời gian và không gian rõ ràng – từ lúc lên xe xuất phát, đến khi đặt chân vào khu di tích, tham quan nhà trưng bày, khu vườn, nhà thờ Nguyễn Du, và cuối cùng là thăm mộ đại thi hào. Người viết kết hợp nhuần nhuyễn giữa kể chuyện với miêu tả (bức tượng “tay cầm bút lông, nét mặt suy tư”; khu vườn “mênh mông, theo những lối nhỏ như ô bàn cờ, lát gạch đỏ”) và biểu cảm (“cảm thấy thật gần gũi”, “tôi rất thích hai bức tranh”, “độc đáo hơn cả có lẽ là…”). Yếu tố miêu tả giúp không gian, sự vật trở nên sinh động, dễ hình dung. Yếu tố biểu cảm tạo chiều sâu cảm xúc, thể hiện thái độ của người viết.
Kết bài (đoạn cuối): Nêu cảm xúc trầm lắng trên đường về, ấn tượng sâu đậm về chuyến đi: “những cảnh vật được ngắm nhìn hôm nay bỗng lại hiện ra rõ mồn một trong tâm trí tôi như một cuốn phim quay chậm”.
Bài học rút ra:
- Bố cục ba phần rõ ràng, mỗi phần thực hiện đúng nhiệm vụ.
- Thuật lại theo trình tự thời gian và không gian.
- Sử dụng ngôi thứ nhất để chia sẻ cảm xúc.
- Kết hợp miêu tả và biểu cảm hỗ trợ cho việc kể chuyện.
V. Bài văn mẫu
Bài mẫu 1: Chuyến tham quan cụm di tích cầu Hiền Lương – sông Bến Hải
Nhân dịp kỷ niệm ngày thống nhất đất nước 30/4, nhà trường tổ chức cho học sinh toàn trường một chuyến tham quan đặc biệt: đến thăm cụm di tích cầu Hiền Lương – sông Bến Hải tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Mục đích của chuyến đi là giáo dục truyền thống yêu nước, giúp chúng em hiểu thêm về nỗi đau chia cắt đất nước và khát vọng thống nhất non sông của cha ông. Từ khi nghe thông báo, em đã háo hức, mong chờ được tận mắt nhìn thấy cây cầu lịch sử mà em chỉ mới biết qua sách vở và phim ảnh.
Sáng sớm hôm ấy, hai chiếc xe khách chở hơn tám mươi học sinh khối 8 xuất phát từ sân trường. Trên xe, anh hướng dẫn viên giới thiệu những thông tin khái quát về cầu Hiền Lương và sông Bến Hải – nơi từng là giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt hai miền Nam Bắc suốt hơn hai mươi năm (1954–1975). Anh còn tổ chức cho chúng em thi hát các bài hát cách mạng, không khí trên xe trở nên sôi nổi và vui nhộn.
Sau hơn hai giờ đồng hồ, xe dừng trước khu di tích. Ấn tượng đầu tiên là một không gian rộng rãi, thoáng đãng với bầu trời xanh trong và dòng sông Bến Hải hiền hòa chảy giữa hai bờ xanh ngắt. Khó có thể tưởng tượng nơi đây từng là ranh giới đau thương nhất trong lịch sử dân tộc.
Điểm đến đầu tiên là cột cờ giới tuyến bên bờ Bắc sông Bến Hải. Toàn đoàn làm lễ chào cờ thiêng liêng dưới chân cột cờ cao vút. Cô hướng dẫn viên khu di tích kể cho chúng em nghe về cuộc “chọi cờ” đầy căng thẳng giữa hai bờ trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Phía ta liên tục dựng cột cờ cao hơn, treo lá cờ đỏ sao vàng lớn hơn để khẳng định chủ quyền và ý chí thống nhất. Nhìn lá cờ tung bay trên nền trời xanh bao la, em cảm thấy tự hào và trân quý vô cùng cuộc sống hòa bình hôm nay.
Tiếp đó, đoàn đến thăm cột loa phóng thanh và nghe câu chuyện về cuộc “đấu loa” giữa hai bên giới tuyến. Phía ta mở loa phát những bài hát cách mạng, đọc thư của đồng bào miền Bắc gửi vào miền Nam, còn phía bên kia tìm mọi cách để át tiếng loa. Cuộc đấu tranh diễn ra không bằng súng đạn mà bằng âm thanh, bằng ý chí và tình cảm – thật độc đáo và xúc động.
Chúng em dừng chân trước tượng đài chiến sĩ công an bảo vệ giới tuyến, lắng nghe về những chiến công thầm lặng của các chiến sĩ công an trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh trật tự nơi đây.
Rồi đoàn được dẫn đi tham quan cầu Hiền Lương. Cây cầu dài 178 mét bắc ngang qua sông Bến Hải, được sơn hai màu: nửa phía Bắc sơn màu xanh, nửa phía Nam sơn màu vàng – nhân chứng thầm lặng cho nỗi đau chia cắt hai miền. Em bước từng bước chân trên cây cầu lịch sử, lòng bồi hồi khi nghe kể về việc sơn cầu, bảo vệ cầu của nhân dân và chiến sĩ ta suốt hai mươi năm trời. Mỗi tấm ván cầu dưới chân như chứa đựng bao câu chuyện, bao nỗi niềm của những con người đã sống và chiến đấu nơi đây.
Sang bờ Nam, chúng em đứng trước tượng đài “Khát vọng thống nhất” – tạc hình người phụ nữ bế đứa con nhỏ đứng hướng về phía Bắc, đôi mắt đau đáu mong ngóng ngày đoàn tụ. Bức tượng giản dị mà lay động lòng người. Nhiều bạn trong đoàn không giấu được xúc động, lặng im hồi lâu trước bức tượng.
Trên đường về, không khí trên xe trầm lắng hơn lúc đi. Chuyến tham quan kết thúc nhưng những hình ảnh, câu chuyện về cầu Hiền Lương – sông Bến Hải vẫn in đậm trong tâm trí em. Em hiểu thêm về những trang sử đau thương mà hào hùng của dân tộc, càng khâm phục sự dũng cảm, thông minh và ý chí khát vọng thống nhất non sông của các thế hệ cha ông. Và em tự nhủ rằng thế hệ trẻ hôm nay phải sống xứng đáng với những hy sinh to lớn ấy.
Bài mẫu 2: Chuyến tham quan Hoàng thành Thăng Long
Đầu tháng mười một năm ngoái, nhà trường tổ chức cho học sinh khối 8 một chuyến tham quan Hoàng thành Thăng Long, nằm ngay giữa trung tâm thủ đô Hà Nội. Cô giáo chủ nhiệm cho biết mục đích của chuyến đi là giúp chúng em tìm hiểu về kinh đô ngàn năm tuổi, nơi lưu giữ những dấu tích quan trọng nhất của lịch sử dân tộc. Em vô cùng phấn khởi vì tuy sống ở Hà Nội nhưng đây là lần đầu tiên em được đến tham quan khu di sản thế giới này.
Xe khách đưa chúng em đến cổng chính khu di tích trên đường Hoàng Diệu. Bước qua cổng, em đã thấy choáng ngợp trước không gian rộng lớn, thoáng đãng với những hàng cây cổ thụ tỏa bóng mát rượi. Không khí nơi đây yên tĩnh, trầm mặc, khác hẳn với sự ồn ào, náo nhiệt của phố phường bên ngoài.
Điểm đến đầu tiên là Đoan Môn – cổng chính dẫn vào Hoàng thành. Đoan Môn là một công trình kiến trúc bằng đá và gạch, có năm cửa vòm cuốn, phần trên xây tường thành dày, uy nghi và cổ kính. Cô hướng dẫn viên giải thích rằng đây là cổng dành cho vua đi qua mỗi khi thiết triều, được xây dựng từ thời Lý và tu sửa qua nhiều triều đại. Đứng dưới vòm cổng đá mát lạnh, em như cảm nhận được hơi thở của lịch sử ngàn năm vọng lại.
Từ Đoan Môn, chúng em đi thẳng đến Điện Kính Thiên – nơi các vua thiết triều và cử hành các nghi lễ quan trọng nhất của quốc gia. Ngày nay, điện đã không còn, chỉ còn lại nền móng và đôi rồng đá bậc thềm. Đôi rồng đá được chạm khắc tinh xảo, thân uốn lượn mềm mại, đầu rồng ngẩng cao uy nghiêm – là hiện vật tiêu biểu của nghệ thuật điêu khắc thời Lê. Dù đã trải qua hàng trăm năm mưa nắng, đôi rồng đá vẫn giữ nguyên vẻ đẹp uy nghi, khiến em không khỏi cảm phục tài năng của những nghệ nhân xưa.
Ấn tượng nhất với em là khu trưng bày khảo cổ học dưới lòng đất. Nơi đây lưu giữ các tầng di tích chồng lên nhau qua nhiều triều đại: Lý, Trần, Lê, Nguyễn – mỗi tầng là một giai đoạn lịch sử. Qua lớp kính bảo vệ, em nhìn thấy nền móng cung điện, giếng nước cổ, mảnh gốm sứ, viên gạch có hoa văn tinh tế… Tất cả nằm yên lặng dưới lòng đất nhưng kể cho em nghe biết bao câu chuyện về cuộc sống của cha ông hàng nghìn năm trước. Cô hướng dẫn viên cho biết chính nhờ những phát hiện khảo cổ này mà Hoàng thành Thăng Long được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 2010.
Chúng em cũng được ghé thăm Cột cờ Hà Nội – công trình nổi tiếng được xây dựng dưới thời nhà Nguyễn. Cột cờ cao hơn ba mươi mét, gồm ba tầng đế và một thân trụ hình bát giác vươn thẳng lên trời. Đứng dưới chân cột cờ nhìn lên, em cảm nhận được sự hùng vĩ và trang nghiêm. Trên đỉnh, lá cờ đỏ sao vàng phấp phới trong gió, gợi niềm tự hào dân tộc.
Trước khi rời khu di tích, chúng em tập trung chụp ảnh lưu niệm trước Đoan Môn và bậc thềm rồng đá Điện Kính Thiên. Nhiều bạn tranh thủ mua những món quà lưu niệm nhỏ xinh ở cửa hàng gần cổng ra.
Trên đường về, em ngồi lặng ngắm nhìn phố phường Hà Nội qua cửa kính xe mà lòng bồi hồi. Chuyến tham quan Hoàng thành Thăng Long đã cho em hiểu rằng ngay dưới chân mình, ngay giữa lòng thủ đô hiện đại, là cả một kho tàng lịch sử ngàn năm đang được gìn giữ. Em thầm biết ơn những người đã dày công bảo tồn di sản quý giá này, và tự hứa sẽ trở lại đây thêm nhiều lần nữa để tìm hiểu sâu hơn về lịch sử dân tộc mình.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
