Bài 8: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)

Nhân dân Sài Gòn chào mừng Quân Giải phóng tiến vào thành phố (30-4-1975)

Bối cảnh lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Tình hình Việt Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ

Ngay sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Mỹ nhanh chóng thay chân Pháp, dựng lên chính quyền tay sai do Ngô Đình Diệm đứng đầu ở miền Nam Việt Nam. Âm mưu của Mỹ là chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á, nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc đang dâng cao ở khu vực này.

Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai nhiệm vụ cách mạng khác nhau. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó, miền Nam phải tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà.

Bối cảnh quốc tế

Trên thế giới, hệ thống xã hội chủ nghĩa ngày càng mở rộng và phát triển. Liên Xô cùng các nước xã hội chủ nghĩa tích cực ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Tuy nhiên, sự đối đầu gay gắt giữa hai phe – phe tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu và phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô làm trụ cột – mà đỉnh cao là Chiến tranh lạnh đã tác động rất lớn đến cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

Bức ảnh Nụ cười chiến thắng bên Thành cổ Quảng Trị (Đoàn Công Tính chụp)
Bức ảnh Nụ cười chiến thắng bên Thành cổ Quảng Trị (Đoàn Công Tính chụp)

Các giai đoạn phát triển chính của cuộc kháng chiến (1954 – 1975)

Giai đoạn 1954 – 1960

Ở miền Bắc

Nhân dân miền Bắc tập trung hoàn thành cải cách ruộng đất với khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, xóa bỏ giai cấp địa chủ phong kiến, giải phóng nông dân và đưa họ trở thành người làm chủ ở nông thôn.

Song song với đó, công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh được triển khai tích cực trong tất cả các ngành, lĩnh vực. Việc cải tạo quan hệ sản xuất và bước đầu phát triển kinh tế – xã hội đã tạo ra sự thay đổi căn bản cho miền Bắc, đặt nền móng cho giai đoạn phát triển tiếp theo cũng như thực hiện nghĩa vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến miền Nam.

Ở miền Nam

Quân dân miền Nam kiên cường đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm, đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, bảo vệ hòa bình, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng.

Tháng 1 năm 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 15 của Đảng Lao động Việt Nam đã khẳng định một chân lý quan trọng: ngoài con đường sử dụng bạo lực cách mạng, nhân dân miền Nam không còn con đường nào khác. Nghị quyết này như ngọn lửa thổi bùng lên phong trào Đồng khởi (1959 – 1960).

Phong trào Đồng khởi khởi đầu từ các cuộc nổi dậy của nhân dân Vĩnh Thạnh (Bình Định), Bác Ái (Ninh Thuận) vào tháng 2 năm 1959, tiếp đến là Trà Bồng (Quảng Ngãi) vào tháng 8 năm 1959, rồi lan rộng khắp miền Nam. Tiêu biểu nhất là cuộc Đồng khởi ở Bến Tre vào tháng 1 năm 1960.

Thắng lợi của phong trào Đồng khởi đã giáng đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới của Mỹ, làm lung lay tận gốc chính quyền Ngô Đình Diệm. Quan trọng hơn, thắng lợi này đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam, chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, mở ra vùng giải phóng rộng lớn.

Ngày 20 tháng 12 năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, thúc đẩy lực lượng vũ trang cách mạng phát triển mạnh mẽ.

Nhân dân Bến Tre biểu tình trong phong trào Đồng khởi (1960)

“Đội quân tóc dài” (bao gồm những người phụ nữ vừa làm ruộng vừa chiến đấu) ra đời từ phong trào Đồng khởi ở Bến Tre, do Nguyễn Thị Định lãnh đạo. Đội quân này đã được nhân rộng khắp miền Nam, trở thành một hiện tượng độc đáo của cuộc kháng chiến, làm rạng rỡ thêm truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang.

Giai đoạn 1961 – 1965

Bối cảnh chung

Giữa lúc cách mạng ở hai miền Nam – Bắc có những bước tiến quan trọng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9/1960) được tổ chức tại Hà Nội. Đại hội đã xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng cả nước, vai trò, vị trí của cách mạng từng miền và mối quan hệ giữa cách mạng hai miền: Cách mạng miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của cách mạng cả nước; cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam. Cách mạng hai miền có quan hệ mật thiết và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau.

Ở miền Bắc

Nhân dân miền Bắc bắt tay thực hiện Kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) với trọng tâm là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ cơ bản được đặt ra là ra sức phát triển công nghiệp, nông nghiệp, củng cố và tăng cường thành phần kinh tế quốc doanh, cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.

Những thành tựu đạt được đã làm thay đổi căn bản bộ mặt xã hội miền Bắc. Đồng thời, miền Bắc còn gánh vác nghĩa vụ hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Từ năm 1961 đến năm 1963, miền Bắc đã chi viện cho miền Nam khoảng 4 vạn cán bộ, chiến sĩ và khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, thuốc men.

Ở miền Nam: Chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961 – 1965)

“Chiến tranh đặc biệt” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, được tiến hành bằng lực lượng quân đội Sài Gòn dưới sự chỉ huy của “cố vấn” Mỹ, dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mỹ nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân ta. Âm mưu cơ bản là “dùng người Việt đánh người Việt”.

Mỹ đề ra kế hoạch Xta-lây – Tay-lo với nội dung chủ yếu là bình định miền Nam trong vòng 18 tháng. Mỹ tăng cường viện trợ cho chính quyền Ngô Đình Diệm, tiến hành dồn dân lập “ấp chiến lược”, sử dụng phổ biến các chiến thuật mới như “trực thăng vận”, “thiết xa vận”.

Trên mặt trận chính trị: Phong trào diễn ra sôi nổi, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của các tín đồ Phật giáo chống lại sự đàn áp của chính quyền Ngô Đình Diệm.

Trên mặt trận chống bình định: Nhân dân miền Nam đã làm phá sản “quốc sách” lập “ấp chiến lược” của Mỹ – chính quyền Ngô Đình Diệm, khiêng nhà về nơi ở cũ.

Trên mặt trận quân sự: Chiến thắng Ấp Bắc (Mỹ Tho, tháng 1 năm 1963) đã mở ra khả năng đánh bại chiến thuật “trực thăng vận, thiết xa vận”, chứng minh khả năng quân dân Việt Nam có thể đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Sau chiến thắng Ấp Bắc, một phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công” dấy lên khắp miền Nam.

Trong những năm 1964 – 1965, quân ta tiếp tục giành thắng lợi ở Bình Giã (Bà Rịa – Vũng Tàu), An Lão (Bình Định), Ba Gia (Quảng Ngãi), Đồng Xoài (Bình Phước), làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.

Quân dân miền Nam phá "ấp chiến lược" khiêng nhà về nơi ở cũ

Để đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, ngày 15 tháng 2 năm 1961, các lực lượng vũ trang cách mạng thống nhất thành Quân Giải phóng miền Nam.

Giai đoạn 1965 – 1968

Bối cảnh chung

Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965 – 1968) ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc. Nhân dân hai miền Nam – Bắc trực tiếp chiến đấu chống Mỹ.

Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” được bắt đầu từ giữa năm 1965, là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, được tiến hành bằng lực lượng quân đội Mỹ, quân đồng minh của Mỹ và quân đội Sài Gòn.

Ở miền Bắc

Sau khi dựng lên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” (tháng 8 năm 1964), Mỹ chính thức mở rộng chiến tranh bằng không quân và hải quân phá hoại miền Bắc lần thứ nhất (từ tháng 2 năm 1965).

Quân dân miền Bắc kịp thời chuyển mọi hoạt động sang thời chiến, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa tiếp tục phát triển kinh tế – xã hội và thực hiện nhiệm vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến miền Nam.

Trong hơn 4 năm, miền Bắc bắn rơi, phá hủy 3.243 máy bay, trong đó có 6 máy bay B52, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều phi công, bắn cháy và chìm 143 tàu chiến. Hơn 30 vạn cán bộ, chiến sĩ cùng hàng chục vạn tấn vũ khí, quân trang, quân dụng, lương thực, thực phẩm từ miền Bắc được chuyển vào miền Nam, tăng gấp 10 lần so với giai đoạn trước.

Ở miền Nam: Chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ”

Trên mặt trận chính trị: Với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, quần chúng đã phá vỡ thêm nhiều “ấp chiến lược”. Ở các thành thị, phong trào phản đối chiến tranh của quần chúng diễn ra rất sôi nổi. Vùng giải phóng được mở rộng, uy tín của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ngày càng được nâng cao.

Trên mặt trận quân sự: Thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, quân Mỹ vừa mới vào miền Nam đã cho mở ngay cuộc hành quân “tìm diệt” vào căn cứ của Quân Giải phóng ở Vạn Tường (Quảng Ngãi). Với ý chí “Quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”, quân dân miền Nam đã anh dũng chiến đấu và giành thắng lợi ở Vạn Tường (ngày 18 tháng 8 năm 1965), mở ra khả năng đánh thắng Mỹ trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ” về quân sự.

Tiếp đó, quân dân miền Nam tiếp tục đập tan cuộc phản công của quân Mỹ và đồng minh trong hai mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968: Bước vào đầu năm 1968 (Xuân Mậu Thân), quân dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, trọng tâm là ở các đô thị. Đây là sự kiện mở ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải “phi Mỹ hóa” chiến tranh xâm lược (tức thừa nhận thất bại của “Chiến tranh cục bộ”), chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đàm phán ở Pa-ri để bàn về chấm dứt chiến tranh.

Quân Giải phóng làm chủ đường Lê Lợi (Sài Gòn) trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968

Giai đoạn 1969 – 1973

Bối cảnh chung

Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 – 1973) ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai.

Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, được tiến hành bằng lực lượng quân đội Sài Gòn là chủ yếu, có sự phối hợp về hỏa lực, không quân, hậu cần của Mỹ và vẫn do “cố vấn” Mỹ chỉ huy. Triển khai chiến lược này, quân Mỹ và quân đồng minh rút dần khỏi chiến trường để giảm xương máu của quân Mỹ trên chiến trường, đồng thời tăng cường lực lượng cho quân đội Sài Gòn, mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương.

Ở miền Nam: Chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”

Ngày 6 tháng 6 năm 1969, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời. Đây là chính phủ hợp pháp của nhân dân miền Nam.

Trong những năm 1970 – 1972, nhân dân ba nước Đông Dương đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược về quân sự và chính trị.

Tháng 4 năm 1970, Hội nghị cấp cao ba nước Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia được tổ chức, biểu thị quyết tâm chống Mỹ.

Từ ngày 30 tháng 4 đến ngày 30 tháng 6 năm 1970, với sự phối hợp của quân dân Cam-pu-chia, quân đội Việt Nam đã đập tan cuộc hành quân xâm lược của 10 vạn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn sang đất Cam-pu-chia.

Trong hơn 1 tháng (từ tháng 2 đến tháng 3 năm 1971), quân dân Việt Nam có sự phối hợp của quân dân Lào đã giành thắng lợi trong chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, giữ vững hành lang chiến lược của cách mạng Đông Dương, trực tiếp mở ra thế tiến công mới cho cách mạng.

Từ tháng 3 năm 1972, quân đội Việt Nam mở cuộc Tiến công chiến lược vào Quảng Trị rồi phát triển rộng khắp chiến trường miền Nam, chọc thủng ba phòng tuyến của địch ở Quảng Trị, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 đã buộc Mỹ phải thừa nhận thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Ở miền Bắc

Quân dân miền Bắc tiến hành khôi phục và phát triển kinh tế – xã hội, tiếp tục làm nghĩa vụ hậu phương và đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai bằng không quân và hải quân của Mỹ (bắt đầu từ ngày 16 tháng 4 năm 1972).

Miền Bắc vẫn đảm bảo tiếp nhận hàng viện trợ từ bên ngoài và chi viện cho tiền tuyến miền Nam và cả chiến trường Lào, Cam-pu-chia.

Với tư thế luôn sẵn sàng chiến đấu, quân dân miền Bắc đã chủ động, kịp thời giáng trả ngay từ trận đầu cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai. Đặc biệt, quân dân miền Bắc đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố trong 12 ngày đêm (từ ngày 18 đến ngày 29 tháng 12 năm 1972). Thắng lợi này được coi như trận “Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải trở lại bàn hội nghị và ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (năm 1973).

Đại đội 4 pháo cao xạ bảo vệ bầu trời Hà Nội trong trận "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972

Trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, việc tiếp tế và chi viện thường xuyên cho miền Nam được thực hiện thông qua nhiều con đường: đường Hồ Chí Minh trên bộ (đường Trường Sơn), đường Hồ Chí Minh trên biển, đường xăng dầu để vận chuyển nhiên liệu, đường hàng không và đường chuyển ngân để chuyển tiền từ Bắc vào Nam.

Giai đoạn 1973 – 1975

Bối cảnh sau Hiệp định Pa-ri

Sau khi Hiệp định Pa-ri năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, Mỹ phải rút hết quân về nước, so sánh lực lượng thay đổi theo hướng có lợi cho cách mạng Việt Nam.

Ở miền Bắc

Nhân dân bắt tay khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế – xã hội, ra sức chi viện cho miền Nam.

Trong hai năm 1973 – 1974, miền Bắc chi viện cho các chiến trường miền Nam, Lào, Cam-pu-chia gần 20 vạn bộ đội, hàng vạn thanh niên xung phong, cán bộ chuyên môn.

Ở miền Nam

Mặc dù đã ký Hiệp định Pa-ri, Mỹ vẫn giữ lại hơn 2 vạn “cố vấn” quân sự, tiếp tục viện trợ quân sự, kinh tế cho chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn ngang nhiên phá hoại Hiệp định Pa-ri.

Tháng 7 năm 1973, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 nhấn mạnh: Trong bất cứ tình hình nào cũng phải tiếp tục con đường bạo lực cách mạng, phải nắm vững chiến lược tiến công, kiên quyết đấu tranh trên ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao.

Thực hiện nghị quyết của Đảng, quân dân miền Nam vừa kiên quyết đánh trả địch, vừa chủ động mở những cuộc tiến công, mở rộng vùng giải phóng.

Chiến dịch Đường 14 – Phước Long (cuối năm 1974, đầu năm 1975): Quân dân miền Nam đã giành thắng lợi trong chiến dịch này. Chiến thắng cùng những phản ứng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn sau đó cho thấy rõ về sự lớn mạnh, khả năng thắng lớn của quân ta, sự suy yếu và bất lực của quân đội Sài Gòn, về khả năng can thiệp bằng quân sự trở lại của Mỹ là rất hạn chế.

Bộ Chính trị họp Hội nghị mở rộng quyết định kế hoạch giải phóng miền Nam (1-1975)

Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

Từ tháng 3 năm 1975, quân dân miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, trải qua ba chiến dịch lớn:

Chiến dịch Thời gian Kết quả
Chiến dịch Tây Nguyên 10/3 – 24/3/1975 Giải phóng toàn bộ Tây Nguyên
Chiến dịch Huế – Đà Nẵng 26/3 – 29/3/1975 Giải phóng Huế (26/3), Đà Nẵng (29/3)
Chiến dịch Hồ Chí Minh 26/4 – 30/4/1975 Giải phóng Sài Gòn – Gia Định

Mệnh lệnh lịch sử: Ngày 7 tháng 4 năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh cho các cánh quân: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”.

Sau khi tiêu diệt căn cứ phòng thủ Phan Rang và Xuân Lộc, 5 giờ chiều ngày 26 tháng 4, năm cánh quân cùng lúc tiến vào trung tâm thành phố, đánh chiếm các cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn.

11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, báo hiệu sự toàn thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Nhân dân Sài Gòn chào mừng Quân Giải phóng tiến vào thành phố (30-4-1975)
Nhân dân Sài Gòn chào mừng Quân Giải phóng tiến vào thành phố (30-4-1975)

Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử

Nguyên nhân thắng lợi

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành thắng lợi do có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo. Đó là đường lối đồng thời tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, phát triển không ngừng nghệ thuật chiến tranh nhân dân, kết hợp đấu tranh quân sự – chính trị – ngoại giao, kết hợp một cách đúng đắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Nhân dân Việt Nam giàu lòng yêu nước, đoàn kết, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm tạo nên sức mạnh để chiến thắng. Hậu phương miền Bắc không ngừng lớn mạnh, đáp ứng kịp thời các yêu cầu của cuộc chiến đấu ở hai miền.

Cuộc kháng chiến thắng lợi còn do có sự phối hợp chiến đấu, đoàn kết giúp đỡ nhau chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Đông Dương; sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ to lớn của các lực lượng hòa bình, dân chủ trên thế giới, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa; phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới.

Trong những năm 1955 – 1975, Liên Xô viện trợ về kinh tế – kỹ thuật cho Việt Nam trị giá khoảng 2,1 tỉ rúp và nhiều vũ khí, phương tiện quân sự, phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện cho chiến trường miền Nam.

Ý nghĩa lịch sử

Đối với Việt Nam

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã kết thúc 21 năm chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược và 30 năm chiến tranh cách mạng, chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc trên đất nước Việt Nam.

Thắng lợi này đã kết thúc cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước, mở ra kỉ nguyên cả nước hòa bình, độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đối với quốc tế

Thắng lợi của nhân dân Việt Nam góp phần làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân mới trên thế giới.

Thắng lợi này cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc và cuộc đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội của nhân dân thế giới.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.

Được, tôi bám vào bài bạn gửi và viết lại 2 phần theo đúng format thống nhất.

Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng

Thời gian Sự kiện Ý nghĩa
Tháng 1 – 1959 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 15 của Đảng Lao động Việt Nam Khẳng định con đường sử dụng bạo lực cách mạng ở miền Nam, thổi bùng phong trào Đồng khởi
Tháng 2 – 1959 Nhân dân Vĩnh Thạnh (Bình Định), Bác Ái (Ninh Thuận) nổi dậy Khởi đầu phong trào Đồng khởi
Tháng 8 – 1959 Nhân dân Trà Bồng (Quảng Ngãi) nổi dậy Phong trào Đồng khởi lan rộng
Tháng 1 – 1960 Đồng khởi ở Bến Tre Cuộc Đồng khởi tiêu biểu nhất, “Đội quân tóc dài” ra đời
Năm 1959 – 1960 Phong trào Đồng khởi thắng lợi Chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, mở ra vùng giải phóng rộng lớn
Tháng 9 – 1960 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam tại Hà Nội Xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng cả nước, vai trò của cách mạng hai miền
Ngày 20 – 12 – 1960 Thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Thúc đẩy lực lượng vũ trang cách mạng phát triển mạnh mẽ
Năm 1961 – 1965 Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam “Dùng người Việt đánh người Việt”, kế hoạch Xta-lây – Tay-lo bình định miền Nam trong 18 tháng
Năm 1961 – 1965 Miền Bắc thực hiện Kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất Xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho miền Nam
Ngày 15 – 2 – 1961 Các lực lượng vũ trang cách mạng thống nhất thành Quân Giải phóng miền Nam Đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến
Tháng 1 – 1963 Chiến thắng Ấp Bắc (Mỹ Tho) Mở ra khả năng đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, dấy lên phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công”
Năm 1964 – 1965 Chiến thắng Bình Giã, An Lão, Ba Gia, Đồng Xoài Làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”
Tháng 8 – 1964 Mỹ dựng lên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” Tạo cớ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc
Tháng 2 – 1965 Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất Miền Bắc chuyển mọi hoạt động sang thời chiến
Năm 1965 – 1968 Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Quân Mỹ, quân đồng minh và quân đội Sài Gòn trực tiếp tham chiến
Ngày 18 – 8 – 1965 Chiến thắng Vạn Tường (Quảng Ngãi) Mở ra khả năng đánh thắng Mỹ trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ” về quân sự
Hai mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967 Quân dân miền Nam đập tan các cuộc phản công của quân Mỹ và đồng minh Tiếp tục giữ vững thế chủ động trên chiến trường
Xuân Mậu Thân 1968 Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân Bước ngoặt của kháng chiến; buộc Mỹ “phi Mỹ hóa” chiến tranh, chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đàm phán ở Pa-ri
Năm 1969 – 1973 Mỹ thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai Quân Sài Gòn là chủ yếu, có hỏa lực, không quân Mỹ hỗ trợ; mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương
Ngày 6 – 6 – 1969 Thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Chính phủ hợp pháp của nhân dân miền Nam
Tháng 4 – 1970 Hội nghị cấp cao ba nước Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia Biểu thị quyết tâm chống Mỹ của ba nước Đông Dương
Ngày 30 – 4 đến ngày 30 – 6 – 1970 Quân đội Việt Nam và quân dân Cam-pu-chia đập tan cuộc hành quân xâm lược của 10 vạn quân Mỹ và quân Sài Gòn sang Cam-pu-chia Củng cố liên minh chiến đấu Việt Nam – Cam-pu-chia
Tháng 2 đến tháng 3 – 1971 Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào Giữ vững hành lang chiến lược của cách mạng Đông Dương, mở ra thế tiến công mới
Tháng 3 – 1972 Cuộc Tiến công chiến lược 1972 (Quảng Trị, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ) Chọc thủng ba phòng tuyến của địch, buộc Mỹ thừa nhận thất bại của “Việt Nam hóa chiến tranh”
Ngày 16 – 4 – 1972 Mỹ bắt đầu chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai Miền Bắc chủ động, kịp thời giáng trả ngay từ trận đầu
Ngày 18 đến ngày 29 – 12 – 1972 Quân dân miền Bắc đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng Trận “Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ trở lại bàn đàm phán
Năm 1973 Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam Mỹ phải rút hết quân về nước, so sánh lực lượng thay đổi có lợi cho cách mạng
Tháng 7 – 1973 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 Nhấn mạnh tiếp tục con đường bạo lực cách mạng, đấu tranh trên ba mặt trận: quân sự – chính trị – ngoại giao
Cuối năm 1974 – đầu năm 1975 Chiến dịch Đường 14 – Phước Long Cho thấy sự lớn mạnh của quân ta, sự suy yếu của quân đội Sài Gòn, khả năng can thiệp trở lại của Mỹ rất hạn chế
Ngày 10 – 3 đến ngày 24 – 3 – 1975 Chiến dịch Tây Nguyên Giải phóng toàn bộ Tây Nguyên, mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975
Ngày 26 – 3 đến ngày 29 – 3 – 1975 Chiến dịch Huế – Đà Nẵng Giải phóng Huế (26/3) và Đà Nẵng (29/3)
Ngày 7 – 4 – 1975 Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra mệnh lệnh “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa…” Thúc đẩy các cánh quân tiến vào giải phóng miền Nam
Ngày 26 – 4 đến ngày 30 – 4 – 1975 Chiến dịch Hồ Chí Minh Giải phóng Sài Gòn – Gia Định
11 giờ 30 phút ngày 30 – 4 – 1975 Lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Sơ đồ tóm tắt bài học

Bối cảnh lịch sử

  • Tình hình Mỹ: thay chân Pháp, dựng chính quyền Ngô Đình Diệm
  • Âm mưu của Mỹ: chia cắt Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự ở Đông Nam Á
  • Việt Nam bị chia cắt hai miền: miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
  • Bối cảnh quốc tế: hệ thống xã hội chủ nghĩa mở rộng; Liên Xô ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc; Chiến tranh lạnh đối đầu hai phe

Giai đoạn 1954 – 1960

  • Miền Bắc: hoàn thành cải cách ruộng đất “Người cày có ruộng”; khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh; cải tạo quan hệ sản xuất
  • Miền Nam: đấu tranh chống Mỹ – Diệm đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ
  • Nghị quyết 15 (1/1959) khẳng định con đường bạo lực cách mạng
  • Phong trào Đồng khởi (1959 – 1960): Vĩnh Thạnh, Bác Ái (2/1959) → Trà Bồng (8/1959) → Bến Tre (1/1960)
  • Thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960)
  • Ý nghĩa: chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công

Giai đoạn 1961 – 1965

  • Đại hội III của Đảng (9/1960): xác định vai trò cách mạng hai miền
  • Miền Bắc: Kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất; chi viện khoảng 4 vạn cán bộ, chiến sĩ
  • Miền Nam chống “Chiến tranh đặc biệt”: “dùng người Việt đánh người Việt”, kế hoạch Xta-lây – Tay-lo, dồn dân lập “ấp chiến lược”, chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”
  • Thành lập Quân Giải phóng miền Nam (15/2/1961)
  • Thắng lợi tiêu biểu: Ấp Bắc (1/1963), Bình Giã, An Lão, Ba Gia, Đồng Xoài (1964 – 1965)
  • Kết quả: phá sản hoàn toàn “Chiến tranh đặc biệt”

Giai đoạn 1965 – 1968

  • Mỹ chuyển sang “Chiến tranh cục bộ”: quân Mỹ + quân đồng minh + quân Sài Gòn
  • Sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” (8/1964), Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất (2/1965)
  • Miền Bắc: vừa chiến đấu vừa sản xuất, bắn rơi 3 243 máy bay (có 6 chiếc B52), chi viện hơn 30 vạn cán bộ, chiến sĩ (gấp 10 lần trước)
  • Miền Nam chống “Chiến tranh cục bộ”: chiến thắng Vạn Tường (18/8/1965) – mở ra khả năng đánh thắng Mỹ; đập tan phản công hai mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967
  • Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 – bước ngoặt kháng chiến
  • Kết quả: Mỹ “phi Mỹ hóa” chiến tranh, chấp nhận đàm phán ở Pa-ri

Giai đoạn 1969 – 1973

  • Mỹ chuyển sang “Việt Nam hóa chiến tranh”: quân Sài Gòn là chủ yếu, hỏa lực và không quân Mỹ hỗ trợ; mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương
  • Thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (6/6/1969)
  • Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương (4/1970); đánh bại cuộc hành quân của 10 vạn quân Mỹ – Sài Gòn sang Cam-pu-chia (30/4 – 30/6/1970)
  • Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào (2 – 3/1971)
  • Cuộc Tiến công chiến lược 1972 (Quảng Trị, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ) buộc Mỹ thừa nhận thất bại
  • Mỹ mở chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai (16/4/1972); quân dân miền Bắc đánh bại cuộc tập kích B52 trong 12 ngày đêm (18 – 29/12/1972) – trận “Điện Biên Phủ trên không”
  • Hiệp định Pa-ri (1973), Mỹ phải rút hết quân về nước

Giai đoạn 1973 – 1975

  • Miền Bắc: khắc phục hậu quả chiến tranh; chi viện gần 20 vạn bộ đội cho các chiến trường
  • Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 (7/1973): tiếp tục con đường bạo lực cách mạng, đấu tranh trên ba mặt trận quân sự – chính trị – ngoại giao
  • Chiến dịch Đường 14 – Phước Long (cuối 1974 – đầu 1975): khẳng định sự lớn mạnh của ta, sự bất lực của địch
  • Mệnh lệnh “Thần tốc, thần tốc hơn nữa…” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (7/4/1975)
  • Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 – 3 chiến dịch lớn:
  • Chiến dịch Tây Nguyên (10/3 – 24/3/1975): giải phóng toàn bộ Tây Nguyên
  • Chiến dịch Huế – Đà Nẵng (26/3 – 29/3/1975): giải phóng Huế và Đà Nẵng
  • Chiến dịch Hồ Chí Minh (26/4 – 30/4/1975): giải phóng Sài Gòn – Gia Định
  • 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975: lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập – kết thúc kháng chiến

Ba chiến lược chiến tranh của Mỹ

  • “Chiến tranh đặc biệt” (1961 – 1965): quân Sài Gòn + cố vấn Mỹ → phá sản hoàn toàn
  • “Chiến tranh cục bộ” (1965 – 1968): quân Mỹ trực tiếp tham chiến → thất bại sau Mậu Thân 1968
  • “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 – 1973): quân Sài Gòn là chủ yếu + hỏa lực Mỹ → thất bại, kí Hiệp định Pa-ri

Nguyên nhân thắng lợi

  • Chủ quan:
  • Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo
  • Đồng thời tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam
  • Kết hợp đấu tranh quân sự – chính trị – ngoại giao; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
  • Nhân dân Việt Nam yêu nước, đoàn kết, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm
  • Hậu phương miền Bắc không ngừng lớn mạnh, đáp ứng kịp thời yêu cầu chiến đấu
  • Khách quan:
  • Sự phối hợp, đoàn kết của nhân dân ba nước Đông Dương
  • Sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa (đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc)
  • Phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới

Ý nghĩa lịch sử

  • Đối với Việt Nam:
  • Kết thúc 21 năm chống Mỹ và 30 năm chiến tranh cách mạng
  • Chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc trên đất nước Việt Nam
  • Kết thúc cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước
  • Mở ra kỉ nguyên cả nước hòa bình, độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội
  • Đối với quốc tế:
  • Góp phần làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân mới trên thế giới
  • Cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc và cuộc đấu tranh vì hòa bình, dân chủ, chủ nghĩa xã hội
  • Chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, có tầm quan trọng quốc tế to lớn và tính thời đại sâu sắc
Cô Ngô Thị Ánh Ngọc

Cô Ngô Thị Ánh Ngọc

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử THPT

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Lịch sử, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 7+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Kim Liên