Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- Bối cảnh lịch sử
- Tình hình thế giới
- Tình hình trong nước
- Diễn biến chính của Cách mạng tháng Tám năm 1945
- Khởi nghĩa từng phần và giành chính quyền ở các địa phương
- Khởi nghĩa thắng lợi ở ba đô thị lớn
- Hoàn thành khởi nghĩa trong cả nước
- Nguyên nhân thắng lợi
- Nguyên nhân chủ quan
- Nguyên nhân khách quan
- Ý nghĩa lịch sử
- Đối với dân tộc Việt Nam
- Đối với thế giới
- Bài học kinh nghiệm
- Bài học về sự lãnh đạo của Đảng
- Bài học về xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
- Bài học về nắm bắt thời cơ
- Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng
- Sơ đồ tóm tắt bài học
Bối cảnh lịch sử
Tình hình thế giới
Năm 1945, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai đang đi vào giai đoạn kết thúc với nhiều biến chuyển quan trọng tác động trực tiếp đến tình hình Đông Dương.
Từ ngày 17-7 đến ngày 2-8-1945, Hội nghị Pốt-xđam được tổ chức, đưa ra quyết định về việc giải giáp quân đội Nhật Bản tại Đông Dương. Theo đó, quân Trung Hoa Dân quốc sẽ đảm nhận nhiệm vụ này ở khu vực phía Bắc vĩ tuyến 16, còn quân Anh phụ trách khu vực phía Nam vĩ tuyến 16.
Ngày 6 và ngày 9-8-1945, Mỹ lần lượt thả hai quả bom nguyên tử xuống thành phố Hi-rô-si-ma và Na-ga-xa-ki của Nhật Bản, gây ra thiệt hại khủng khiếp. Cùng thời điểm đó, ngày 8-8-1945, quân đội Xô viết mở cuộc tấn công vào quân Quan Đông của Nhật Bản đang đóng tại vùng Đông Bắc Trung Quốc.
Trước sức ép từ nhiều phía, đến ngày 15-8-1945, Nhật Bản chính thức tuyên bố chấp nhận đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Sự kiện này tạo ra bước ngoặt quan trọng: quân Nhật đóng tại Đông Dương rơi vào tình trạng rệu rã, mất tinh thần chiến đấu. Chính phủ bù nhìn thân Nhật do Trần Trọng Kim đứng đầu cũng lâm vào tình trạng hoang mang, lung lay.
Điều kiện khách quan thuận lợi cho cuộc Tổng khởi nghĩa đã xuất hiện – đây chính là “thời cơ ngàn năm có một”.
Tình hình trong nước
Trong khi đó, ở trong nước, phong trào cách mạng đã được chuẩn bị kỹ lưỡng và sẵn sàng bùng nổ.
Từ tháng 3 đến tháng 8-1945, cao trào kháng Nhật, cứu nước đã lan rộng khắp cả nước. Phong trào này không chỉ góp phần chuẩn bị lực lượng mà còn giúp quần chúng được tập dượt đấu tranh, sẵn sàng cho cuộc tổng khởi nghĩa khi thời cơ chín muồi.
Ngày 13-8-1945, ngay khi nhận được tin Nhật Bản sắp đầu hàng, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã nhanh chóng thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc và ban bố Quân lệnh số 1, chính thức phát lệnh Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước.
Ngày 14 và 15-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng được triệu tập tại Tân Trào (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang). Hội nghị đã thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa, đồng thời quyết định những vấn đề quan trọng về chính sách đối nội, đối ngoại sau khi giành được chính quyền.
Tiếp đó, ngày 16 và 17-8-1945, Đại hội Quốc dân được triệu tập tại Tân Trào với sự tham dự của đại biểu từ khắp các miền đất nước. Đại hội đã nhất trí tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Việt Minh và bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Diễn biến chính của Cách mạng tháng Tám năm 1945
Khởi nghĩa từng phần và giành chính quyền ở các địa phương
Đến giữa tháng 8-1945, khí thế cách mạng đã sục sôi trong toàn quốc. Từ ngày 14-8, căn cứ vào tình hình cụ thể tại địa phương, một số cấp bộ Đảng và tổ chức Việt Minh đã chủ động phát động nhân dân khởi nghĩa.
Chiều ngày 16-8-1945, một đơn vị Giải phóng quân dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp xuất phát từ Tân Trào, tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên, mở đường cho cuộc tiến quân về Hà Nội.
Ngày 18-8-1945, nhân dân bốn tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh và Quảng Nam đã vùng lên giành chính quyền thắng lợi, trở thành những địa phương giành chính quyền sớm nhất trong cả nước.
Khởi nghĩa thắng lợi ở ba đô thị lớn
Tại Hà Nội (ngày 19-8-1945): Quần chúng cách mạng với sự hỗ trợ của các đội tự vệ đã lần lượt chiến đấu chiếm Phủ Khâm sai, Sở Cảnh sát Trung ương, Sở Bưu điện và nhiều cơ quan quan trọng khác. Đến tối cùng ngày, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở thủ đô đã hoàn toàn thắng lợi.
Tại Huế (ngày 23-8-1945): Hàng vạn quần chúng từ khắp nơi kéo về tham gia cuộc biểu tình thị uy, chiếm các công sở của chính quyền cũ. Chính quyền cách mạng chính thức ra mắt nhân dân.
Tại Sài Gòn (ngày 25-8-1945): Sau khi chiếm được các cơ quan đầu não của chính quyền cũ như Sở Mật thám, Sở Cảnh sát, nhân dân Sài Gòn và các vùng phụ cận đã tham gia cuộc mít tinh lớn do Mặt trận Việt Minh tổ chức. Chính quyền cách mạng ra mắt nhân dân, đánh dấu thắng lợi của khởi nghĩa tại Sài Gòn.


Hoàn thành khởi nghĩa trong cả nước
Sau thắng lợi ở ba đô thị lớn, các địa phương khác trong cả nước từ rừng núi, nông thôn đến thành thị đã nối tiếp nhau vùng lên khởi nghĩa. Đến ngày 28-8-1945, Đồng Nai Thượng và Hà Tiên là hai địa phương giành chính quyền cuối cùng, đánh dấu thắng lợi hoàn toàn của Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước.
Một đặc điểm nổi bật của Cách mạng tháng Tám là cuộc khởi nghĩa diễn ra nhanh chóng và ít đổ máu. Trước áp lực và sự hoạt động khôn khéo của lực lượng cách mạng, quân Nhật ở Hà Nội và các địa phương buộc phải án binh bất động, không can thiệp vào tiến trình khởi nghĩa.
Ngày 30-8-1945, vua Bảo Đại – vị hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn – tuyên bố thoái vị, chấm dứt hoàn toàn chế độ phong kiến tồn tại hơn một nghìn năm ở Việt Nam.
Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với toàn thể nhân dân và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nguyên nhân thắng lợi
Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, đường lối lãnh đạo cách mạng đúng đắn và sáng tạo của Đảng
Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam để lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. Trung ương Đảng và Mặt trận Việt Minh đã thể hiện sự linh hoạt, nhạy bén trong việc nắm bắt thời cơ, kịp thời phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền trên phạm vi toàn quốc.
Thứ hai, truyền thống yêu nước và tinh thần đoàn kết của nhân dân
Dân tộc Việt Nam vốn mang trong mình truyền thống yêu nước nồng nàn và tinh thần đoàn kết bền chặt được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Khi Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, toàn thể nhân dân đã đồng lòng đoàn kết, nhất tề đứng lên cứu nước.
Thứ ba, quá trình chuẩn bị lâu dài và chu đáo
Đảng Cộng sản Đông Dương đã có quá trình chuẩn bị liên tục trong suốt 15 năm kể từ khi thành lập (1930). Trong thời gian đó, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và các căn cứ địa cách mạng đã từng bước được xây dựng và củng cố. Quần chúng nhân dân được tổ chức, giác ngộ và tập dượt qua nhiều phong trào đấu tranh. Đặc biệt, trong quá trình khởi nghĩa, đã có sự phối hợp nhịp nhàng, sáng tạo giữa lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang; giữa đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao.
Nguyên nhân khách quan
Chiến thắng của lực lượng Đồng minh và Hồng quân Liên Xô trong cuộc chiến tranh chống phát xít, đặc biệt là chiến thắng trước quân phiệt Nhật Bản, đã tạo ra điều kiện khách quan vô cùng thuận lợi. Sự kiện Nhật Bản đầu hàng không điều kiện đã củng cố thêm niềm tin cho toàn Đảng, toàn dân vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.
Ý nghĩa lịch sử
Đối với dân tộc Việt Nam
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một sự kiện lịch sử vĩ đại, mang ý nghĩa to lớn đối với dân tộc Việt Nam:
Về việc xóa bỏ chế độ cũ: Cuộc cách mạng đã lật đổ ách cai trị của thực dân Pháp kéo dài hơn 80 năm, xóa bỏ ách thống trị của quân phiệt Nhật Bản trong gần 5 năm, đồng thời chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến tồn tại hơn 1000 năm trong lịch sử Việt Nam.
Về việc thiết lập chế độ mới: Cách mạng đã lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, đánh dấu một bước tiến nhảy vọt trong lịch sử dân tộc, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và phát triển dưới chế độ dân chủ cộng hòa.
Về sự chuyển đổi vị thế: Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, Đảng Cộng sản Đông Dương từ một đảng hoạt động bí mật đã trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo đất nước. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã vươn lên trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.
Về việc khẳng định năng lực lãnh đạo: Cuộc cách mạng đã chứng tỏ năng lực lãnh đạo xuất sắc của Đảng Cộng sản, sự sáng tạo và tinh thần yêu nước mãnh liệt của nhân dân Việt Nam. Đồng thời, thắng lợi này đã chuẩn bị những điều kiện quan trọng cho những thắng lợi tiếp theo của cách mạng Việt Nam.
Đối với thế giới
Trên bình diện quốc tế, Cách mạng tháng Tám đã góp phần vào thắng lợi chung của các lực lượng hòa bình, dân chủ, tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít.
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn cầu, đồng thời cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh giành độc lập của nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.
Bài học kinh nghiệm
Bài học về sự lãnh đạo của Đảng
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám khẳng định Đảng là nhân tố quyết định đối với thành công của sự nghiệp cách mạng. Từ bài học này, Đảng cần có đường lối đúng đắn trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng cần thể hiện sự chủ động, linh hoạt và sáng tạo để đưa cách mạng đi đến thắng lợi.
Bài học về xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
Thành công của Cách mạng tháng Tám gắn liền với vai trò to lớn của Mặt trận Việt Minh trong việc tập hợp, tổ chức và đoàn kết toàn dân. Bài học rút ra là cần có các hình thức phong phú, đa dạng và sáng tạo để tập hợp, tổ chức quần chúng nhân dân. Đồng thời, cần đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước để khơi dậy tinh thần yêu nước và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bài học về nắm bắt thời cơ
Cách mạng tháng Tám cho thấy tầm quan trọng của việc xác định đúng thời cơ và chủ động, mau lẹ chớp thời cơ để hành động. “Thời cơ ngàn năm có một” đã được Đảng và nhân dân ta nắm bắt kịp thời, chính xác, nhờ đó đưa cách mạng đến thành công. Đây là bài học quý giá về sự nhạy bén, quyết đoán trong lãnh đạo và hành động cách mạng.
Được, tôi sẽ viết lại 2 phần này theo đúng format thống nhất với các bài trước. Tôi sẽ viết trực tiếp trong chat để bạn copy dễ dàng.
Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng
| Thời gian | Sự kiện | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Ngày 17 – 7 đến ngày 2 – 8 – 1945 | Hội nghị Pốt-xđam quyết định việc giải giáp quân Nhật ở Đông Dương (phía Bắc vĩ tuyến 16 do quân Trung Hoa Dân quốc, phía Nam do quân Anh đảm nhận) | Tác động trực tiếp đến tình hình Đông Dương, tạo bối cảnh quốc tế cho Tổng khởi nghĩa |
| Ngày 6 và 9 – 8 – 1945 | Mỹ ném bom nguyên tử xuống Hi-rô-si-ma và Na-ga-xa-ki (Nhật Bản) | Đẩy nhanh quá trình đầu hàng của Nhật Bản |
| Ngày 8 – 8 – 1945 | Quân đội Xô viết tấn công quân Quan Đông của Nhật Bản ở Đông Bắc Trung Quốc | Góp phần quyết định vào sự sụp đổ của quân phiệt Nhật Bản |
| Ngày 13 – 8 – 1945 | Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, ban bố Quân lệnh số 1 | Chính thức phát lệnh Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước |
| Ngày 14 và 15 – 8 – 1945 | Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) | Thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa, quyết định chính sách đối nội, đối ngoại |
| Ngày 15 – 8 – 1945 | Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện | Tạo ra “thời cơ ngàn năm có một” cho cách mạng Việt Nam |
| Ngày 16 và 17 – 8 – 1945 | Đại hội Quốc dân tại Tân Trào, cử Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch | Tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách của Việt Minh |
| Chiều ngày 16 – 8 – 1945 | Giải phóng quân do Võ Nguyên Giáp chỉ huy tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên | Mở đường cho cuộc tiến quân về Hà Nội |
| Ngày 18 – 8 – 1945 | Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam giành chính quyền | Bốn tỉnh giành chính quyền sớm nhất cả nước |
| Ngày 19 – 8 – 1945 | Khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội | Thắng lợi quyết định, cổ vũ mạnh mẽ cả nước |
| Ngày 23 – 8 – 1945 | Khởi nghĩa thắng lợi ở Huế | Thắng lợi ở đô thị lớn thứ hai, chính quyền cách mạng ra mắt nhân dân |
| Ngày 25 – 8 – 1945 | Khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn | Thắng lợi ở ba đô thị lớn, tạo đà cho cả nước |
| Ngày 28 – 8 – 1945 | Đồng Nai Thượng và Hà Tiên giành chính quyền | Hai địa phương cuối cùng, đánh dấu Tổng khởi nghĩa thắng lợi hoàn toàn |
| Ngày 30 – 8 – 1945 | Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị | Chấm dứt chế độ phong kiến tồn tại hơn 1 000 năm ở Việt Nam |
| Ngày 2 – 9 – 1945 | Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) | Khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á |
Sơ đồ tóm tắt bài học
Bối cảnh lịch sử
- Thế giới: Hội nghị Pốt-xđam (17/7 – 2/8/1945); Mỹ ném bom nguyên tử (6 và 9/8); Liên Xô tấn công quân Quan Đông (8/8); Nhật đầu hàng Đồng minh (15/8) → quân Nhật ở Đông Dương rệu rã
- Trong nước: cao trào kháng Nhật cứu nước (3 – 8/1945); 13/8 thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, ban bố Quân lệnh số 1; 14 – 15/8 Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào; 16 – 17/8 Đại hội Quốc dân tại Tân Trào
- “Thời cơ ngàn năm có một” đã xuất hiện
Diễn biến chính
- Khởi nghĩa từng phần: từ 14/8, các cấp bộ Đảng và Việt Minh chủ động phát động nhân dân khởi nghĩa
- Chiều 16/8: Giải phóng quân do Võ Nguyên Giáp chỉ huy tiến về giải phóng Thái Nguyên
- 18/8: bốn tỉnh giành chính quyền đầu tiên (Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam)
- Thắng lợi ở ba đô thị lớn: Hà Nội (19/8) – Huế (23/8) – Sài Gòn (25/8)
- 28/8: Đồng Nai Thượng và Hà Tiên – hai địa phương cuối cùng
- 30/8: vua Bảo Đại thoái vị → chấm dứt chế độ phong kiến
- 2/9: Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nguyên nhân thắng lợi
- Chủ quan (quyết định):
- Đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Hồ Chí Minh – vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, linh hoạt chớp thời cơ
- Truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết của nhân dân dưới ngọn cờ Việt Minh
- Quá trình chuẩn bị lâu dài, chu đáo trong 15 năm (lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa, tập dượt đấu tranh)
- Khách quan (thuận lợi):
- Thắng lợi của Đồng minh và Hồng quân Liên Xô chống phát xít
- Nhật Bản đầu hàng không điều kiện → củng cố niềm tin, tạo điều kiện khách quan thuận lợi
Ý nghĩa lịch sử
- Đối với dân tộc:
- Lật đổ ách thống trị: thực dân Pháp (hơn 80 năm), quân phiệt Nhật (gần 5 năm), chế độ phong kiến (hơn 1 000 năm)
- Lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á
- Mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do; Đảng từ bí mật trở thành đảng cầm quyền; nhân dân từ nô lệ trở thành người làm chủ
- Chuẩn bị điều kiện cho những thắng lợi tiếp theo
- Đối với thế giới:
- Góp phần vào thắng lợi của lực lượng hòa bình, dân chủ, tiến bộ chống phát xít
- Góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân
- Cổ vũ tinh thần đấu tranh của nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc
Bài học kinh nghiệm
- Sự lãnh đạo của Đảng: Đảng là nhân tố quyết định; đường lối đúng đắn, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin; chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong lãnh đạo
- Đại đoàn kết dân tộc: vai trò của Mặt trận Việt Minh; hình thức phong phú, đa dạng, sáng tạo để tập hợp quần chúng; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước
- Nắm bắt thời cơ: xác định đúng thời cơ; chủ động, mau lẹ chớp thời cơ để hành động; “thời cơ ngàn năm có một” không để lỡ

Cô Ngô Thị Ánh Ngọc
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử THPT
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Lịch sử, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 7+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Kim Liên

