Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- 1. Bối cảnh lịch sử của cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4 – 1975 đến nay
- 2. Các cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4 – 1975
- a) Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới Tây Nam
- b) Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới phía Bắc
- c) Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia trên Biển Đông
- 3. Ý nghĩa lịch sử của cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4 – 1975 đến nay
- 4. Một số bài học lịch sử của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 đến nay
- Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng
- Sơ đồ tóm tắt bài học
1. Bối cảnh lịch sử của cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4 – 1975 đến nay
Thuận lợi
- Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, Việt Nam chuyển sang giai đoạn độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Độc lập và thống nhất trở thành điều kiện cơ bản nhằm phát huy sức mạnh toàn diện của đất nước để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kì lịch sử mới.
Khó khăn
- Hậu quả của chiến tranh trên cả nước còn rất nặng nề.
- Đất nước lại bị Mỹ bao vây, cấm vận.
- Mối quan hệ giữa Việt Nam – Trung Quốc – Cam-pu-chia đã xuất hiện một số vấn đề phức tạp.
Tình hình thế giới
- Tình hình thế giới có nhiều chuyển biến, xu thế hòa hoãn Đông – Tây xuất hiện từ đầu những năm 70 của thế kỉ XX.
- Tình trạng bất ổn, xung đột vẫn diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới.

2. Các cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4 – 1975
a) Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới Tây Nam
Bối cảnh
- Sau khi lên nắm quyền (tháng 4 – 1975), chính quyền Pôn Pốt đã phát động chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam của Việt Nam.
- Từ tháng 5 – 1975, quân Pôn Pốt gây ra nhiều vụ hành quân khiêu khích, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam: đánh chiếm đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu và xâm nhập nhiều vùng biên giới trên đất liền.
- Ngày 30 – 4 – 1977, quân Pôn Pốt mở cuộc tấn công dọc phần lớn tuyến biên giới tỉnh An Giang.
Diễn biến – 2 giai đoạn
Giai đoạn 1 (từ ngày 30 – 4 – 1977 đến ngày 5 – 1 – 1978):
- Quân Pôn Pốt tấn công dọc tuyến biên giới, tàn sát dân thường,…
- Đảng và Nhà nước Việt Nam tổ chức lực lượng vũ trang đánh lui quân địch, đồng thời nỗ lực hoạt động ngoại giao nhằm tìm kiếm giải pháp hòa bình.
Giai đoạn 2 (từ ngày 6 – 1 – 1978 đến ngày 7 – 1 – 1979):
- Quân Pôn Pốt tiến hành xâm lược trên toàn tuyến biên giới Tây Nam.
- Ngày 22 – 12 – 1978, quân Pôn Pốt huy động 19 sư đoàn bộ binh cùng nhiều đơn vị pháo binh, xe tăng tấn công quy mô lớn vào tỉnh Tây Ninh.
- Thực hiện quyền tự vệ chính đáng, quân dân Việt Nam mở cuộc tổng phản công, làm tan rã đại bộ phận quân chủ lực đối phương.
- Theo yêu cầu của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, quân tình nguyện Việt Nam cùng quân dân Cam-pu-chia đánh đổ chính quyền Pôn Pốt.
- Ngày 7 – 1 – 1979, Thủ đô Phôm Pênh (Cam-pu-chia) được hoàn toàn giải phóng.

b) Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới phía Bắc
Bối cảnh
- Từ giữa năm 1975, tình hình quan hệ Việt Nam – Trung Quốc dần trở nên căng thẳng.
- Trung Quốc đơn phương chấm dứt các viện trợ kinh tế, kĩ thuật và khiêu khích, xâm phạm ở khu vực biên giới phía Bắc của Việt Nam.
Diễn biến
- Sáng ngày 17 – 2 – 1979, hàng chục vạn quân Trung Quốc tấn công dọc tuyến biên giới phía Bắc dài hơn 1 000 km của Việt Nam, từ Móng Cái (tỉnh Quảng Ninh) đến Phong Thổ (tỉnh Lai Châu).
- Để bảo vệ Tổ quốc, quân dân Việt Nam, trực tiếp là quân dân sáu tỉnh biên giới phía Bắc đã đứng lên chiến đấu.
- Nhiều trận chiến diễn ra quyết liệt ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai,… đã làm thất bại mục tiêu “đánh nhanh, thắng nhanh” của quân đội Trung Quốc.
- Trước cuộc chiến đấu ngoan cường của quân dân Việt Nam và sự phản đối mạnh mẽ của dư luận, Trung Quốc phải tuyên bố rút quân từ ngày 5 – 3 – 1979.
- Tuy nhiên, tình hình trên tuyến biên giới phía Bắc tiếp tục căng thẳng kéo dài cho tới cuối năm 1989, đặc biệt là ở mặt trận Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên (nay thuộc tỉnh Tuyên Quang).

c) Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia trên Biển Đông
Khẳng định chủ quyền
- Sau Đại thắng Xuân 1975, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lí toàn bộ lãnh thổ đất nước, trong đó bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
- Ngày 12 – 5 – 1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
- Năm 1994, Việt Nam là quốc gia thứ 63 phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, trước khi Công ước chính thức có hiệu lực vào tháng 12 – 1994.
Quản lí hành chính
- Năm 1982, Chính phủ Việt Nam thành lập huyện đảo Hoàng Sa (trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, nay là đặc khu Hoàng Sa trực thuộc thành phố Đà Nẵng) và huyện đảo Trường Sa (trực thuộc tỉnh Đồng Nai, nay là đặc khu Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa).
- Năm 2007, Chính phủ quyết định thành lập thị trấn Trường Sa cùng hai xã đảo Song Tử Tây và Sinh Tồn trực thuộc huyện đảo Trường Sa.
Hoạt động thực thi chủ quyền
- Tổ chức triển lãm các hiện vật lịch sử.
- Nghiên cứu, khảo sát điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng.
- Xây bia chủ quyền, thiết lập các ngọn đèn biển.
- Đưa dân ra sinh sống trên các đảo.
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp
- Việt Nam luôn kiên quyết và kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp phù hợp với nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.
- Mục tiêu cao nhất: bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc và giữ vững hòa bình, ổn định để đất nước phát triển.
Sự kiện Gạc Ma và các hoạt động pháp lí
- Tháng 3 – 1988, quân đội Trung Quốc huy động lực lượng lớn tấn công các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Hàng chục chiến sĩ Hải quân Việt Nam đã anh dũng hi sinh.
- Chính phủ Việt Nam đã thông báo cho Liên hợp quốc, gửi nhiều công hàm phản đối và đề nghị hai bên Việt Nam – Trung Quốc thương lượng giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.
- Năm 2012, Quốc hội thông qua Luật Biển Việt Nam – cơ sở pháp lí để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo và phát triển kinh tế biển.
- Hiện nay, Việt Nam đang tích cực thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

3. Ý nghĩa lịch sử của cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4 – 1975 đến nay
Cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4 – 1975 đến nay có năm ý nghĩa lịch sử quan trọng:
- Bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống của nhân dân.
- Khẳng định ý chí độc lập, tự chủ và tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng của nhân dân Việt Nam.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng đất nước.
- Để lại những bài học kinh nghiệm quý giá cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tương lai.
- Góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định ở khu vực châu Á và trên thế giới.
4. Một số bài học lịch sử của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 đến nay
Bài học 1: Không ngừng phát huy tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân
- Tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam đã tạo thành sức mạnh tổng hợp của dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và bảo vệ Tổ quốc.
- Ngày nay, cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống để mỗi người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ nhận thức rõ vai trò của tinh thần yêu nước và phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bài học 2: Củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân
- Thực tiễn cách mạng đã chứng minh: một dân tộc nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam có thể chiến thắng những kẻ thù hùng mạnh là nhờ sự đoàn kết một lòng của cả dân tộc.
- Các tổ chức mặt trận đã giữ vai trò to lớn trong xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
- Ngày nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phát huy vai trò trong việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Bài học 3: Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một trong những bài học lớn, xuyên suốt, trong đó sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định.
- Trong bối cảnh hiện nay, việc kết hợp này góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, tạo thế và lực để đất nước ổn định và phát triển.
- Cần kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng đất nước vững mạnh tạo điều kiện cho bảo vệ Tổ quốc; tăng cường quốc phòng, an ninh sẽ tạo sức mạnh cho công cuộc xây dựng đất nước.
Bài học 4: Phát triển sáng tạo nghệ thuật chiến tranh nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân
- Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp tục xây dựng và phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam: nghệ thuật toàn dân đánh giặc, nghệ thuật tiến công chủ động, kiên quyết, mưu trí, sáng tạo,…
- Trong bối cảnh cách mạng khoa học – công nghệ hiện nay, nghệ thuật quân sự Việt Nam cần tiếp tục phát triển ở trình độ khoa học cao.
- Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và có chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng
| Thời gian | Sự kiện | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Tháng 4 – 1975 | Chính quyền Pôn Pốt lên nắm quyền ở Cam-pu-chia, phát động chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam Việt Nam | Mở đầu cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam |
| Tháng 5 – 1975 | Quân Pôn Pốt đánh chiếm đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu và xâm nhập nhiều vùng biên giới | Bộc lộ dã tâm xâm lược của chính quyền Pôn Pốt |
| Năm 1976 | Kì họp thứ nhất của Quốc hội khóa VI | Quyết định nhiều vấn đề quan trọng để thống nhất đất nước về mặt Nhà nước |
| Ngày 12 – 5 – 1977 | Chính phủ Việt Nam ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam | Cơ sở pháp lí khẳng định chủ quyền trên biển |
| Ngày 30 – 4 – 1977 | Quân Pôn Pốt mở cuộc tấn công dọc tuyến biên giới tỉnh An Giang | Mở đầu giai đoạn 1 của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam |
| Từ ngày 18 – 4 đến ngày 30 – 4 – 1978 | Quân Pôn Pốt sát hại hơn 3 000 người dân Ba Chúc (An Giang) | Tội ác diệt chủng của chính quyền Pôn Pốt |
| Ngày 22 – 12 – 1978 | Quân Pôn Pốt huy động 19 sư đoàn bộ binh tấn công quy mô lớn vào tỉnh Tây Ninh | Đỉnh điểm xâm lược, buộc Việt Nam thực hiện quyền tự vệ chính đáng |
| Ngày 7 – 1 – 1979 | Thủ đô Phôm Pênh (Cam-pu-chia) được hoàn toàn giải phóng | Kết thúc chiến tranh biên giới Tây Nam, đánh đổ chính quyền Pôn Pốt |
| Sáng ngày 17 – 2 – 1979 | Hàng chục vạn quân Trung Quốc tấn công dọc tuyến biên giới phía Bắc dài hơn 1 000 km (từ Móng Cái đến Phong Thổ) | Mở đầu cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc |
| Ngày 5 – 3 – 1979 | Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi biên giới Việt Nam | Làm thất bại mục tiêu “đánh nhanh, thắng nhanh” của quân đội Trung Quốc |
| Năm 1982 | Chính phủ Việt Nam thành lập huyện đảo Hoàng Sa và huyện đảo Trường Sa | Khẳng định quản lí hành chính đối với hai quần đảo |
| Năm 1984 – 1989 | 5 năm ác liệt nhất ở mặt trận Vị Xuyên (tỉnh Hà Tuyên), gần 5 000 chiến sĩ hi sinh | Mặt trận trọng điểm của cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc |
| Tháng 3 – 1988 | Trung Quốc tấn công các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa | Hàng chục chiến sĩ Hải quân Việt Nam anh dũng hi sinh bảo vệ chủ quyền biển đảo |
| Cuối năm 1989 | Tình hình biên giới phía Bắc ổn định trở lại | Kết thúc giai đoạn căng thẳng kéo dài ở biên giới phía Bắc |
| Năm 1994 | Việt Nam là quốc gia thứ 63 phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 | Cơ sở pháp lí quốc tế để bảo vệ chủ quyền biển đảo |
| Năm 2007 | Thành lập thị trấn Trường Sa cùng hai xã đảo Song Tử Tây và Sinh Tồn | Củng cố quản lí hành chính ở quần đảo Trường Sa |
| Năm 2012 | Quốc hội thông qua Luật Biển Việt Nam | Cơ sở pháp lí để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo và phát triển kinh tế biển |
Sơ đồ tóm tắt bài học
Bối cảnh lịch sử
- Thuận lợi: đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội
- Khó khăn: hậu quả chiến tranh nặng nề; Mỹ bao vây, cấm vận; quan hệ Việt Nam – Trung Quốc – Cam-pu-chia phức tạp
- Thế giới: xu thế hòa hoãn Đông – Tây xuất hiện; bất ổn, xung đột vẫn diễn ra
Chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam
- Bối cảnh: chính quyền Pôn Pốt phát động chiến tranh xâm lược từ 4/1975
- Sự kiện mở đầu: 30/4/1977 tấn công dọc tuyến biên giới An Giang
- Giai đoạn 1 (30/4/1977 – 5/1/1978): đánh lui địch kết hợp ngoại giao tìm giải pháp hòa bình
- Giai đoạn 2 (6/1/1978 – 7/1/1979): quân Pôn Pốt xâm lược toàn tuyến; 22/12/1978 tấn công Tây Ninh; Việt Nam tổng phản công
- Kết quả: 7/1/1979 giải phóng Phôm Pênh, đánh đổ chính quyền Pôn Pốt
Chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc
- Bối cảnh: từ giữa 1975 quan hệ Việt Nam – Trung Quốc căng thẳng
- Sáng 17/2/1979: Trung Quốc tấn công tuyến biên giới hơn 1 000 km từ Móng Cái đến Phong Thổ
- Trận chiến quyết liệt ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai → làm thất bại mục tiêu “đánh nhanh, thắng nhanh”
- 5/3/1979: Trung Quốc tuyên bố rút quân
- Căng thẳng kéo dài đến cuối năm 1989, trọng điểm mặt trận Vị Xuyên (Hà Tuyên) 1984 – 1989
Đấu tranh bảo vệ chủ quyền Biển Đông
- Khẳng định chủ quyền: Tuyên bố 12/5/1977; phê chuẩn UNCLOS 1982 (năm 1994); Luật Biển Việt Nam (2012)
- Quản lí hành chính: thành lập huyện đảo Hoàng Sa và Trường Sa (1982); thị trấn Trường Sa, xã đảo Song Tử Tây, Sinh Tồn (2007)
- Thực thi chủ quyền: triển lãm hiện vật, nghiên cứu, xây bia chủ quyền, thiết lập đèn biển, đưa dân ra đảo
- Sự kiện Gạc Ma (3/1988): Trung Quốc tấn công Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao; Việt Nam phản đối qua Liên hợp quốc
- Nguyên tắc: kiên quyết, kiên trì đấu tranh theo luật pháp quốc tế, giữ vững hòa bình
- Thúc đẩy thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)
Ý nghĩa lịch sử (5 ý nghĩa)
- Bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống của nhân dân
- Khẳng định ý chí độc lập, tự chủ, tinh thần đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế
- Tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng đất nước
- Để lại bài học kinh nghiệm quý giá cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định ở khu vực châu Á và trên thế giới
Bài học lịch sử (4 bài học từ năm 1945 đến nay)
- Phát huy tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân
- Củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân
- Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; kết hợp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định)
- Phát triển sáng tạo nghệ thuật chiến tranh nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

Cô Ngô Thị Ánh Ngọc
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử THPT
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Lịch sử, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 7+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Kim Liên

