Bài 5: Quá trình xâm lược và cai trị của chủ nghĩa thực dân ở Đông Nam Á | Lý thuyết

I. Quá trình xâm lược và cai trị của thực dân phương Tây ở Đông Nam Á

1. Quá trình xâm lược

Từ đầu thế kỉ XVI, các nước phương Tây bắt đầu mở rộng quá trình xâm nhập vào các nước Đông Nam Á. Trong thời gian đầu, quá trình này được tiến hành thông qua các hoạt động buôn bán và truyền giáo. Thông qua các thương điếm, các nước châu Âu mở rộng giao thương và từng bước chuẩn bị cho quá trình xâm lược.

Quá trình xâm lược của thực dân phương Tây diễn ra trong bối cảnh phần lớn các nước Đông Nam Á bước vào thời kì suy thoái, khủng hoảng của chế độ phong kiến về chính trị, kinh tế, xã hội với nhiều cuộc nổi dậy chống lại chế độ phong kiến.

Lược đồ các nước Đông Nam Á cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX
Lược đồ các nước Đông Nam Á cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX

Đối với Đông Nam Á hải đảo

Các nước Đông Nam Á hải đảo là đối tượng đầu tiên thu hút sự chú ý của thực dân phương Tây, bởi đây là khu vực giàu tài nguyên, có nguồn hương liệu và hàng hóa phong phú, lại nằm trên tuyến đường biển huyết mạch nối liền phương Đông và phương Tây với nhiều thương cảng sầm uất.

Năm 1511, thực dân Bồ Đào Nha đánh chiếm Ma-lắc-ca (nay thuộc Ma-lai-xi-a), mở đầu cho quá trình xâm lược của thực dân phương Tây ở khu vực Đông Nam Á. Giữa thế kỉ XVI, Phi-líp-pin chính thức bị thực dân Tây Ban Nha xâm lược và thống trị. Sau cuộc chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha (1898), Phi-líp-pin đã trở thành thuộc địa của Mỹ.

Cuối thế kỉ XVI, thực dân Hà Lan bắt đầu quá trình xâm nhập In-đô-nê-xi-a. Nhưng phải đến giữa thế kỉ XIX, trải qua cuộc cạnh tranh quyết liệt với Bồ Đào Nha, Hà Lan mới hoàn thành việc kiểm soát nước này.

Mặc dù đến muộn hơn nhưng thực dân Anh đã nhanh chóng mở rộng ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á. Đầu thế kỉ XX, toàn bộ vùng lãnh thổ ngày nay của Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po, Bru-nây rơi vào tay người Anh dưới những hình thức cai trị khác nhau.

Trải qua gần 4 thế kỉ (từ đầu thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XX), bằng những thủ đoạn khác nhau – từ buôn bán, xâm nhập thị trường, đến tiến hành chiến tranh xâm lược và cạnh tranh quyết liệt với nhau – thực dân phương Tây đã hoàn thành quá trình xâm lược các nước Đông Nam Á hải đảo.

Tượng đài La-pu-la-pu ở đảo Mác-tan (Phi-líp-pin) – người anh hùng dân tộc đã lãnh đạo đội quân đánh thắng thực dân Tây Ban Nha năm 1521
Tượng đài La-pu-la-pu ở đảo Mác-tan (Phi-líp-pin) – người anh hùng dân tộc đã lãnh đạo đội quân đánh thắng thực dân Tây Ban Nha năm 1521

Đối với Đông Nam Á lục địa

Quá trình xâm lược của thực dân phương Tây đối với các nước Đông Nam Á lục địa bắt đầu vào thế kỉ XIX, muộn hơn so với các nước Đông Nam Á hải đảo.

Thực dân Anh sau hơn 60 năm (1824 – 1885), tiến hành 3 cuộc chiến tranh mới chiếm được Miến Điện (Mi-an-ma). Thực dân Pháp phải trải qua cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài gần nửa thế kỉ (1858 – 1893) mới hoàn thành việc xâm chiếm 3 nước Đông Dương.

Đến đầu thế kỉ XX, các nước thực dân phương Tây đã hoàn thành quá trình thôn tính Đông Nam Á. Hầu hết các nước trong khu vực đều trở thành thuộc địa của thực dân phương Tây. Vương quốc Xiêm (Thái Lan) tuy giữ được nền độc lập nhưng bị lệ thuộc vào nước ngoài về nhiều mặt và trở thành vùng đệm giữa khu vực thuộc địa của thực dân Anh và thực dân Pháp.

Hải quân Anh tiến vào hải cảng ở Y-an-gun (Miến Điện) năm 1824 (tranh vẽ)
Hải quân Anh tiến vào hải cảng ở Y-an-gun (Miến Điện) năm 1824 (tranh vẽ)
Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng (Việt Nam) năm 1858 (tranh vẽ)
Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng (Việt Nam) năm 1858 (tranh vẽ)

2. Chính sách cai trị

Về chính trị

Thực dân phương Tây tiến hành thiết lập nền thống trị ở Đông Nam Á dưới các hình thức khác nhau, nhưng đều có điểm chung là bên cạnh sự cai trị của chính quyền thực dân thì các thế lực phong kiến địa phương vẫn được duy trì như một công cụ để thi hành chính sách cai trị thuộc địa.

Về hình thức cai trị, dù các nước thực dân áp đặt hình thức cai trị trực tiếp hay gián tiếp, các quyền hành chính, lập pháp, tư pháp, ngoại giao, quân sự,… của các thuộc địa vẫn tập trung trong tay đại diện của chính quyền thực dân.

Chính sách “chia để trị” là phương thức phổ biến được thực dân phương Tây sử dụng nhằm chia rẽ, làm suy yếu sức mạnh dân tộc của các nước Đông Nam Á. Ngoài ra, chính quyền thực dân chú trọng việc xây dựng và sử dụng lực lượng quân đội người bản địa để bảo vệ bộ máy cai trị và đàn áp sự phản kháng của người dân thuộc địa.

Về kinh tế

Chính quyền thực dân thực hiện chính sách bóc lột, khai thác các thuộc địa, biến các nước trong khu vực thành nơi cung cấp nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ hàng hóa, phục vụ lợi ích cho chính quốc.

Điểm chung của chính sách thống trị thực dân ở Đông Nam Á là khai thác, vơ vét và bòn rút các quốc gia trong khu vực bằng chính sách thuế khóa đánh vào các tầng lớp nhân dân bản địa, cướp ruộng đất lập đồn điền, bóc lột sức người, khai thác tài nguyên. Thực dân phương Tây thông qua khai thác triệt để sản phẩm nông nghiệp, tiếp tục đầu tư để bóc lột lâu dài trong công nghiệp. Cao su, cà phê, chè, lúa gạo là những sản vật đặc trưng của Đông Nam Á được thực dân phương Tây chú ý khai thác từ sớm.

Tình cảnh người dân In-đô-nê-xi-a dưới ách thống trị của thực dân Hà Lan (tranh vẽ)
Tình cảnh người dân In-đô-nê-xi-a dưới ách thống trị của thực dân Hà Lan (tranh vẽ)

Về văn hóa – xã hội

Các nước thực dân phương Tây đã tìm mọi cách kìm hãm người dân ở các nước thuộc địa trong tình trạng lạc hậu, nghèo đói, đồng thời làm xói mòn giá trị truyền thống của các quốc gia Đông Nam Á.

Hầu hết người dân các nước thuộc địa đều mù chữ. Ở Mã Lai, năm 1931 chỉ có 8,5% dân số biết chữ. Ở Việt Nam, năm 1926 chỉ có khoảng 6% trẻ em ở độ tuổi đi học được tới trường, hơn 90% dân số không biết chữ. Cùng với chính sách ngu dân, thực dân phương Tây thi hành chính sách đầu độc người dân bản địa bằng rượu, thuốc phiện để dễ bề cai trị. Hệ thống y tế lạc hậu khiến cho tỉ lệ tử vong vì ốm đau, bệnh tật tăng cao, đặc biệt là trẻ em.

Tình cảnh người dân thuộc địa dưới ách cai trị của thực dân (tranh biếm họa)
Tình cảnh người dân thuộc địa dưới ách cai trị của thực dân (tranh biếm họa)

II. Công cuộc cải cách ở Xiêm

1. Bối cảnh cải cách

Vào giữa thế kỉ XIX, Vương quốc Xiêm đứng trước sự đe dọa xâm lược của thực dân phương Tây. Từ năm 1851, vua Ra-ma IV đã tiến hành cải cách, chủ trương mở cửa buôn bán với nước ngoài. Đặc biệt, từ năm 1868, dưới thời vua Ra-ma V, Xiêm đã tiến hành hàng loạt cải cách quan trọng về kinh tế, xã hội, hành chính, giáo dục, ngoại giao.

Tượng vua Ra-ma V (Chu-la-long-kon)
Tượng vua Ra-ma V (Chu-la-long-kon)

2. Nội dung cải cách

Về kinh tế

Trong công nghiệp, Chính phủ thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghiệp, đường sắt,… Với việc mở cửa nền kinh tế từ nửa sau thế kỉ XIX, Băng Cốc đã trở thành trung tâm buôn bán của khu vực.

Trong nông nghiệp, năm 1874, Chính phủ Xiêm đã áp dụng biện pháp miễn trừ và giảm thuế nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp và khai khẩn đất hoang. Đến đầu thế kỉ XX, Chính phủ ban hành những quy định quản lí ruộng đất hiện đại.

Về hành chính

Từ năm 1892, Ra-ma V tiến hành cải cách hành chính theo mô hình phương Tây.

Về giáo dục

Công tác giáo dục được nhà vua đặc biệt chú trọng. Năm 1898, sau khi đi khảo sát nền giáo dục ở châu Âu, nhà vua cho công bố Chương trình giáo dục đầu tiên ở Xiêm.

Trường Đại học Chu-la-long-kon (Thái Lan) thành lập năm 1917
Trường Đại học Chu-la-long-kon (Thái Lan) thành lập năm 1917

Về ngoại giao

Trước mối đe dọa về chủ quyền đất nước từ các cường quốc phương Tây, năm 1897, Ra-ma V tiến hành chuyến công du sang các nước châu Âu, gặp gỡ đại diện các chính phủ Anh, Pháp, Đức, Nga,… nhằm mục tiêu xóa bỏ các hiệp ước bất bình đẳng đã kí trước đó.

Chính phủ Xiêm kí các hiệp ước với nội dung đồng ý cắt một số vùng lãnh thổ thuộc ảnh hưởng của Xiêm ở Lào, Cam-pu-chia cho Pháp (1907) và ở Mã Lai cho Anh (1909) để bảo vệ nền độc lập của nước mình.

3. Ý nghĩa của công cuộc cải cách

Công cuộc cải cách đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở cửa cho hàng hóa xuất khẩu,… đưa Vương quốc Xiêm phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, từng bước hội nhập với thế giới trong những thập niên tiếp theo.

Trên cơ sở những thành tựu của công cuộc cải cách, Chính phủ Xiêm có thực lực để thực hiện đường lối ngoại giao mềm dẻo, nhằm giữ vững nền độc lập và chủ quyền đất nước, không bị rơi vào tình trạng thuộc địa.

Trong bối cảnh hầu hết các quốc gia trong khu vực đều trở thành thuộc địa của thực dân, công cuộc cải cách của Xiêm chính là một trong những con đường ứng phó hiệu quả với làn sóng xâm lược của thực dân phương Tây ở Đông Nam Á.

4. Vì sao Xiêm là nước duy nhất ở Đông Nam Á không trở thành thuộc địa?

Xiêm là nước duy nhất ở khu vực Đông Nam Á không trở thành thuộc địa của thực dân phương Tây nhờ ba nguyên nhân chính.

Thứ nhất, Xiêm đã tiến hành công cuộc cải cách toàn diện dưới thời Ra-ma IV và Ra-ma V, giúp đất nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu, phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa và có đủ thực lực để bảo vệ chủ quyền.

Thứ hai, Chính phủ Xiêm thực hiện đường lối ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo, vừa chủ động giao thiệp với các cường quốc phương Tây, vừa chấp nhận cắt một phần lãnh thổ để giữ vững nền độc lập.

Thứ ba, vị trí địa lí của Xiêm nằm giữa khu vực thuộc địa của Anh (Miến Điện, Mã Lai) và Pháp (ba nước Đông Dương) nên Xiêm được các cường quốc chọn làm vùng đệm, tránh xung đột trực tiếp giữa hai đế quốc lớn.

Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng

Thời gian Sự kiện Ý nghĩa
Đầu thế kỉ XVI Các nước phương Tây bắt đầu xâm nhập Đông Nam Á qua buôn bán và truyền giáo Mở đầu quá trình chuẩn bị cho xâm lược thuộc địa
Năm 1511 Bồ Đào Nha đánh chiếm Ma-lắc-ca (Ma-lai-xi-a) Mở đầu quá trình xâm lược của thực dân phương Tây ở Đông Nam Á
Năm 1521 La-pu-la-pu lãnh đạo đội quân đánh thắng thực dân Tây Ban Nha ở đảo Mác-tan Trở thành biểu tượng ý chí chiến đấu của người Phi-líp-pin
Giữa thế kỉ XVI Phi-líp-pin bị Tây Ban Nha xâm lược và thống trị Phi-líp-pin rơi vào ách thực dân
Cuối thế kỉ XVI Hà Lan bắt đầu xâm nhập In-đô-nê-xi-a Khởi đầu cuộc cạnh tranh với Bồ Đào Nha tại In-đô-nê-xi-a
Năm 1824 – 1885 Anh tiến hành 3 cuộc chiến tranh xâm lược Miến Điện Hoàn thành việc xâm chiếm Mi-an-ma
Năm 1851 Vua Ra-ma IV bắt đầu cải cách ở Xiêm Khởi đầu chính sách mở cửa buôn bán với nước ngoài
Năm 1858 – 1893 Pháp tiến hành chiến tranh xâm lược 3 nước Đông Dương Hoàn thành việc xâm chiếm Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia
Năm 1868 Vua Ra-ma V lên ngôi, tiến hành cải cách toàn diện Cải cách kinh tế, xã hội, hành chính, giáo dục, ngoại giao
Năm 1874 Chính phủ Xiêm miễn trừ và giảm thuế nông nghiệp Thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và khai khẩn đất hoang
Năm 1892 Ra-ma V cải cách hành chính theo mô hình phương Tây Hiện đại hóa bộ máy quản lí nhà nước
Năm 1897 Ra-ma V công du sang các nước châu Âu Xóa bỏ các hiệp ước bất bình đẳng, tìm kiếm đồng thuận quốc tế
Năm 1898 Công bố Chương trình giáo dục đầu tiên ở Xiêm Đánh dấu bước tiến về cải cách giáo dục theo hướng hiện đại
Năm 1898 Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha kết thúc, Phi-líp-pin trở thành thuộc địa của Mỹ Chuyển giao ách đô hộ từ Tây Ban Nha sang Mỹ
Năm 1907 Xiêm kí hiệp ước cắt đất ảnh hưởng ở Lào, Cam-pu-chia cho Pháp Giữ vững độc lập bằng nhượng bộ lãnh thổ
Năm 1909 Xiêm kí hiệp ước cắt đất ảnh hưởng ở Mã Lai cho Anh Hoàn tất chiến lược ngoại giao mềm dẻo
Năm 1917 Thành lập Trường Đại học Chu-la-long-kon ở Xiêm Dấu mốc cải cách giáo dục đại học
Đầu thế kỉ XX Thực dân phương Tây hoàn thành quá trình xâm lược Đông Nam Á Hầu hết các nước Đông Nam Á trở thành thuộc địa, chỉ có Xiêm giữ được độc lập

Sơ đồ tóm tắt bài học

Quá trình xâm lược và cai trị của chủ nghĩa thực dân ở Đông Nam Á

1. Quá trình xâm lược của thực dân phương Tây

Bối cảnh

  • Từ đầu thế kỉ XVI, các nước phương Tây xâm nhập qua buôn bán và truyền giáo
  • Các nước Đông Nam Á bước vào thời kì suy thoái, khủng hoảng của chế độ phong kiến

Đông Nam Á hải đảo (xâm lược sớm hơn)

  • 1511: Bồ Đào Nha chiếm Ma-lắc-ca
  • Giữa thế kỉ XVI: Tây Ban Nha xâm lược Phi-líp-pin (sau 1898 thuộc Mỹ)
  • Cuối thế kỉ XVI – giữa thế kỉ XIX: Hà Lan kiểm soát In-đô-nê-xi-a
  • Đầu thế kỉ XX: Anh chiếm Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po, Bru-nây

Đông Nam Á lục địa (xâm lược muộn hơn)

  • 1824 – 1885: Anh chiếm Miến Điện (Mi-an-ma) qua 3 cuộc chiến tranh
  • 1858 – 1893: Pháp chiếm 3 nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia)
  • Xiêm: giữ được độc lập, trở thành vùng đệm giữa Anh và Pháp

2. Chính sách cai trị của thực dân

Chính trị

  • Duy trì thế lực phong kiến địa phương làm công cụ cai trị
  • Cai trị trực tiếp hoặc gián tiếp, mọi quyền lực tập trung vào chính quyền thực dân
  • Chính sách “chia để trị” làm suy yếu sức mạnh dân tộc
  • Xây dựng quân đội người bản địa để đàn áp phản kháng

Kinh tế

  • Bóc lột, khai thác thuộc địa làm nơi cung cấp nguyên liệu và thị trường tiêu thụ
  • Chính sách thuế khóa nặng nề, cướp ruộng đất lập đồn điền
  • Khai thác các sản vật đặc trưng: cao su, cà phê, chè, lúa gạo

Văn hóa – xã hội

  • Kìm hãm người dân trong lạc hậu, nghèo đói
  • Chính sách ngu dân: tỉ lệ mù chữ cao (Mã Lai 91,5%; Việt Nam hơn 90%)
  • Đầu độc người dân bằng rượu, thuốc phiện
  • Hệ thống y tế lạc hậu

3. Công cuộc cải cách ở Xiêm

Bối cảnh và lãnh đạo

  • Giữa thế kỉ XIX: Xiêm bị đe dọa xâm lược
  • Ra-ma IV (từ 1851): mở cửa buôn bán
  • Ra-ma V (từ 1868): cải cách toàn diện

Nội dung cải cách

  • Kinh tế: khuyến khích công nghiệp, đường sắt; miễn giảm thuế nông nghiệp (1874); quản lí ruộng đất hiện đại
  • Hành chính (1892): cải cách theo mô hình phương Tây
  • Giáo dục (1898): công bố Chương trình giáo dục đầu tiên
  • Ngoại giao: Ra-ma V công du châu Âu (1897); cắt đất cho Pháp (1907) và Anh (1909)

Ý nghĩa

  • Thúc đẩy sản xuất phát triển, hội nhập thế giới
  • Đưa Xiêm phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa
  • Giữ vững độc lập, trở thành nước duy nhất ở Đông Nam Á không bị biến thành thuộc địa

Nguyên nhân Xiêm không trở thành thuộc địa

  • Cải cách toàn diện, nâng cao thực lực quốc gia
  • Ngoại giao mềm dẻo, chấp nhận nhượng bộ lãnh thổ
  • Vị trí vùng đệm giữa thuộc địa Anh và Pháp
Cô Ngô Thị Ánh Ngọc

Cô Ngô Thị Ánh Ngọc

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử THPT

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Lịch sử, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 7+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Kim Liên