Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- I. Vị trí địa chiến lược của Việt Nam và vai trò, ý nghĩa của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
- 1. Vị trí địa chiến lược của Việt Nam
- 2. Vai trò, ý nghĩa của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
- II. Một số cuộc kháng chiến thắng lợi tiêu biểu
- 1. Khái quát về các cuộc kháng chiến thắng lợi
- 2. Nguyên nhân thắng lợi
- III. Một số cuộc kháng chiến không thành công
- 1. Khái quát về các cuộc kháng chiến không thành công
- 2. Nguyên nhân kháng chiến không thành công
- Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng
- Sơ đồ tóm tắt bài học
I. Vị trí địa chiến lược của Việt Nam và vai trò, ý nghĩa của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
1. Vị trí địa chiến lược của Việt Nam
Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Á – khu vực nằm trên trục đường giao thông quan trọng kết nối châu Á và châu Đại Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Việt Nam cũng là cầu nối giữa Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á, giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo. Cùng với nguồn tài nguyên phong phú, dân cư đông đúc, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có vị trí địa chiến lược quan trọng.
Chính vì vị trí địa chiến lược quan trọng đó, trong suốt tiến trình lịch sử, Việt Nam luôn phải đối phó với nhiều thế lực ngoại xâm và tiến hành nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

2. Vai trò, ý nghĩa của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
Vai trò
Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có vai trò quan trọng đối với sự sinh tồn và phát triển của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi của những cuộc kháng chiến góp phần bảo vệ vững chắc nền độc lập, giữ gìn bản sắc văn hóa và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng đất nước.
Ý nghĩa
Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành và nâng cao lòng tự hào, ý thức tự cường và tô đậm những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời để lại nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc.
Lịch sử chống ngoại xâm vừa thử thách vừa tôi luyện dân tộc ta, hun đúc nên nhiều truyền thống tốt đẹp, tiêu biểu là lòng yêu nước tha thiết, ý chí độc lập tự chủ mạnh mẽ, tinh thần đoàn kết keo sơn, chí quật cường bất khuất, trí thông minh sáng tạo.
II. Một số cuộc kháng chiến thắng lợi tiêu biểu
1. Khái quát về các cuộc kháng chiến thắng lợi
Cho đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, dân tộc Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và giành được thắng lợi.
| Tên cuộc kháng chiến | Thời gian | Người chỉ huy | Trận quyết chiến |
|---|---|---|---|
| Kháng chiến chống quân Nam Hán | 938 | Ngô Quyền | Sông Bạch Đằng (tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hải Phòng) |
| Kháng chiến chống quân Tống | 981 | Lê Hoàn | Sông Bạch Đằng (tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hải Phòng) |
| Kháng chiến chống quân Tống | 1075 – 1077 | Lý Thường Kiệt | Phòng tuyến Như Nguyệt (tỉnh Bắc Ninh) |
| Kháng chiến chống quân Mông Cổ | 1258 | Trần Thái Tông, Trần Thủ Độ | Bình Lệ Nguyên (tỉnh Phú Thọ), Đông Bộ Đầu (thành phố Hà Nội) |
| Kháng chiến chống quân Nguyên | 1285 | Trần Thánh Tông, Trần Quốc Tuấn | Tây Kết, Hàm Tử (tỉnh Hưng Yên), Chương Dương, Thăng Long (thành phố Hà Nội) |
| Kháng chiến chống quân Nguyên | 1287 – 1288 | Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn | Sông Bạch Đằng (tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hải Phòng) |
| Kháng chiến chống quân Xiêm | 1785 | Nguyễn Huệ | Rạch Gầm – Xoài Mút (tỉnh Tiền Giang) |
| Kháng chiến chống quân Thanh | 1789 | Quang Trung (Nguyễn Huệ) | Ngọc Hồi – Đống Đa (thành phố Hà Nội) |


2. Nguyên nhân thắng lợi
Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong lịch sử Việt Nam giành được thắng lợi nhờ bốn nguyên nhân chủ yếu.
Trước hết, các cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đều là các cuộc chiến tranh chính nghĩa nhằm bảo vệ độc lập dân tộc.
Thứ hai, nhân dân Việt Nam có lòng yêu nước nồng nàn. Tất cả các tầng lớp nhân dân, các dân tộc đều tham gia kháng chiến, tạo thành khối đoàn kết toàn dân vững chắc. Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285, nhà Trần đã tổ chức Hội nghị Bình Than (1282) triệu tập vương hầu, quý tộc, tướng lĩnh để bàn kế sách đánh giặc. Trong thời gian này, Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ khích lệ quân sĩ đứng lên đánh giặc. Năm 1285, tại điện Diên Hồng ở kinh thành Thăng Long, khi Thượng hoàng Trần Thánh Tông hỏi về quyết tâm đánh giặc, các bô lão đồng thanh hô lớn “Đánh!”.
Thứ ba, kế sách đánh giặc đúng đắn, linh hoạt, nghệ thuật quân sự độc đáo, sáng tạo cũng là nguyên nhân quan trọng đưa đến thắng lợi của các cuộc kháng chiến. Trong cuộc kháng chiến chống Tống (1075 – 1077), Triều Lý đã thực hiện kế sách “tiên phát chế nhân”, chủ động tập kích vào các căn cứ Khâm Châu, Liêm Châu, Ung Châu (Trung Quốc) nhằm ngăn chặn âm mưu xâm lược của quân Tống. Trong cuộc kháng chiến chống quân Thanh, Quang Trung đã vận dụng nghệ thuật “đánh nhanh, thắng nhanh” một cách chủ động, bằng trận quyết chiến chiến lược ở Ngọc Hồi – Đống Đa (Hà Nội) đã đánh tan hàng chục vạn quân Thanh xâm lược chỉ trong thời gian ngắn.
Thứ tư, những người lãnh đạo, chỉ huy các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đều là các vị tướng lĩnh tài năng, mưu lược như Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ.
Ngoài ra, các cuộc chiến tranh xâm lược của ngoại bang là chiến tranh phi nghĩa. Trong quá trình xâm lược, quân giặc còn gặp một số khó khăn như đường hành quân xa, thiếu lương thực, không quen địa hình và điều kiện tự nhiên của Đại Việt.
III. Một số cuộc kháng chiến không thành công
1. Khái quát về các cuộc kháng chiến không thành công
Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, có một số cuộc kháng chiến không thành công như kháng chiến chống quân Triệu của An Dương Vương (179 TCN), kháng chiến chống quân Minh của nhà Hồ (1406 – 1407) và kháng chiến chống thực dân Pháp của nhà Nguyễn (1858 – 1884).
Kháng chiến chống quân Triệu (179 TCN)
Sau nhiều năm tấn công xâm lược Âu Lạc nhưng thất bại, Triệu Đà lập kế giảng hòa với An Dương Vương để tìm hiểu bí mật quân sự của thành Cổ Loa, rồi bất ngờ đánh úp. Cuộc kháng chiến của nhân dân Âu Lạc thất bại.
Kháng chiến chống quân Minh (1406 – 1407)
Cuối năm 1406, nhà Minh huy động một lực lượng quân đội lớn do Trương Phụ và Mộc Thạnh chỉ huy sang xâm lược nước Đại Ngu. Thành Đa Bang, Đông Đô (Hà Nội) lần lượt thất thủ, nhà Hồ phải rút quân về cố thủ ở thành Tây Đô (Thanh Hóa). Đến tháng 6 – 1407, cuộc kháng chiến của nhà Hồ bị thất bại.
Kháng chiến chống thực dân Pháp (1858 – 1884)
Năm 1858, liên quân Pháp và Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Nhân dân phối hợp với quân đội triều đình anh dũng chiến đấu chống quân xâm lược Pháp ở các mặt trận Đà Nẵng, Gia Định, Bắc Kì. Một số cuộc nổi dậy chống quân Pháp xâm lược do Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân lãnh đạo và các chiến thắng Cầu Giấy lần 1, lần 2 đã gây cho Pháp nhiều thiệt hại.
Trong lúc phong trào kháng chiến đang diễn ra mạnh mẽ thì triều đình nhà Nguyễn đã từng bước nhượng bộ, lần lượt kí với Pháp các bản hiệp ước Nhâm Tuất (1862), Giáp Tuất (1874), Hác-măng (1883) và Pa-tơ-nốt (1884). Hiệp ước Pa-tơ-nốt đánh dấu sự đầu hàng hoàn toàn của Triều Nguyễn trước thực dân Pháp, kết thúc giai đoạn tồn tại của Nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập.
2. Nguyên nhân kháng chiến không thành công
Các cuộc kháng chiến không thành công là do ba nguyên nhân chủ yếu.
Một là, những người lãnh đạo kháng chiến đã không tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, không xây dựng được khối đoàn kết toàn dân. Tương truyền, An Dương Vương không nghe lời khuyên bảo, can ngăn của các tướng giỏi như Cao Lỗ, Nồi Hầu, làm cho nội bộ bất hòa. Khi họp bàn về kế sách chống giặc Minh, Hồ Nguyên Trừng đã nói rằng ông không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo.
Hai là, trong quá trình tổ chức kháng chiến, những người lãnh đạo, chỉ huy phạm phải một số sai lầm nghiêm trọng. Triều Hồ quá chú trọng vào việc xây dựng các phòng tuyến quân sự và lực lượng quân đội chính quy; trong chiến đấu chủ yếu phòng ngự, cố thủ trong các thành Đa Bang, Đông Đô (Hà Nội), Tây Đô (Thanh Hóa). Triều Nguyễn không có đường lối kháng chiến đúng đắn lại thiên về chủ hòa. Các phong trào kháng chiến của nhân dân tuy diễn ra quyết liệt nhưng thiếu sự lãnh đạo thống nhất của triều đình.
Ba là, tương quan lực lượng chênh lệch không có lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam cũng là nguyên nhân khách quan dẫn đến sự thất bại của các cuộc kháng chiến.
Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng
Các cuộc kháng chiến thắng lợi tiêu biểu
| Thời gian | Cuộc kháng chiến | Người chỉ huy | Trận quyết chiến tiêu biểu |
|---|---|---|---|
| Năm 938 | Chống quân Nam Hán | Ngô Quyền | Sông Bạch Đằng |
| Năm 981 | Chống quân Tống | Lê Hoàn | Sông Bạch Đằng |
| Năm 1075 – 1077 | Chống quân Tống | Lý Thường Kiệt | Phòng tuyến Như Nguyệt (Bắc Ninh) |
| Năm 1258 | Chống quân Mông Cổ lần thứ nhất | Trần Thái Tông, Trần Thủ Độ | Bình Lệ Nguyên (Phú Thọ), Đông Bộ Đầu (Hà Nội) |
| Năm 1282 | Hội nghị Bình Than | Vua Trần, vương hầu, tướng lĩnh | Bàn kế sách chống Nguyên |
| Năm 1285 | Chống quân Nguyên lần thứ hai; Hội nghị Diên Hồng | Trần Thánh Tông, Trần Quốc Tuấn | Tây Kết, Hàm Tử (Hưng Yên), Chương Dương, Thăng Long |
| Năm 1287 – 1288 | Chống quân Nguyên lần thứ ba | Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn | Sông Bạch Đằng |
| Năm 1785 | Chống quân Xiêm | Nguyễn Huệ | Rạch Gầm – Xoài Mút (Tiền Giang) |
| Năm 1789 | Chống quân Thanh | Quang Trung (Nguyễn Huệ) | Ngọc Hồi – Đống Đa (Hà Nội) |
Các cuộc kháng chiến không thành công
| Thời gian | Cuộc kháng chiến | Nội dung chính | Kết cục |
|---|---|---|---|
| Năm 179 TCN | Chống quân Triệu (An Dương Vương) | Triệu Đà giảng hòa, dò bí mật quân sự, đánh úp thành Cổ Loa | Âu Lạc thất bại, rơi vào ách đô hộ phương Bắc |
| Năm 1406 – 1407 | Chống quân Minh (Nhà Hồ) | Trương Phụ, Mộc Thạnh chỉ huy quân Minh; Đa Bang, Đông Đô, Tây Đô lần lượt thất thủ | Tháng 6 – 1407 nhà Hồ thất bại |
| Năm 1858 | Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng | Mở đầu chiến tranh xâm lược của Pháp | Nhân dân anh dũng kháng chiến |
| Năm 1862 | Hiệp ước Nhâm Tuất | Triều Nguyễn nhượng bộ lần đầu cho Pháp | Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì |
| Năm 1874 | Hiệp ước Giáp Tuất | Triều Nguyễn tiếp tục nhượng bộ | Pháp hoàn tất chiếm sáu tỉnh Nam Kì |
| Năm 1883 | Hiệp ước Hác-măng | Mở rộng sự thỏa hiệp của Triều Nguyễn với Pháp | Pháp đặt nền bảo hộ ở Bắc Kì và Trung Kì |
| Năm 1884 | Hiệp ước Pa-tơ-nốt | Triều Nguyễn đầu hàng hoàn toàn | Kết thúc Nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập |
Sơ đồ tóm tắt bài học
Khái quát về chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong lịch sử Việt Nam
1. Vị trí địa chiến lược và vai trò, ý nghĩa của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
Vị trí địa chiến lược của Việt Nam
- Thuộc khu vực Đông Nam Á, nằm trên trục đường giao thông kết nối châu Á – châu Đại Dương, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương
- Cầu nối giữa Trung Quốc với Đông Nam Á, giữa Đông Nam Á lục địa và hải đảo
- Tài nguyên phong phú, dân cư đông đúc
- Hệ quả: liên tục phải đối phó với nhiều thế lực ngoại xâm
Vai trò, ý nghĩa
- Vai trò: bảo vệ nền độc lập, giữ gìn bản sắc văn hóa, tạo điều kiện xây dựng đất nước
- Ý nghĩa: nâng cao lòng tự hào, ý thức tự cường; hun đúc truyền thống yêu nước, đoàn kết, thông minh, sáng tạo; để lại bài học kinh nghiệm quý báu
2. Các cuộc kháng chiến thắng lợi tiêu biểu
Các cuộc kháng chiến tiêu biểu trước 1945
- 938: Ngô Quyền chống Nam Hán – Bạch Đằng
- 981: Lê Hoàn chống Tống – Bạch Đằng
- 1075 – 1077: Lý Thường Kiệt chống Tống – Như Nguyệt
- 1258: chống Mông Cổ lần thứ nhất – Bình Lệ Nguyên, Đông Bộ Đầu
- 1285: chống Nguyên lần thứ hai – Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long
- 1287 – 1288: chống Nguyên lần thứ ba – Bạch Đằng
- 1785: Nguyễn Huệ chống Xiêm – Rạch Gầm – Xoài Mút
- 1789: Quang Trung chống Thanh – Ngọc Hồi – Đống Đa
Bốn nguyên nhân thắng lợi
- Tính chính nghĩa của các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc
- Lòng yêu nước nồng nàn, khối đoàn kết toàn dân (Hội nghị Bình Than 1282, Hội nghị Diên Hồng 1285, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn)
- Kế sách đánh giặc đúng đắn, nghệ thuật quân sự sáng tạo (“tiên phát chế nhân”, “đánh nhanh thắng nhanh”)
- Tài năng của các tướng lĩnh (Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ)
- Nguyên nhân khách quan: chiến tranh xâm lược phi nghĩa, quân giặc gặp khó khăn
3. Các cuộc kháng chiến không thành công
Ba cuộc kháng chiến tiêu biểu
- 179 TCN: An Dương Vương chống Triệu – mất cảnh giác trước kế giảng hòa của Triệu Đà
- 1406 – 1407: Nhà Hồ chống Minh – phòng ngự cố thủ, không được lòng dân
- 1858 – 1884: Nhà Nguyễn chống Pháp – lần lượt kí 4 hiệp ước: Nhâm Tuất (1862), Giáp Tuất (1874), Hác-măng (1883), Pa-tơ-nốt (1884)
Ba nguyên nhân không thành công
- Không tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân, không xây dựng được khối đoàn kết toàn dân
- Lãnh đạo phạm sai lầm nghiêm trọng (nhà Hồ phòng ngự cố thủ; nhà Nguyễn thiên về chủ hòa)
- Tương quan lực lượng chênh lệch không có lợi cho Việt Nam

Cô Ngô Thị Ánh Ngọc
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử THPT
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Lịch sử, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 7+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Kim Liên
