Bài 13: Việt Nam và Biển Đông | Lý thuyết, Lịch sử 11

I. Tầm quan trọng của Biển Đông đối với Việt Nam

Việt Nam giáp với Biển Đông ở ba phía (đông, nam và tây nam) và có đường bờ biển dài khoảng 3.260 km, từ tỉnh Quảng Ninh đến tỉnh An Giang. Biển Đông đóng vai trò quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong lịch sử, hiện tại và tương lai.

1. Về quốc phòng, an ninh

Biển Đông là tuyến phòng thủ phía đông của đất nước. Hệ thống các đảo, quần đảo của Việt Nam trên Biển Đông hợp thành tuyến phòng thủ bảo vệ vùng trời, vùng biển và đất liền.

Vịnh Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa) được coi là một trong những cảng nước sâu tốt nhất châu Á. Vị trí và địa hình của vịnh rất thuận lợi cho xây dựng các cơ sở phòng vệ chiến lược quan trọng. Đảo Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị) được coi là “vọng gác tiền tiêu” của Việt Nam ở phía nam vịnh Bắc Bộ.

Một góc đảo Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị) – "vọng gác tiền tiêu" của Việt Nam ở phía nam vịnh Bắc Bộ
Một góc đảo Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị) – “vọng gác tiền tiêu” của Việt Nam ở phía nam vịnh Bắc Bộ

2. Về phát triển các ngành kinh tế trọng điểm

Vị trí địa lí và tài nguyên của Biển Đông tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển đa dạng với các ngành mũi nhọn như thương mại biển, khai thác và nuôi trồng thủy sản, khai thác khoáng sản, sửa chữa và đóng tàu, du lịch.

Thủy sản

Trữ lượng cá ở vùng biển Việt Nam có khả năng khai thác hằng năm đạt khoảng 2,3 triệu tấn.

Dầu khí và khoáng sản

Trữ lượng dầu mỏ và khí đốt được xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỉ m³ khí. Vùng ven biển Việt Nam còn có tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng như ti-tan, thiếc, vàng, sắt, man-gan, đất hiếm, trong đó cát nặng, cát đen là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước.

Du lịch

Đường bờ biển dài có nhiều bãi cát, vịnh, hang động tự nhiên đẹp như Hạ Long, Cửa Lò, Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc tạo điều kiện cho Việt Nam trở thành một “điểm du lịch hấp dẫn”. Cát Bà (thành phố Hải Phòng) là một quần đảo với hơn 300 đảo lớn nhỏ, có tiềm năng du lịch phong phú, đang được đầu tư phát triển trở thành điểm du lịch xanh đẳng cấp quốc tế.

Hệ thống cảng biển

Dọc bờ biển có thể xây dựng các cảng biển nước sâu (Cái Lân, Nghi Sơn, Dung Quất, Vân Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu) và cảng trung bình (Hải Phòng, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang).

Giao lưu quốc tế

Biển Đông là “cửa ngõ” để Việt Nam giao lưu kinh tế và hợp tác với các nước trên thế giới, đặc biệt là với khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Hàng hóa xuất – nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu được vận chuyển bằng đường biển qua Biển Đông.

Một góc đảo Phú Quốc (tỉnh An Giang)
Một góc đảo Phú Quốc (tỉnh An Giang)

II. Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa

1. Quá trình Việt Nam xác lập chủ quyền và quản lí đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa

Các bằng chứng khảo cổ học đã chứng minh rằng ngay từ đầu Công nguyên, người Việt đã tích cực, chủ động và sớm có hoạt động kinh tế và văn hóa ở Biển Đông. Cùng với những nguồn sử liệu tin cậy, có giá trị pháp lí cao của Việt Nam và nước ngoài qua các thời kì đã khẳng định Việt Nam là Nhà nước đầu tiên xác lập chủ quyền và thực hiện quản lí liên tục đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Trước năm 1884

Nhiều tập bản đồ của các triều đại quân chủ Việt Nam như Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1686), Giáp Ngọ niên bình Nam đồ (1774), Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838) và của người phương Tây như Bộ Át lát thế giới (1827), An Nam đại quốc họa đồ (1838) đã thể hiện quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Một số công trình sử học và địa lí của Việt Nam cũng ghi chép tường tận về cương vực lãnh thổ và những hoạt động thực thi, bảo vệ chủ quyền của các chính quyền chúa Nguyễn, vua Lê – chúa Trịnh, Triều Tây Sơn và Triều Nguyễn ở quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa như Đại Việt sử ký tục biên, Phủ biên tạp lục, Đại Nam thực lục, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Đại Nam nhất thống chí.

Hoạt động xác lập chủ quyền, quản lí liên tục mang tính nhà nước đối với quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa được khẳng định thông qua việc thành lập và hoạt động của các đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XIX. Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa là một tập tục cổ truyền có từ thời Hải đội Hoàng Sa (thế kỉ XVII) nhằm tri ân những người đi làm nhiệm vụ và cầu cho họ được bình an trở về. Ngày nay, lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa vẫn được duy trì.

Dưới thời vua Gia Long, triều đình đã tiến hành các hoạt động khẳng định chủ quyền ở quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa một cách quy củ như tổ chức đội thủy quân chuyên trách thực thi chủ quyền. Đến thời vua Minh Mạng, việc cử thủy quân ra quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã trở thành lệ đều đặn hằng năm. Nhà vua cũng coi việc vẽ bản đồ hai quần đảo này là trọng trách của Nhà nước, lệnh cho cắm dấu mốc tại nơi khảo sát và thực hiện cứu nạn, bảo đảm an toàn cho tàu thuyền qua lại khu vực Biển Đông. Năm 1835, vua Minh Mạng cho người dựng miếu và trồng cây ở một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Về đơn vị hành chính, thời chúa Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa thuộc phủ Quảng Nghĩa (Quảng Ngãi). Thời nhà Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi.

Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838)
Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838)
Tượng đài đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi)
Tượng đài đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi)

Từ năm 1884 đến năm 1975

Cuối thế kỉ XIX, chính quyền thực dân Pháp (khi đó là đại diện ngoại giao của Triều Nguyễn) tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam, quản lí, bảo vệ quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa theo đúng thông lệ pháp lí quốc tế. Năm 1909, người Pháp đã có thông báo về các cuộc khảo sát trái phép của Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Cuộc khảo sát khoa học đầu tiên của các nhà khoa học người Pháp đã được tiến hành tại quần đảo Hoàng Sa vào năm 1925 và tại quần đảo Trường Sa vào năm 1927. Quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Bà Rịa và quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên.

Từ những năm 30 của thế kỉ XX, người Pháp đã tiến hành xây dựng cột mốc chủ quyền, đèn biển, trạm khí tượng, trạm vô tuyến điện và thực hiện nhiều khảo sát khoa học. Năm 1937 xây cột hải đăng trên quần đảo Hoàng Sa; năm 1938 dựng bia chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa.

Đến tháng 9 – 1951, chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa tiếp tục được tuyên bố tại Hội nghị Hòa bình Xan Phran-xi-xcô mà không bị các quốc gia tham dự hội nghị phản đối.

Từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được đặt dưới sự quản lí hành chính của các chính quyền ở miền Nam Việt Nam. Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn) đã liên tục thực thi chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thông qua việc ban hành các văn bản hành chính nhà nước, cử quân đồn trú, dựng bia chủ quyền, treo cờ trên các đảo chính. Về mặt hành chính, quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam (thuộc thành phố Đà Nẵng ngày nay) và quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy (thuộc Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay).

Từ giữa tháng 4 – 1975, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã triển khai lực lượng thực thi chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.

Từ sau năm 1975 đến nay

Sau khi đất nước thống nhất, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tiếp tục quản lí và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Các đơn vị hành chính tại hai quần đảo này đã được thành lập.

Năm 1982, huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (từ năm 1997 thuộc thành phố Đà Nẵng) và huyện Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai (từ tháng 7 – 1989 thuộc tỉnh Khánh Hòa) được thành lập. Trong huyện Trường Sa có các đơn vị hành chính nhỏ hơn như thị trấn Trường Sa (bao gồm đảo Trường Sa và phụ cận), xã Song Tử Tây (đảo Song Tử Tây và phụ cận), xã Sinh Tồn (đảo Sinh Tồn và phụ cận).

Từ tháng 7 – 2025, huyện Hoàng Sa đổi thành đặc khu Hoàng Sa (thành phố Đà Nẵng) và huyện Trường Sa đổi thành đặc khu Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa), là hai trong 13 đặc khu của cả nước.

2. Cuộc đấu tranh bảo vệ, thực thi chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông

Nhà nước Việt Nam qua các thời kì lịch sử có những hoạt động đấu tranh kiên quyết nhằm bảo vệ, thực thi chủ quyền biển đảo, đặc biệt là đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Trước năm 1884

Từ thời chúa Nguyễn, Vương triều Tây Sơn, các đội Hoàng Sa, Bắc Hải có nhiệm vụ tuần tiễu giữ gìn vùng biển, ứng chiến với nạn cướp biển và những xâm phạm tại quần đảo Hoàng Sa. Dưới Triều Nguyễn, các đội thủy quân chuyên trách công việc bảo vệ, thực thi chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa được tổ chức.

Từ năm 1884 đến năm 1954

Năm 1939, chính quyền thực dân Pháp gửi công hàm phản đối việc Nhật Bản tuyên bố kiểm soát một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Năm 1946 và 1947, chính quyền thực dân Pháp cho hải quân trú đóng ở các đảo chính thuộc quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và yêu cầu quân đội Trung Hoa Dân quốc rút khỏi các đảo đã chiếm đóng trái phép.

Từ năm 1954 đến năm 1975

Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra tuyên bố khẳng định chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Tháng 1 – 1974, quân đội Việt Nam Cộng hòa (quân đội Sài Gòn) thất bại trong cuộc chiến đấu ở quần đảo Hoàng Sa trước sự tấn công của quân đội Trung Quốc.

Từ sau năm 1975 đến nay

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiên trì đấu tranh ngoại giao và pháp lí để khẳng định, bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và môi trường hòa bình, hợp tác trên Biển Đông.

Tháng 3 – 1988, nhiều chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đã hi sinh anh dũng khi chiến đấu bảo vệ chủ quyền tại các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao trước cuộc tấn công của quân đội Trung Quốc. Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma được xây dựng ở xã Cam Lâm (tỉnh Khánh Hòa) để tưởng nhớ những chiến sĩ hải quân Việt Nam đã hi sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc năm 1988.

III. Chủ trương của Việt Nam trong giải quyết các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông

Nhà nước Việt Nam thực hiện các biện pháp toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế và quân sự nhằm bảo vệ quyền, chủ quyền và các lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông.

Đối với các tranh chấp chủ quyền, Việt Nam chủ trương giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông thông qua biện pháp hòa bình với tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế.

1. Ban hành văn bản pháp luật khẳng định chủ quyền

  • Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam (5 – 1977).
  • Các Sách trắng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa theo luật pháp quốc tế (9 – 1979, 12 – 1981, 4 – 1988).
  • Luật Biên giới quốc gia (6 – 2003).
  • Bộ luật Hàng hải Việt Nam (6 – 2005, 11 – 2015).

2. Tham gia Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS)

Theo Công ước về Luật Biển (UNCLOS), Việt Nam là quốc gia ven biển có các vùng biển và thềm lục địa để thăm dò và khai thác với diện tích khoảng 1 triệu ki-lô-mét vuông, rộng gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền.

3. Thông qua Luật Biển Việt Nam năm 2012

Luật Biển Việt Nam quy định Nhà nước giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế.

4. Thúc đẩy và thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)

Tuyên bố DOC được các nước ASEAN và Trung Quốc kí ngày 4 – 11 – 2002 tại Thủ đô Phnôm Pênh, Cam-pu-chia. Điều 4 của Tuyên bố quy định các bên liên quan chịu trách nhiệm giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ và về quyền thực thi luật pháp bằng các phương tiện hòa bình mà không viện đến sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, thông qua các cuộc tham vấn thân thiện và những cuộc đàm phán bởi các quốc gia có chủ quyền có liên quan trực tiếp, phù hợp với những nguyên tắc được thừa nhận phổ quát của luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

5. Phát triển kinh tế biển gắn với quốc phòng, an ninh

Để tăng cường tiềm lực quốc gia phục vụ hoạt động bảo vệ chủ quyền biển đảo, Việt Nam thực hiện phát triển kinh tế biển gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh trên biển và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển.

Lễ kí kết Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) tại Cam-pu-chia (2002)
Lễ kí kết Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) tại Cam-pu-chia (2002)
Tàu hộ vệ tên lửa 016 Quang Trung – chiến hạm của Hải quân Nhân dân Việt Nam
Tàu hộ vệ tên lửa 016 Quang Trung – chiến hạm của Hải quân Nhân dân Việt Nam

Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng

Thời gian Sự kiện Ý nghĩa
Đầu Công nguyên Người Việt có hoạt động kinh tế, văn hóa ở Biển Đông Chứng minh Việt Nam sớm hiện diện và khai thác Biển Đông
Thế kỉ XVII – đầu thế kỉ XIX Thành lập và hoạt động của đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải; lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa Thực thi chủ quyền liên tục mang tính nhà nước đối với hai quần đảo
Năm 1686 Biên soạn Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư Bản đồ thể hiện quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam
Năm 1774 Biên soạn Giáp Ngọ niên bình Nam đồ Tiếp tục khẳng định chủ quyền lãnh thổ trên bản đồ
Năm 1827 Bộ Át lát thế giới của người phương Tây Tư liệu quốc tế ghi nhận chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo
Năm 1835 Vua Minh Mạng cho dựng miếu và trồng cây ở một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa Củng cố chủ quyền quốc gia trên thực địa
Năm 1838 Biên soạn Đại Nam nhất thống toàn đồ và An Nam đại quốc họa đồ Khẳng định chủ quyền qua bản đồ Việt Nam và phương Tây
Năm 1909 Pháp thông báo về các cuộc khảo sát trái phép của Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa Pháp (đại diện ngoại giao của Triều Nguyễn) khẳng định chủ quyền Việt Nam
Năm 1925 Cuộc khảo sát khoa học đầu tiên tại quần đảo Hoàng Sa Thực thi chủ quyền trên thực tế theo thông lệ quốc tế
Năm 1927 Cuộc khảo sát khoa học đầu tiên tại quần đảo Trường Sa Tiếp tục hoạt động thực thi chủ quyền
Những năm 30 của thế kỉ XX Pháp xây cột mốc chủ quyền, đèn biển, trạm khí tượng, trạm vô tuyến điện Khẳng định và củng cố chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo
Năm 1937 Xây cột hải đăng trên quần đảo Hoàng Sa Dấu mốc chủ quyền hữu hình trên thực địa
Năm 1938 Dựng bia chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa Khẳng định chủ quyền bằng bia mốc
Năm 1939 Pháp gửi công hàm phản đối Nhật Bản tuyên bố kiểm soát một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa Đấu tranh ngoại giao bảo vệ chủ quyền
Năm 1946 – 1947 Pháp cho hải quân trú đóng, yêu cầu quân đội Trung Hoa Dân quốc rút khỏi các đảo chiếm đóng trái phép Thực thi chủ quyền trên thực địa
Tháng 9 – 1951 Tuyên bố chủ quyền tại Hội nghị Hòa bình Xan Phran-xi-xcô Khẳng định chủ quyền Việt Nam trên trường quốc tế
Năm 1954 Hiệp định Giơ-ne-vơ; hai quần đảo đặt dưới sự quản lí của chính quyền miền Nam Việt Nam Tiếp tục thực thi chủ quyền
Tháng 1 – 1974 Quân đội Việt Nam Cộng hòa thất bại trong cuộc chiến đấu bảo vệ quần đảo Hoàng Sa trước cuộc tấn công của Trung Quốc Biến cố đau thương nhưng không làm mất đi chủ quyền pháp lí của Việt Nam
Tháng 4 – 1975 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam triển khai lực lượng thực thi chủ quyền tại quần đảo Trường Sa Khẳng định chủ quyền sau ngày thống nhất đất nước
Tháng 5 – 1977 Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam Văn bản pháp lí đầu tiên khẳng định các vùng biển Việt Nam
Tháng 9 – 1979 Công bố Sách trắng khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Đấu tranh pháp lí quốc tế bảo vệ chủ quyền
Tháng 12 – 1981 Công bố Sách trắng khẳng định chủ quyền Tiếp tục khẳng định lập trường của Việt Nam
Năm 1982 Thành lập huyện Hoàng Sa (tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng) và huyện Trường Sa (tỉnh Đồng Nai); Việt Nam tham gia UNCLOS Thiết lập đơn vị hành chính và cơ sở pháp lí quốc tế
Tháng 4 – 1988 Công bố Sách trắng khẳng định chủ quyền Đấu tranh pháp lí sau sự kiện Gạc Ma
Tháng 3 – 1988 Các chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam hi sinh anh dũng bảo vệ các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao Biểu tượng tinh thần bất khuất bảo vệ chủ quyền biển đảo
Tháng 7 – 1989 Huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa Điều chỉnh quản lí hành chính
Năm 1997 Huyện Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng Hoàn thiện tổ chức quản lí hành chính
Ngày 4 – 11 – 2002 ASEAN và Trung Quốc kí Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) tại Phnôm Pênh Cơ sở pháp lí khu vực cho giải quyết tranh chấp hòa bình
Tháng 6 – 2003 Ban hành Luật Biên giới quốc gia Hoàn thiện hệ thống pháp luật về chủ quyền biển đảo
Tháng 6 – 2005 Ban hành Bộ luật Hàng hải Việt Nam (sửa đổi tháng 11 – 2015) Quy định về hoạt động hàng hải và chủ quyền biển
Năm 2012 Thông qua Luật Biển Việt Nam Khẳng định chủ trương giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình
Tháng 7 – 2025 Huyện Hoàng Sa đổi thành đặc khu Hoàng Sa (thành phố Đà Nẵng); huyện Trường Sa đổi thành đặc khu Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa) Trở thành hai trong 13 đặc khu của cả nước

Sơ đồ tóm tắt bài học

Việt Nam và Biển Đông

1. Tầm quan trọng của Biển Đông đối với Việt Nam

Vị trí chung

  • Việt Nam giáp Biển Đông ở 3 phía (đông, nam, tây nam)
  • Đường bờ biển dài khoảng 3.260 km, từ Quảng Ninh đến An Giang

Về quốc phòng, an ninh

  • Biển Đông là tuyến phòng thủ phía đông của đất nước
  • Hệ thống đảo, quần đảo hợp thành tuyến phòng thủ bảo vệ vùng trời, vùng biển, đất liền
  • Vịnh Cam Ranh: cảng nước sâu tốt nhất châu Á
  • Đảo Cồn Cỏ: “vọng gác tiền tiêu” ở phía nam vịnh Bắc Bộ

Về phát triển kinh tế

  • Thủy sản: trữ lượng cá khoảng 2,3 triệu tấn/năm
  • Dầu khí: gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỉ m³ khí
  • Khoáng sản: ti-tan, thiếc, vàng, sắt, man-gan, đất hiếm, cát nặng, cát đen
  • Du lịch: Hạ Long, Cửa Lò, Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc
  • Cảng biển nước sâu: Cái Lân, Nghi Sơn, Dung Quất, Vân Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu
  • “Cửa ngõ” giao lưu kinh tế với thế giới

2. Lịch sử bảo vệ chủ quyền

Quá trình xác lập chủ quyền

  • Trước 1884: các đội Hoàng Sa, Bắc Hải (thế kỉ XVII – đầu thế kỉ XIX); bản đồ, công trình sử học khẳng định chủ quyền; vua Minh Mạng dựng miếu, trồng cây (1835); lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa
  • 1884 – 1975: Pháp khảo sát khoa học (Hoàng Sa 1925, Trường Sa 1927); xây cột hải đăng (1937), dựng bia chủ quyền (1938); tuyên bố chủ quyền tại Xan Phran-xi-xcô (9/1951); Việt Nam Cộng hòa quản lí sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954); Quân Giải phóng triển khai lực lượng tại Trường Sa (4/1975)
  • Sau 1975: thành lập huyện Hoàng Sa, Trường Sa (1982); đổi thành đặc khu (7/2025)

Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền

  • Trước 1884: các đội Hoàng Sa, Bắc Hải tuần tiễu; đội thủy quân Triều Nguyễn
  • 1884 – 1954: Pháp phản đối Nhật Bản (1939); yêu cầu Trung Hoa Dân quốc rút quân (1946 – 1947)
  • 1954 – 1975: tuyên bố của Chính phủ Cách mạng lâm thời; thất bại ở Hoàng Sa (1/1974)
  • Sau 1975: đấu tranh ngoại giao, pháp lí; sự kiện Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao (3/1988); Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma

3. Chủ trương của Việt Nam giải quyết tranh chấp

Giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế

Ban hành văn bản pháp luật

  • Tuyên bố về lãnh hải (5/1977)
  • Sách trắng (1979, 1981, 1988)
  • Luật Biên giới quốc gia (6/2003)
  • Bộ luật Hàng hải Việt Nam (6/2005, 11/2015)
  • Luật Biển Việt Nam (2012)

Tham gia UNCLOS 1982

  • Việt Nam có vùng biển, thềm lục địa khoảng 1 triệu km² (gấp 3 lần lãnh thổ đất liền)

Tuyên bố DOC (4/11/2002)

  • Kí giữa ASEAN và Trung Quốc tại Phnôm Pênh
  • Giải quyết tranh chấp bằng phương tiện hòa bình, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực

Phát triển kinh tế biển gắn với quốc phòng, an ninh

  • Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển