Bài 2: Sự xác lập và phát triển của chủ nghĩa tư bản | Lý thuyết, Lịch sử 11

I. Sự xác lập của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu và Bắc Mỹ

Ở châu Âu, sau Cách mạng tư sản Anh và đặc biệt là Cách mạng tư sản Pháp, chủ nghĩa tư bản từng bước được xác lập. Chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ cuối thế kỉ XVIII đánh dấu sự mở rộng của chủ nghĩa tư bản ra ngoài phạm vi châu Âu.

Quá trình xác lập của chủ nghĩa tư bản diễn ra qua ba mốc quan trọng:

  • Nửa sau thế kỉ XVII: chủ nghĩa tư bản được xác lập ở Hà Lan và Anh.
  • Cuối thế kỉ XVIII: chủ nghĩa tư bản được mở rộng ra ngoài phạm vi châu Âu (Bắc Mỹ) và xác lập ở Pháp.
  • Nửa sau thế kỉ XIX: chủ nghĩa tư bản được xác lập ở I-ta-li-a, Đức,…

Từ thập kỉ 60 của thế kỉ XVIII, cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu từ Anh, sau đó lan ra các nước Pháp, Đức,… đã tạo ra những chuyển biến to lớn về kinh tế – xã hội, làm thay đổi bộ mặt của các nước này và khẳng định sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản.

Trong thập kỉ 60 – 70 của thế kỉ XIX, các cuộc cách mạng tư sản tiếp diễn dưới những hình thức khác nhau và giành được thắng lợi (như cuộc đấu tranh thống nhất I-ta-li-a, thống nhất Đức,…), dẫn đến sự xác lập chủ nghĩa tư bản ở châu Âu và Bắc Mỹ.

Sơ đồ sự xác lập của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu và Bắc Mỹ
Sơ đồ sự xác lập của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu và Bắc Mỹ
Lễ đăng quang Hoàng đế nước Đức thống nhất (1-1871) tại Cung điện Véc-xai (Pháp)
Lễ đăng quang Hoàng đế nước Đức thống nhất (1-1871) tại Cung điện Véc-xai (Pháp)

II. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản

1. Chủ nghĩa đế quốc và quá trình xâm lược thuộc địa

Sự phát triển nhanh chóng của chủ nghĩa tư bản kéo theo nhu cầu ngày càng cao về nguyên liệu và nhân công, dẫn tới việc tăng cường chính sách xâm lược, mở rộng thuộc địa. Cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, các nước tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.

Chủ nghĩa đế quốc là hệ quả trực tiếp của quá trình xâm lược thuộc địa nhằm tìm kiếm thị trường, thu lợi nhuận và đầu tư tư bản ở nước ngoài. Trong quá trình xâm lược, các nước đế quốc đã thiết lập hệ thống thuộc địa ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ La-tinh.

Trong số các nước đế quốc, nước Anh được mệnh danh là “đế quốc mà Mặt Trời không bao giờ lặn”. Đến năm 1914, thuộc địa của Anh đã rộng tới 33 triệu km² với 400 triệu người, chiếm 1/4 diện tích và 1/4 dân số thế giới, gấp 12 lần thuộc địa của Đức và 3 lần thuộc địa của Pháp.

2. Sự mở rộng và phát triển của chủ nghĩa tư bản

Nửa đầu thế kỉ XIX, tại hàng loạt thuộc địa của thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ở khu vực Mỹ La-tinh đã bùng nổ phong trào đấu tranh giành độc lập, đưa đến sự thành lập các quốc gia tư sản.

Ở châu Á, cuộc Duy tân Minh Trị bắt đầu từ năm 1868 đã đưa Nhật Bản từ một nước phong kiến trở thành nước tư bản chủ nghĩa. Cuộc cải cách bao gồm những cải cách trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội, giáo dục,… đã đưa nền kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh mẽ, giúp Nhật Bản tránh được nguy cơ bị xâm lược từ các cường quốc thực dân phương Tây; đồng thời biến nước này thành một nước đế quốc chủ nghĩa, gắn với cuộc xâm lược thuộc địa ở khu vực Đông Bắc Á.

Ở Trung Quốc, Cách mạng Tân Hợi (1911) do những trí thức cấp tiến và tiểu tư sản lãnh đạo đã lật đổ triều đại Mãn Thanh, chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại lâu đời. Mặc dù cuộc cách mạng này không thực sự thủ tiêu giai cấp địa chủ phong kiến nhưng đã mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển ở quốc gia rộng lớn và đông dân nhất châu Á.

Trong những năm cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, cùng với việc các nước đế quốc đẩy mạnh xâm lược thuộc địa, chủ nghĩa tư bản đã mở rộng phạm vi ảnh hưởng trên toàn thế giới.

Lược đồ thuộc địa của các nước châu Âu ở khu vực Mỹ La-tinh và năm các thuộc địa giành được độc lập
Lược đồ thuộc địa của các nước châu Âu ở khu vực Mỹ La-tinh và năm các thuộc địa giành được độc lập
Lược đồ các đế quốc và thuộc địa đầu thế kỉ XX
Lược đồ các đế quốc và thuộc địa đầu thế kỉ XX

3. Chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh sang độc quyền

Thời kì xác lập chủ nghĩa tư bản là thời kì tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản. Cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn độc quyền.

Trong khoảng 3 thập kỉ (cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX), việc sử dụng những nguồn năng lượng mới cùng nhiều thành tựu khoa học – kĩ thuật đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Cùng với sự phát triển kinh tế, quá trình cạnh tranh gay gắt làm cho các xí nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản, dẫn đến sự xuất hiện những xí nghiệp khổng lồ và các tổ chức độc quyền.

Tổ chức độc quyền là sự liên minh giữa các nhà tư bản lớn để tập trung vào tay mình phần lớn việc sản xuất hoặc tiêu thụ một số hàng hóa nhằm thu lợi nhuận cao. Các hình thức tiêu biểu của tổ chức độc quyền là các-ten, xanh-đi-ca ở Đức và Pháp, tơ-rớt ở Mỹ.

Sự phát triển của các tổ chức độc quyền tạo ra cơ sở cho bước chuyển của chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh sang độc quyền. Trong giai đoạn này, các tổ chức tư bản độc quyền đã chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Đầu thế kỉ XX, các tổ chức độc quyền ở Pháp, Mỹ, Anh chỉ chiếm khoảng 1% tổng số xí nghiệp toàn thế giới nhưng lại chiếm hơn 3/4 tổng số máy hơi nước và động cơ điện, số lượng công nhân; tổng số sản phẩm được làm ra chiếm gần một nửa so với toàn thế giới.

Tranh biếm họa về một công ti độc quyền dầu mỏ ở Mỹ (1904)
Tranh biếm họa về một công ti độc quyền dầu mỏ ở Mỹ (1904)

III. Chủ nghĩa tư bản hiện đại

1. Khái niệm chủ nghĩa tư bản hiện đại

Chủ nghĩa tư bản hiện đại là thuật ngữ dùng để chỉ một giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay với những biểu hiện mới, tiêu biểu là sự kết hợp giữa sức mạnh kinh tế của các tổ chức độc quyền tư nhân với sức mạnh chính trị của nhà nước tư sản.

Chủ nghĩa tư bản hiện đại có sức sản xuất phát triển cao trên cơ sở những thành tựu của cách mạng khoa học – công nghệ, có lực lượng lao động đáp ứng sự phát triển nhảy vọt của nền sản xuất, đồng thời không ngừng điều chỉnh để tồn tại và phát triển trong bối cảnh mới.

2. Tiềm năng và thách thức của chủ nghĩa tư bản hiện đại

Tiềm năng

Tiềm năng của chủ nghĩa tư bản hiện đại được biểu hiện cụ thể trên nhiều lĩnh vực như: kinh tế, khoa học – công nghệ, kinh nghiệm quản lí, khả năng tự điều chỉnh để tồn tại và phát triển.

Chủ nghĩa tư bản có ưu thế trong việc sử dụng những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để phát triển kinh tế. Các nước tư bản phát triển trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học – công nghệ của thế giới, có quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người thuộc hàng cao nhất thế giới. Tiêu biểu là nhóm G7 (được sáng lập năm 1976) – diễn đàn kinh tế của 7 quốc gia tư bản phát triển gồm Mỹ, Ca-na-đa, Anh, Pháp, Đức, I-ta-li-a và Nhật Bản.

Thách thức

Chủ nghĩa tư bản hiện đại đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn.

Thứ nhất, chủ nghĩa tư bản đang phải đối mặt và khó có thể giải quyết được những cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính mang tính toàn cầu. Từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 đến nay, tuy các nước tư bản phát triển đã coi trọng tìm kiếm các nguồn năng lượng mới, xanh và sạch nhưng sự phụ thuộc vào dầu mỏ vẫn rất lớn. Khủng hoảng năng lượng tiếp tục gây ra nhiều tác động tiêu cực: lạm phát cao, ô nhiễm môi trường,…

Thứ hai, chủ nghĩa tư bản đã và đang phải đối mặt, không thể giải quyết được những vấn đề chính trị, xã hội nan giải như tội ác, bạo lực, tệ nạn xã hội, phân biệt chủng tộc, xả súng,…

Thứ ba, chủ nghĩa tư bản không có khả năng giải quyết triệt để các mâu thuẫn xã hội. Sự chênh lệch giàu nghèo làm sâu sắc thêm tình trạng bất bình đẳng trong xã hội. Phong trào “Chiếm lấy phố Uôn” hay còn gọi là phong trào “99 chống lại 1” xuất hiện ở Mỹ vào đầu năm 2011 là minh chứng rõ nét: 1% dân số Mỹ giàu có sở hữu tài sản quốc gia bằng số tài sản của 99% dân số còn lại. Phong trào đã lan sang nhiều nước tư bản chủ nghĩa.

Biểu tình chống biến đổi khí hậu ở Anh (2019)
Biểu tình chống biến đổi khí hậu ở Anh (2019)
Người biểu tình ở Niu Oóc (Mỹ) tham gia phong trào "Chiếm lấy phố Uôn" (2011)
Người biểu tình ở Niu Oóc (Mỹ) tham gia phong trào “Chiếm lấy phố Uôn” (2011)

Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng

Thời gian Sự kiện Ý nghĩa
Nửa sau thế kỉ XVII Chủ nghĩa tư bản được xác lập ở Hà Lan và Anh Bước đầu xác lập chủ nghĩa tư bản ở châu Âu
Thập kỉ 60 của thế kỉ XVIII Cách mạng công nghiệp bắt đầu ở Anh Tạo chuyển biến lớn về kinh tế – xã hội, khẳng định thắng lợi của chủ nghĩa tư bản
Cuối thế kỉ XVIII Chủ nghĩa tư bản được xác lập ở Pháp, mở rộng ra Bắc Mỹ Chủ nghĩa tư bản lần đầu mở rộng ra ngoài châu Âu
Nửa đầu thế kỉ XIX Phong trào đấu tranh giành độc lập ở Mỹ La-tinh Thành lập các quốc gia tư sản ở khu vực Mỹ La-tinh
Năm 1868 Bắt đầu cuộc Duy tân Minh Trị ở Nhật Bản Đưa Nhật Bản từ phong kiến trở thành nước tư bản chủ nghĩa
Tháng 1 – 1871 Lễ đăng quang Hoàng đế nước Đức thống nhất tại Cung điện Véc-xai Hoàn tất quá trình thống nhất nước Đức
Thập kỉ 60 – 70 của thế kỉ XIX Các cuộc đấu tranh thống nhất I-ta-li-a, Đức,… Xác lập chủ nghĩa tư bản ở châu Âu và Bắc Mỹ
Năm 1870 Rốc-cơ-pheo-lơ thành lập Standard Oil Khởi đầu cho sự hình thành các tổ chức độc quyền tại Mỹ
Cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX Chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn độc quyền và đế quốc chủ nghĩa Các nước đế quốc thiết lập hệ thống thuộc địa ở châu Á, châu Phi, Mỹ La-tinh
Năm 1911 Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc Lật đổ triều Mãn Thanh, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển ở Trung Quốc
Năm 1914 Thuộc địa Anh rộng 33 triệu km² với 400 triệu người Anh được mệnh danh là “đế quốc mà Mặt Trời không bao giờ lặn”
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945) đến nay Giai đoạn chủ nghĩa tư bản hiện đại Kết hợp sức mạnh kinh tế của tổ chức độc quyền tư nhân với sức mạnh chính trị của nhà nước tư sản
Năm 1973 Khủng hoảng dầu mỏ thế giới Thách thức lớn với chủ nghĩa tư bản hiện đại về năng lượng
Năm 1976 Thành lập nhóm G7 Diễn đàn kinh tế của 7 quốc gia tư bản phát triển
Năm 2011 Phong trào “Chiếm lấy phố Uôn” ở Mỹ Phản ánh sự chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng trong xã hội tư bản hiện đại

Sơ đồ tóm tắt bài học

Sự xác lập và phát triển của chủ nghĩa tư bản

1. Sự xác lập của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu và Bắc Mỹ

  • Nửa sau thế kỉ XVII: xác lập ở Hà Lan, Anh
  • Cuối thế kỉ XVIII: mở rộng ra Bắc Mỹ và xác lập ở Pháp
  • Nửa sau thế kỉ XIX: xác lập ở I-ta-li-a, Đức,…
  • Động lực thúc đẩy: cách mạng công nghiệp (bắt đầu từ Anh thập kỉ 60 thế kỉ XVIII) và các cuộc đấu tranh thống nhất quốc gia (Đức, I-ta-li-a)

2. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản

Chủ nghĩa đế quốc và xâm lược thuộc địa

  • Nguyên nhân: nhu cầu nguyên liệu, nhân công, thị trường
  • Thời gian: cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX
  • Phạm vi: châu Á, châu Phi, Mỹ La-tinh
  • Tiêu biểu: đế quốc Anh – “đế quốc mà Mặt Trời không bao giờ lặn”

Sự mở rộng và phát triển

  • Mỹ La-tinh (nửa đầu thế kỉ XIX): phong trào giành độc lập, thành lập các quốc gia tư sản
  • Nhật Bản (1868): Duy tân Minh Trị, trở thành nước tư bản chủ nghĩa
  • Trung Quốc (1911): Cách mạng Tân Hợi, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển
  • Cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX: chủ nghĩa tư bản mở rộng phạm vi ảnh hưởng trên toàn thế giới

Từ tự do cạnh tranh sang độc quyền

  • Giai đoạn tự do cạnh tranh: thời kì xác lập chủ nghĩa tư bản
  • Chuyển sang độc quyền: cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX
  • Nguyên nhân: thành tựu khoa học – kĩ thuật, cạnh tranh gay gắt làm xí nghiệp nhỏ phá sản
  • Hình thức độc quyền: các-ten, xanh-đi-ca (Đức, Pháp); tơ-rớt (Mỹ)
  • Vai trò: chi phối toàn bộ nền kinh tế

3. Chủ nghĩa tư bản hiện đại

Khái niệm: giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, kết hợp sức mạnh kinh tế của tổ chức độc quyền tư nhân với sức mạnh chính trị của nhà nước tư sản.

Tiềm năng

  • Ưu thế về kinh tế, khoa học – công nghệ (Cách mạng công nghiệp 4.0)
  • Kinh nghiệm quản lí, khả năng tự điều chỉnh
  • Các nước tư bản phát triển là trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học – công nghệ thế giới (G7)

Thách thức

  • Khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu (khủng hoảng dầu mỏ, năng lượng)
  • Vấn đề chính trị, xã hội nan giải (bạo lực, phân biệt chủng tộc, xả súng)
  • Mâu thuẫn xã hội, bất bình đẳng giàu nghèo (phong trào “Chiếm lấy phố Uôn” 2011)
Cô Ngô Thị Ánh Ngọc

Cô Ngô Thị Ánh Ngọc

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử THPT

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Lịch sử, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 7+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Kim Liên