Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm thơ (Tìm hiểu cấu tứ và hình ảnh của tác phẩm)

I. Kiểu bài và yêu cầu cần đạt

Các em đã nhiều lần viết nghị luận về một tác phẩm thơ. Lần này, trọng tâm được thu hẹp lại rất rõ: cấu tứ và hình ảnh.

  • Khi nói về cấu tứ, nhất thiết phải lí giải được điều gì tạo nên tính chỉnh thể của bài thơ – vì sao các phần rời rạc lại làm thành một tác phẩm thống nhất.
  • Khi nói về hình ảnh, phải làm nổi bật được tính chất của hệ thống hình ảnh và cách chúng được tổ chức dưới sự chi phối của tứ thơ.

Những yếu tố khác (ngôn ngữ, nhịp điệu, biện pháp tu từ) vẫn được đề cập, nhưng chỉ khi chúng phục vụ cho hai trọng tâm trên.

Bốn yêu cầu của kiểu bài:

  1. Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ (tác giả, vị trí bài thơ, lí do lựa chọn).
  2. Xác định rõ trọng tâm bàn luận: cấu tứ độc đáo của bài thơ và sự chi phối của nó đến hệ thống hình ảnh.
  3. Xem xét vấn đề toàn diện theo từng khía cạnh cụ thể, với lí lẽ và bằng chứng xác đáng.
  4. Đánh giá nét đặc sắc về cấu tứ, hình ảnh và giá trị của chúng trong việc thể hiện những khám phá mới về con người và cuộc sống.

II. Hai khái niệm then chốt

Cấu tứ và tứ thơ

Cấu tứ là khâu then chốt, mang tính khởi đầu của hoạt động sáng tạo thơ. Cấu tứ gắn với việc xác định hướng phát triển của hình tượng, cách triển khai bài thơ, sao cho toàn bộ nhận thức và cảm xúc của nhà thơ được bộc lộ tự nhiên, sinh động và trọn vẹn nhất.

Tứ thơ là sản phẩm của hoạt động cấu tứ. Tứ là xương sống của bài thơ, là điểm tựa cho sự phát triển của hình tượng. Nhờ có tứ, kết cấu bài thơ trở nên chặt chẽ, gắn kết.

Phân biệt ý và tứ:

Ý Tứ
Trạng thái Trần trụi, khô khan Đã hóa thân vào hình tượng sống động
Dấu ấn chủ thể Chưa thể hiện rõ Mang đậm dấu ấn của người sáng tạo

Ví dụ: “nhớ quê” là một ý – ai cũng có thể nói. Nhưng cách Lí Bạch để một người lữ khách ngỡ ánh trăng là sương, rồi ngẩng đầu nhìn trăng, cúi đầu nhớ quê – đó mới là tứ.

Hình ảnh và hệ thống hình ảnh

Khi phân tích, đừng dừng ở việc bình từng hình ảnh riêng lẻ. Điều bài học này đòi hỏi là nhìn ra:

  • Logic kết nối giữa các hình ảnh: chúng nối với nhau bằng cái gì?
  • Sự vận động, phát triển của hình ảnh theo mạch bài thơ: sáng → tối, gần → xa, thực → ảo…
  • Hàm nghĩa và sự chuyển hóa ý nghĩa của hình ảnh qua từng chặng.

Lỗi hay gặp: dùng cụm “cấu tứ của khổ thơ này là…”. Cấu tứ là chuyện của toàn bài, không phải của từng khổ. Với mỗi khổ, hãy nói: khổ này là một chặng trong sự vận động của tứ thơ.

III. Các bước viết bài

1. Chuẩn bị viết

Chọn bài thơ có cấu tứ độc đáo và hệ thống hình ảnh phong phú, ngoài giá trị tạo hình còn gợi mở những tầng nghĩa sâu xa. Tìm đọc thêm một vài bài viết, ý kiến phê bình về tác phẩm.

2. Tìm ý

Đặt câu hỏi theo ba nhóm:

Nhóm 1 – Thông tin chung

  • Bài thơ của ai, sáng tác trong hoàn cảnh nào, từng được đón nhận ra sao?
  • Vấn đề chính sẽ bàn là gì? Có kết quả nghiên cứu, phê bình nào đáng chú ý?
  • Bài thơ đã tác động đến em thế nào?

Nhóm 2 – Tìm hiểu cấu tứ

  • Bài thơ hình thành dựa trên ý tưởng cơ bản nào? Điều gì làm ý tưởng ấy trở nên sinh động?
  • Có thể nêu nhận định khái quát gì về cấu tứ? Nhận định ấy có khác gì so với những cách hiểu đã có?
  • Với cách cấu tứ đó, nhà thơ thể hiện phát hiện riêng gì về thế giới và con người?

Nhóm 3 – Tìm hiểu hệ thống hình ảnh

  • Bài thơ có những hình ảnh nào? Chúng gợi ấn tượng, liên tưởng gì?
  • Logic kết nối các hình ảnh là gì? Cái tứ chi phối điều đó ra sao?
  • Giữa các hình ảnh có sự vận động, phát triển nào đáng chú ý?
  • Các hình ảnh có những hàm nghĩa nào? Ý nghĩa của chúng chuyển hóa ra sao?

3. Lập dàn ý

Mở bài: Giới thiệu chung về bài thơ và xác định vấn đề tập trung bàn luận.

Thân bài:

  • Cảm giác chung mà cấu tứ cùng những hình ảnh, cách diễn tả khác lạ đã gợi cho người đọc.
  • Sự khác biệt của bài thơ này so với những bài thơ khác trên phương diện xây dựng hệ thống hình ảnh và tạo kết nối giữa các bộ phận (cần có so sánh cụ thể).
  • Những khả năng cắt nghĩa khác nhau đối với một số hình ảnh trong bài thơ.
  • Điều được làm sáng tỏ qua việc thử nghiệm các cách đọc khác nhau.
  • Cách nhìn mới về thế giới và con người mà mạch ngầm văn bản gợi ra.

Kết bài: Khẳng định sự độc đáo của bài thơ và ý nghĩa của nó trong việc đem lại cách nhìn, cách đọc mới.

4. Viết

  • Nêu những cách nhìn nhận khác nhau về cấu tứ (nếu có) trước khi trình bày ý kiến riêng.
  • Khi nêu hàm nghĩa của hình ảnh, tránh khẳng định một chiều, vì hình ảnh thơ vốn đa nghĩa. Nên dùng những cách nói thận trọng: phải chăng, có thể hiểu là, một cách đọc khác cho rằng…
  • Trích thơ phải tách dòng, tách khổ đúng như bản gốc.

5. Chỉnh sửa

Xem lại kĩ những đoạn viết về cấu tứ – đây là phần dễ diễn đạt lệch nhất. Soát lại các đoạn trích để chắc chắn đúng nguyên văn. Sửa lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

IV. Bài văn mẫu

Đề bài: Phân tích cấu tứ và hình ảnh trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.

BÀI LÀM

Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) là một trong những gương mặt độc đáo nhất của phong trào Thơ mới. Thơ ông có một vẻ đẹp kì lạ: vừa trong trẻo tinh khôi, vừa đau đớn quằn quại. Đây thôn Vĩ Dạ, sáng tác khoảng năm 1938 khi nhà thơ đã mắc bệnh phong và sống cách li, in trong tập Thơ Điên (sau đổi tên là Đau thương), là bài thơ tiêu biểu cho vẻ đẹp ấy.

Điều làm nên sức ám ảnh của bài thơ, theo tôi, nằm ở cấu tứ: ba khổ thơ thoạt nhìn như ba mảnh rời không liên quan, nhưng thực ra được nối với nhau bằng một mạch ngầm duy nhất – nỗi khát khao được gắn nối với cuộc đời của một con người đang bị đẩy dần ra bên lề sự sống.

1. Ấn tượng chung: một bài thơ có vẻ đứt đoạn

Đọc lần đầu, người ta dễ có cảm giác Đây thôn Vĩ Dạ thiếu mạch lạc. Ba khổ thơ là ba không gian và ba thời gian tách biệt: khổ một là khu vườn thôn Vĩ trong nắng sớm, khổ hai là sông nước dưới trăng đêm, khổ ba là một cõi mộng mờ nhòa sương khói. Giữa các khổ không có từ chuyển tiếp, không có sự dẫn dắt.

Nhưng chính chỗ tưởng như rời rạc ấy lại là chỗ độc đáo. Bài thơ không được tổ chức theo logic của cảnh vật hay sự kiện, mà theo logic của tâm trạng – thứ vốn đứt nối, chập chờn. Cấu tứ ấy phù hợp lạ lùng với tâm thế của một người đang sống trong những khoảnh khắc chập chờn giữa nhớ và mơ, giữa còn và mất.

2. Sợi chỉ nối ba khổ thơ: ba câu hỏi không lời đáp

Dấu hiệu rõ nhất của tính chỉnh thể là ba câu hỏi tu từ đặt ở ba khổ:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Có chở trăng về kịp tối nay?

Ai biết tình ai có đậm đà?

Ba câu hỏi ấy cùng hướng về một điều: sự gắn kết với cuộc đời và với con người. Và cả ba đều không có lời đáp. Chính chuỗi câu hỏi bỏ ngỏ này giữ cho bài thơ một giọng điệu thống nhất – giọng của người ngóng đợi trong vô vọng, càng về sau càng khắc khoải.

3. Sự vận động của hệ thống hình ảnh

Nếu quan sát các hình ảnh theo trục dọc của bài thơ, ta thấy chúng vận động rất nhất quán theo ba hướng.

Về ánh sáng, từ nắng mới lên rực rỡ tinh khôi, sang ánh trăng huyền ảo, rồi đến sương khói mờ nhân ảnh. Ánh sáng cứ nhạt dần, loãng dần cho đến khi không còn đủ để nhìn rõ điều gì.

Về không gian, từ khu vườn cụ thể, có thể chạm tới, sang dòng sông với con thuyền đã xa hơn, rồi đến “đường xa” và cõi mộng – nơi hoàn toàn không xác định.

Về hình ảnh con người, từ khuôn mặt chữ điền thấp thoáng sau lá trúc, sang thuyền ai mơ hồ, rồi đến tà áo em trắng quá nhìn không ra. Con người hiện ra rồi nhòa đi, cuối cùng tan biến hẳn.

Ba trục vận động ấy chạy song song và cùng đi theo một chiều: từ gần đến xa, từ rõ đến mờ, từ thực đến ảo. Đó chính là dấu vết của cái tứ chi phối toàn bài – cuộc đời đẹp đẽ kia đang lùi xa dần khỏi tầm với của nhà thơ.

4. Ba chặng của mạch thơ

Chặng thứ nhất mở ra thôn Vĩ trong buổi sớm mai:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Câu hỏi mở đầu có thể hiểu là lời mời của người con gái xứ Huế, cũng có thể là lời nhà thơ tự trách mình. Hai cách hiểu không loại trừ nhau, và chính sự lưỡng nghĩa ấy làm câu thơ day dứt hơn. Hai chữ “về chơi” thân mật, gợi cảm giác thôn Vĩ vốn là chốn thân thuộc.

Bức tranh hiện lên tràn ngập ánh sáng: chữ “nắng” lặp lại ngay trong một dòng thơ, lại là thứ nắng “mới lên” còn tinh khiết. Chữ “mướt” gợi sự mượt mà, đầy nhựa sống; lối so sánh “xanh như ngọc” vừa gợi màu trong trẻo vừa gợi cảm giác quý giá.

Nhưng ngay giữa khung cảnh tươi sáng ấy đã có dấu hiệu của khoảng cách. Đại từ phiếm chỉ “ai” trong “vườn ai” khiến khu vườn trở nên không thuộc về nhà thơ. Và hình ảnh cuối khổ – lá trúc che ngang mặt chữ điền – thì có nhiều cách cắt nghĩa: có người cho đó là gương mặt phúc hậu của cô gái Huế, người khác lại nghĩ đó là gương mặt người khách trở về, thậm chí là một khuôn cửa. Dù hiểu theo cách nào, cái đọng lại vẫn là một sự che khuất: có gì đó ngăn giữa người nhìn và điều mình muốn nhìn.

Chặng thứ hai chuyển đột ngột sang cảnh sông nước đêm trăng:

Gió theo lối gió, mây đường mây, Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay. Thuyền ai đậu bến sông trăng đó, Có chở trăng về kịp tối nay?

Nếu khổ một là hội tụ thì khổ hai là li tán. Gió và mây vốn đi cùng nhau, nay mỗi thứ một ngả; câu thơ ngắt đôi cân đối càng làm sự chia lìa thêm dứt khoát. Dòng nước “buồn thiu”, hoa bắp chỉ khẽ “lay” – cảnh vật gần như bất động, thấm đẫm tâm trạng.

Hai câu sau mở ra một hình ảnh đẹp đến mức phi thực: sông trăng. Nhưng vẻ đẹp ấy lại gắn với một câu hỏi gấp gáp. Chữ “kịp” là chữ nặng nhất của cả bài. Nó cho thấy nhà thơ đang chạy đua với một thứ thời hạn mà chỉ mình ông biết. Với một người mang bệnh nan y, có thể hiểu “tối nay” không chỉ là một buổi tối.

Chặng thứ ba đưa tất cả vào cõi mộng:

Mơ khách đường xa, khách đường xa, Áo em trắng quá nhìn không ra. Ở đây sương khói mờ nhân ảnh, Ai biết tình ai có đậm đà?

Chữ “mơ” đặt ngay đầu dòng xác nhận: từ đây trở đi là thế giới của tâm tưởng. Điệp ngữ “khách đường xa” lặp lại như một tiếng gọi hụt hơi, càng gọi càng thấy xa.

Câu thơ thứ hai là một nghịch lí đầy ám ảnh: màu trắng vốn để nhìn rõ, ở đây lại “trắng quá” đến mức “nhìn không ra”. Hình bóng con người vừa hiện lên đã tan vào ánh sáng. Đến câu cuối, ngay cả tình cảm cũng trở nên bất định: hai chữ “ai” đặt cạnh nhau khiến ta không rõ nhà thơ đang hoài nghi tình người dành cho mình, hay hoài nghi chính khả năng níu giữ của mình. Phải chăng cả hai cách hiểu đều được bài thơ cho phép?

5. Đánh giá

Cấu tứ của Đây thôn Vĩ Dạ là một cấu tứ gián đoạn về bề mặt nhưng thống nhất ở chiều sâu. Sự thống nhất ấy không đến từ cốt truyện hay không gian, mà đến từ một mạch cảm xúc duy nhất và từ hệ thống hình ảnh cùng vận động theo một chiều: nhạt dần, xa dần, mờ dần.

So với nhiều bài thơ cùng thời vốn triển khai theo mạch cảm xúc liền mạch, cách tổ chức này của Hàn Mặc Tử táo bạo hơn hẳn – nó đòi hỏi người đọc phải tự nối các mảnh rời lại với nhau, và chính hoạt động “nối” ấy khiến người đọc cảm nhận được trạng thái đứt gãy trong tâm hồn nhà thơ.

Điều bài thơ khám phá về con người cũng vì thế mà sâu hơn một nỗi nhớ quê thông thường: càng bị đẩy xa khỏi cuộc đời, con người càng nhìn thấy cuộc đời đẹp; và cái đẹp ấy hiện ra rõ nhất đúng vào lúc nó sắp vuột khỏi tầm tay.

KẾT BÀI

Đây thôn Vĩ Dạ cho thấy một chân lí của thơ: sức mạnh của bài thơ không nằm ở việc kể được bao nhiêu, mà ở chỗ nhà thơ đã tìm ra một cái tứ đủ sức thu hết mọi hình ảnh rời rạc về một mối. Với ba khổ thơ tưởng như rời nhau nhưng lại được nối bằng một mạch ngầm khắc khoải, Hàn Mặc Tử đã để lại tiếng lòng của một tâm hồn yêu cuộc sống đến cháy bỏng ngay khi cuộc sống đang rời bỏ mình – và đó là lí do bài thơ vẫn còn lay động người đọc sau gần một thế kỉ.

V. Những lỗi thường gặp

Lỗi Cách khắc phục
Biến bài viết thành phân tích lần lượt từng khổ thơ Xác định cái tứ trước, rồi coi mỗi khổ là một chặng vận động của tứ ấy
Nói “cấu tứ của khổ thơ này là…” Cấu tứ thuộc về toàn bài; với từng khổ hãy dùng “chặng”, “bước phát triển”
Bình từng hình ảnh rời rạc Chỉ ra logic kết nối và chiều vận động chung của cả hệ thống hình ảnh
Khẳng định một chiều về nghĩa của hình ảnh Nêu vài cách hiểu, dùng “phải chăng”, “có thể hiểu là” trước khi nêu ý riêng
Chỉ khen bài thơ hay mà không chỉ ra cái mới Trả lời rõ: cấu tứ ấy giúp nhà thơ phát hiện điều gì về con người, cuộc sống
Trích thơ viết liền thành một dòng Tách dòng, tách khổ đúng bản gốc
ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện