Viết văn bản thuyết minh về một sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội (trang 52)

I. Yêu cầu của kiểu bài

Mục đích của bài viết là giúp người đọc hiểu thấu đáo về một sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội, từ đó có cơ sở tìm ra hướng ứng xử đúng đắn.

Bốn yêu cầu cần đạt:

  1. Nêu rõ sự vật, hiện tượng được thuyết minh và cung cấp một số thông tin cơ bản giúp người đọc hình dung bước đầu về nó.
  2. Làm sáng tỏ sự vật, hiện tượng theo một trình tự phù hợp với đặc điểm của sự vật, hiện tượng đó.
  3. Rút ra ý nghĩa của việc nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng được thuyết minh.
  4. Sử dụng kết hợp một hay nhiều yếu tố miêu tả, tự sự, biểu cảm hoặc nghị luận.

II. Phân biệt với văn bản nghị luận

Đây là chỗ học sinh nhầm nhiều nhất, vì hai kiểu bài cùng viết về vấn đề xã hội.

Văn bản thuyết minh Văn bản nghị luận
Mục đích Cung cấp thông tin để người đọc hiểu Thuyết phục người đọc đồng tình với quan điểm
Cách trình bày Khách quan Thể hiện rõ quan điểm cá nhân
Yếu tố biểu cảm, nghị luận Có, nhưng phải kiểm soát liều lượng Là phương tiện chính
Từ ngữ Trong sáng, đơn nghĩa, hạn chế tu từ Có thể dùng nhiều biện pháp tu từ

Dấu hiệu nhận biết bài đã đi lệch: khi bài viết bắt đầu tập trung chứng minh “hiện tượng này là tốt hay xấu” và kết thúc bằng lời kêu gọi hành động, nó đã trở thành bài nghị luận. Bài thuyết minh kết thúc bằng ý nghĩa của việc hiểu đúng hiện tượng.

III. Trả lời các câu hỏi bài viết tham khảo

Câu 1: Hiện tượng nào được thuyết minh? Thực chất của nó là gì?

Hiện tượng được thuyết minh là miệt thị ngoại hình – việc dùng những lời lẽ thiếu thiện chí để bình phẩm về dung mạo, thân hình, màu da của người khác, chẳng hạn qua những biệt danh gắn với đặc điểm cơ thể.

Về thực chất, đây là một hình thức bạo lực bằng ngôn từ. Người viết chỉ ra ba tầng của thực chất ấy:

  • Nó gây tổn thương tâm lí trực tiếp cho người bị nhắm tới.
  • Bạo lực ngôn từ có nguy cơ dẫn tới bạo lực thể chất.
  • hình thành và củng cố định kiến, nên có mối liên hệ mật thiết với phân biệt chủng tộc và kì thị giới tính. Người viết dẫn tiểu thuyết Mắt nào xanh nhất của Toni Morrison và truyện Chí Phèo của Nam Cao làm dẫn chứng.

Câu 2: Người viết triển khai theo trình tự nào?

Căn cứ vào các thẻ ghi bên phải văn bản, bài viết đi theo sáu chặng:

Chặng Nội dung
1 Nêu hiện tượng xã hội cần thuyết minh
2 Thuyết minh về thực chất của hiện tượng
3 Thuyết minh về nguyên nhân (nguồn gốc tâm lí, tính lịch sử, lợi ích thương mại)
4 Thuyết minh về hệ quả đối với nạn nhân
5 Gợi ý giải pháp (có sử dụng yếu tố biểu cảm, nghị luận)
6 Rút ra ý nghĩa của việc thuyết minh

Như vậy, phần thân bài được tổ chức theo cấu trúc nguyên nhân – hệ quả – giải pháp. Đây là trình tự phù hợp với một hiện tượng xã hội tiêu cực đang tồn tại, cần được nhận diện và khắc phục.

Câu 3: Việc nhận thức đúng về hiện tượng có ý nghĩa gì?

Có thể trả lời theo ba hướng:

  • Với người có thói quen bình phẩm ngoại hình: hiểu đúng giúp họ nhận ra rằng những câu nói tưởng như đùa vui vô hại thực chất là một hình thức bạo lực, từ đó điều chỉnh cách ứng xử.
  • Với người bị miệt thị: hiểu đúng giúp họ thấy vấn đề nằm ở định kiến xã hội chứ không nằm ở cơ thể mình, nhờ đó tránh được tự ti và những cách “sửa chữa bản thân” gây hại cho sức khỏe như nhịn ăn, tập luyện khắc nghiệt hay phẫu thuật liên tục.
  • Với xã hội: hiểu đúng giúp nhận ra vai trò của truyền thông, quảng cáo, thời trang trong việc áp đặt tiêu chuẩn cái đẹp, từ đó hướng tới một quan niệm đa dạng và nhân văn hơn.

IV. Các bước viết bài

1. Chuẩn bị viết

Chọn một sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội đáng quan tâm – qua quan sát thực tế hoặc qua sách báo, truyền thông. Gợi ý: một lễ hội văn hóa; một phong trào xã hội trong lịch sử nước nhà; tình trạng tôn thờ thần tượng thái quá; trào lưu đi phượt; hiện tượng người trẻ muốn trải nghiệm cuộc sống trước khi chọn con đường tương lai.

Sau khi chọn xong, cần tham khảo tài liệu liên quan và ghi chép các ví dụ, số liệu cần thiết.

2. Tìm ý

Trả lời ba câu hỏi lớn:

Thực chất của sự vật, hiện tượng đó là gì?

Có thể trình bày theo trình tự nào? Việc chọn trình tự phụ thuộc vào đặc điểm của đối tượng:

Trình tự Phù hợp với Câu hỏi tìm ý
Nguyên nhân – hệ quả – giải pháp Một hiện tượng đang tồn tại, có tác động rõ rệt Hiện tượng bắt nguồn từ đâu? Tác động tích cực hay tiêu cực? Đưa đến hệ quả gì? Cần làm gì?
Diễn biến theo thời gian Một phong trào, sự kiện lịch sử Xuất hiện từ bao giờ? Diễn biến qua các thời kì ra sao? Kết thúc khi nào?
Theo các thành tố Một đối tượng có cấu tạo nhiều bộ phận (lễ hội, tập tục) Đối tượng gồm những phần nào? Mỗi phần có đặc điểm gì?
Theo phạm vi không gian Đối tượng có ảnh hưởng khác nhau ở từng vùng Ảnh hưởng ở đâu, mức độ ra sao?

Việc thuyết minh về hiện tượng này có ý nghĩa gì?

3. Lập dàn ý

Mở bài: Giới thiệu sự vật, hiện tượng cần thuyết minh; nêu rõ sự tồn tại của nó trong đời sống xã hội.

Thân bài:

  • Nêu thực chất của sự vật, hiện tượng.
  • Trình bày các thông tin theo trình tự đã chọn ở phần Tìm ý.

Kết bài: Nêu ý nghĩa của việc nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng.

4. Viết

  • Mở bài, kết bài và mỗi ý ở thân bài đều triển khai thành một đoạn văn riêng.
  • Bám sát trình tự đã chọn, không nửa chừng đổi sang trình tự khác.
  • Lời văn sáng sủa, mạch lạc; cứ liệu chính xác, trung thực.
  • Dùng linh hoạt các yếu tố miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận – nhưng kiểm soát liều lượng để không làm sai lệch mục đích thuyết minh.
  • Từ ngữ trong sáng, đơn nghĩa; tránh lạm dụng biện pháp tu từ khiến người đọc hiểu sai về đối tượng.

5. Chỉnh sửa

  • Bổ sung những diễn giải, cứ liệu còn thiếu.
  • Kiểm tra trật tự các ý, sắp xếp lại nếu chưa hợp lí.
  • Rà soát lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

V. Bài văn mẫu

Đề bài: Viết bài văn thuyết minh về hiện tượng tôn thờ thần tượng một cách thái quá.

BÀI LÀM

Thời đại nào cũng có những cá nhân nổi bật được nhiều người ngưỡng mộ, từ các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa cho đến những ngôi sao ca nhạc, điện ảnh, thể thao hôm nay. Việc yêu thích một ai đó vốn là điều bình thường. Nhưng khi việc tiếp cận thông tin về người nổi tiếng trở nên quá dễ dàng, không ít người – nhất là người trẻ – đã học theo, tin theo, sống theo thần tượng đến mức đánh mất sự tỉnh táo. Hiện tượng ấy thường được gọi là tôn thờ thần tượng thái quá.

Thực chất của hiện tượng

“Thần tượng” theo nghĩa gốc là tượng của thần linh được con người thờ cúng. Ngày nay, từ này chỉ những cá nhân nổi bật trong một lĩnh vực nào đó được nhiều người ngưỡng mộ: ca sĩ, diễn viên, cầu thủ, vận động viên, nhà khoa học.

Tôn thờ thần tượng thái quá là trạng thái ngưỡng mộ vượt quá giới hạn của lí trí, khiến người hâm mộ mất khả năng đánh giá tỉnh táo về đối tượng mình yêu thích và sẵn sàng làm những việc phi lí hoặc có hại cho bản thân vì thần tượng. Ranh giới giữa sự yêu thích lành mạnh và sự tôn thờ thái quá nằm ở chỗ: người hâm mộ vẫn giữ được đời sống riêng của mình, hay đã để đời sống ấy bị chi phối hoàn toàn.

Một nghiên cứu của các nhà tâm lí học Mỹ, thực hiện trên hơn 600 người, đã phân chia thái độ với thần tượng thành ba mức độ. Mức thứ nhất, chiếm khoảng 20% số người được khảo sát, là theo dõi thông tin về thần tượng để giải trí và mở rộng quan hệ – đây là mức bình thường, không gây hại. Mức thứ hai, khoảng 10%, là khi người hâm mộ tin rằng mình có một sợi dây liên kết đặc biệt, riêng tư với thần tượng; ở mức này, sự ngưỡng mộ đã mang dấu hiệu của một dạng nghiện. Mức thứ ba, khoảng 1%, là khi người hâm mộ sẵn sàng làm tổn thương chính mình hoặc người khác nhân danh thần tượng.

Nguyên nhân

Về phía khách quan, mạng xã hội và các nền tảng chia sẻ nội dung cho phép người hâm mộ theo dõi mọi hoạt động của người nổi tiếng gần như liên tục, từ công việc đến đời sống riêng. Cùng với đó, ngành công nghiệp giải trí xây dựng hình ảnh các ngôi sao theo hướng hoàn hảo, lí tưởng hóa, khiến khoảng cách giữa hình ảnh truyền thông và con người thật ngày càng xa.

Về phía chủ quan, thanh thiếu niên đang trong giai đoạn hình thành nhân cách thường có nhu cầu tìm một hình mẫu để noi theo. Khi chưa đủ nhận thức và bản lĩnh, các em dễ chuyển từ ngưỡng mộ sang lệ thuộc. Ngoài ra, sự cô đơn, thiếu thốn tình cảm hoặc áp lực học tập cũng khiến một số người tìm đến thần tượng như một chỗ dựa tinh thần, một “người bạn” mà họ chưa từng gặp mặt.

Hệ quả

Với bản thân người hâm mộ, hệ quả trước hết là sự lãng phí thời gian, tiền bạc và công sức. Không ít trường hợp bỏ học, bỏ việc để xếp hàng mua vé, đón thần tượng ở sân bay, hoặc chi những khoản tiền lớn để mua vật phẩm lưu niệm. Nghiêm trọng hơn, một số người rơi vào trạng thái lo âu, trầm cảm, sống trong thế giới tưởng tượng và gặp khó khăn khi giao tiếp với những người xung quanh.

Với gia đình, hiện tượng này thường tạo ra mâu thuẫn giữa các thế hệ, khi cha mẹ lo lắng thấy con dành quá nhiều thời gian và tình cảm cho một người xa lạ.

Với xã hội, nó có thể dẫn tới những hành vi thiếu văn hóa: gây rối trật tự công cộng, công kích, xúc phạm những người có ý kiến trái chiều về thần tượng, thậm chí là bạo lực trên không gian mạng.

Hướng khắc phục

Về phía cá nhân, điều cần nhất là nhận thức rằng thần tượng cũng là con người bình thường, có ưu điểm và khuyết điểm. Yêu thích một người là điều tốt nếu ta học được từ họ những điểm tích cực để hoàn thiện mình, chứ không phải sao chép một cách mù quáng.

Về phía gia đình, thay vì cấm đoán, cha mẹ nên tìm hiểu sở thích của con và cùng con phân biệt giữa ngưỡng mộ lành mạnh và cuồng tín.

Về phía nhà trường và xã hội, cần đẩy mạnh giáo dục kĩ năng sống và tư duy phản biện. Các phương tiện truyền thông cũng cần thận trọng hơn khi đưa tin về người nổi tiếng, tránh thổi phồng hoặc tạo dựng những hình ảnh phi thực tế.

Ý nghĩa của việc nhận thức đúng

Hiểu đúng về hiện tượng tôn thờ thần tượng thái quá giúp chúng ta tránh được hai thái cực: một là phủ nhận, chê trách mọi hình thức hâm mộ, hai là buông xuôi để sự ngưỡng mộ chi phối toàn bộ đời sống của mình.

Khi nhận diện được ranh giới giữa hai trạng thái ấy, mỗi người có thể giữ cho tình cảm dành cho thần tượng ở đúng vị trí của nó: một nguồn cảm hứng, chứ không phải một chỗ dựa thay thế cho đời sống thật. Đó cũng là cách để việc ngưỡng mộ trở lại đúng với ý nghĩa tốt đẹp vốn có của nó.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện