Viết văn bản thuyết minh về một tác phẩm văn học

I. Yêu cầu của kiểu bài

Thuyết minh về một tác phẩm văn học là cung cấp thông tin để người đọc hiểu rõ về tác phẩm, chứ không phải phân tích hay bày tỏ cảm nhận như bài nghị luận. Đây là điểm phân biệt quan trọng nhất cần nhớ.

Sáu yêu cầu cần đạt:

  1. Giới thiệu được tác phẩm cần thuyết minh (nhan đề, tên tác giả, đánh giá chung).
  2. Giới thiệu khái quát về tác giả.
  3. Nêu được hoàn cảnh sáng tác, đặc điểm thể loại; tóm tắt được nội dung tác phẩm.
  4. Nêu thông tin cơ bản về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
  5. Khẳng định vị trí, đóng góp của tác phẩm đối với đời sống văn học.
  6. Có lồng ghép các yếu tố miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận.

Yêu cầu 6 là yêu cầu riêng của kiểu bài này: bài thuyết minh không được khô khan như một bản liệt kê, nhưng các yếu tố bổ trợ cũng không được lấn át mục đích chính là cung cấp thông tin.

II. Trả lời câu hỏi bài viết tham khảo

Câu 1: Bài thuyết minh gồm những nội dung gì? Nội dung nào là trọng tâm?

Bài viết triển khai sáu nội dung theo trình tự:

Thứ tự Nội dung
1 Giới thiệu chung về tác phẩm – khẳng định Truyện Kiều là kiệt tác, có vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần người Việt
2 Giới thiệu khái quát về tác giả – tiểu sử, gia thế, thời đại và sự nghiệp của Nguyễn Du
3 Hoàn cảnh sáng tác và đặc điểm thể loại – viết bằng chữ Nôm, thể lục bát, 3 254 câu, dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện
4 Tóm tắt nội dung tác phẩm – theo mô hình ba phần của truyện thơ Nôm: Gặp gỡ, đính ước → Tai biến, chia li → Đoàn tụ
5 Giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật
6 Khẳng định vị trí, sức sống của tác phẩm trong đời sống văn hóa dân tộc

Nội dung trọng tâm là nội dung thứ 5 – giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật. Có hai căn cứ để khẳng định điều này:

  • Về dung lượng, phần này chiếm nhiều đoạn nhất, được triển khai kĩ nhất, trong khi các phần khác chỉ nêu thông tin ngắn gọn.
  • Về mục đích, thuyết minh một tác phẩm văn học suy cho cùng là để người đọc thấy được tác phẩm ấy có giá trị gì. Các thông tin về tác giả, thể loại, cốt truyện chỉ là nền tảng dẫn tới phần này.

Câu 2: Sự kết hợp các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận

Yếu tố Biểu hiện trong bài viết Tác dụng
Tự sự Đoạn tóm tắt mười lăm năm lưu lạc của Thúy Kiều, từ buổi du xuân gặp Kim Trọng đến khi được sư Giác Duyên cứu và đoàn tụ Giúp người đọc nắm được cốt truyện – thông tin không thể thiếu khi thuyết minh một tác phẩm tự sự
Miêu tả Phác họa con người Nguyễn Du (kiến thức uyên bác, trái tim nhân hậu); giới thiệu Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn, Kim Trọng là Nho sinh hào hoa phong nhã Làm thông tin trở nên cụ thể, có hình ảnh, dễ hình dung
Biểu cảm Những cách gọi và cách diễn đạt bộc lộ thái độ: “kiệt tác”, “đại thi hào”, niềm cảm thương trước những số phận bi kịch Thể hiện thái độ trân trọng, khiến bài viết có cảm xúc chứ không khô cứng
Nghị luận Đoạn đánh giá giá trị nghệ thuật: nêu luận điểm Truyện Kiều kết tinh thành tựu văn học dân tộc, rồi chứng minh bằng những sáng tạo so với Kim Vân Kiều truyện, bằng thành tựu ngôn ngữ và nghệ thuật xây dựng nhân vật Làm cho các nhận định về giá trị tác phẩm có căn cứ, thuyết phục

Điều rút ra: bốn yếu tố này xuất hiện xen kẽ và đều phục vụ cho việc cung cấp thông tin, không có đoạn nào sa đà thành kể chuyện hay bình luận thuần túy.

III. Các bước viết bài

1. Chuẩn bị viết

Ưu tiên chọn những tác phẩm có giá trị và em đã đọc kĩ. Có thể chọn tác phẩm trong chương trình như Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), Mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử), Dưới bóng hoàng lan (Thạch Lam), Một chuyện đùa nho nhỏ (Sê-khốp), Con đường không chọn (Rô-bớt Phờ-rót). Nên sưu tầm thêm một vài nhận định của các nhà nghiên cứu.

2. Tìm ý

Trả lời sáu câu hỏi:

  • Vì sao chọn thuyết minh về tác phẩm này?
  • Tác giả và tác phẩm có vị trí như thế nào?
  • Tác phẩm được sáng tác trong hoàn cảnh nào, bằng thể loại gì?
  • Nội dung cơ bản và đặc sắc nghệ thuật là gì?
  • Tác phẩm đã được đánh giá ra sao về giá trị tư tưởng và nghệ thuật?
  • Tác phẩm có đóng góp gì cho đời sống văn học?

3. Lập dàn ý

Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm.

Thân bài:

  • Giới thiệu ngắn gọn quê quán, gia đình, con người và sự nghiệp văn chương của tác giả.
  • Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác và thể loại. Tùy thể loại mà điều chỉnh: với tác phẩm thơ cần nêu đề tài, cảm hứng chủ đạo và bố cục; với tác phẩm truyện cần tóm tắt nội dung.
  • Trình bày giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Cũng tùy thể loại: với thơ chú ý nghệ thuật trữ tình, ngôn ngữ, giọng điệu; với truyện chú ý tình huống, cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật và nghệ thuật trần thuật. Đây là phần cần lồng ghép các yếu tố bổ trợ.

Kết bài: Khẳng định đóng góp của tác phẩm cho nền văn học hoặc đời sống văn hóa.

4. Viết

  • Luôn giữ đúng trọng tâm: cung cấp thông tin hữu ích về tác phẩm.
  • Kết hợp thuyết minh với các yếu tố bổ trợ để tăng sức hấp dẫn.
  • Văn phong ngắn gọn, chính xác, khoa học; không để yếu tố bổ trợ làm chệch mục đích chính.

5. Chỉnh sửa

Đối chiếu bài viết với ba tiêu chí:

  • Đã cung cấp đủ thông tin cơ bản về tác giả, nội dung chính, giá trị tư tưởng và nghệ thuật chưa?
  • Các nội dung đã được sắp xếp hợp lí, cân đối, có trọng tâm chưa?
  • Đã lồng ghép phù hợp yếu tố miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận chưa?

IV. Cách lồng ghép các yếu tố bổ trợ

Yếu tố Dùng ở đâu Ví dụ
Tự sự Phần tóm tắt tác phẩm Kể lại diễn biến chính của cốt truyện, các chặng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Miêu tả Khi giới thiệu tác giả, nhân vật, không gian nghệ thuật Tả vẻ đẹp nhân vật, tả không khí một trận đánh được nhắc tới trong tác phẩm
Biểu cảm Khi khẳng định giá trị, vị trí tác phẩm Bộc lộ sự trân trọng, ngưỡng mộ qua cách dùng từ
Nghị luận Phần đánh giá giá trị tư tưởng, nghệ thuật Nêu luận điểm về giá trị rồi chứng minh bằng dẫn chứng trong tác phẩm

Nguyên tắc: yếu tố bổ trợ đi kèm thông tin, không thay thế thông tin. Nếu một đoạn chỉ còn cảm xúc hoặc chỉ còn lập luận mà không cung cấp thêm hiểu biết gì về tác phẩm, đoạn đó đã đi lệch.

V. Bài văn mẫu: Thuyết minh về Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi)

Dàn ý

Mở bài: Giới thiệu dòng văn học yêu nước của dân tộc, dẫn tới Bình Ngô đại cáo – áng thiên cổ hùng văn.

Thân bài:

  1. Tác giả Nguyễn Trãi: tiểu sử, truyền thống gia đình, vị trí trong lịch sử và văn học, một số nhận định của người đời sau.
  2. Tác phẩm: hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa nhan đề, thể loại, bố cục bốn phần.
  3. Giá trị nội dung: triển khai theo bốn phần của bài cáo.
  4. Giá trị nghệ thuật: sự kết hợp giữa chính luận và văn chương.
  5. So sánh với Nam quốc sơn hà để thấy bước phát triển của tư tưởng.

Kết bài: Khẳng định vị trí của tác phẩm trong nền văn học và trong đời sống tinh thần dân tộc.

BÀI LÀM

Trong dòng văn học yêu nước của dân tộc Việt Nam có không ít kiệt tác đáng tự hào: từ Nam quốc sơn hà thời Lý, Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải, đến Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh. Trong số đó, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi thường được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, và được người đời sau gọi là “áng thiên cổ hùng văn”.

1. Tác giả Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi (1380 – 1442), hiệu là Ức Trai, quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, sau dời về Nhị Khê (nay thuộc Thường Tín, Hà Nội). Ông sinh trưởng trong một gia đình mang hai truyền thống lớn: yêu nước và văn hóa, văn học. Cha ông là Nguyễn Phi Khanh, một nhà Nho đỗ đạt; ông ngoại là Trần Nguyên Đán, quan Tư đồ triều Trần.

Nguyễn Trãi là nhà chính trị, nhà quân sự, nhà ngoại giao lỗi lạc, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh với vai trò quân sư bên cạnh Lê Lợi. Đồng thời ông còn là nhà văn chính luận kiệt xuất và nhà thơ trữ tình sâu sắc, để lại một sự nghiệp đồ sộ bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Năm 1980, ông được UNESCO ghi nhận nhân dịp kỉ niệm 600 năm ngày sinh.

Người đời sau đã dành cho ông nhiều lời ca ngợi. Nguyễn Mộng Tuân gọi ông là bậc văn bá. Lê Quý Đôn nhận xét ông viết văn thư, thảo hịch giỏi hơn hết một thời. Vua Lê Thánh Tông thì để lại câu thơ nổi tiếng “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” – lòng Ức Trai sáng tựa sao Khuê.

2. Hoàn cảnh sáng tác, nhan đề và thể loại

Cuối năm 1427, các đạo viện binh của nhà Minh do Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy đều bị nghĩa quân Lam Sơn đánh tan; quân Minh buộc phải rút về nước. Đầu năm 1428, Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết bài cáo để tổng kết cuộc kháng chiến và tuyên bố với thiên hạ về nền độc lập vừa giành lại.

Về nhan đề, “Ngô” là cách người Việt gọi giặc Minh – mang sắc thái khinh thị; “bình Ngô” nghĩa là dẹp yên giặc Ngô. Hai chữ “đại cáo” cho thấy đây không phải một bài cáo thông thường mà là bản cáo lớn, tương xứng với tầm vóc của sự kiện.

Bình Ngô đại cáo được viết bằng thể cáo – một thể văn nghị luận cổ, thường do vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày chủ trương hay công bố kết quả một sự nghiệp cho mọi người cùng biết. Cáo có tính hùng biện, lời lẽ đanh thép, lí luận sắc bén. Tác phẩm được viết theo lối văn biền ngẫu, vận dụng thể tứ lục, bố cục chặt chẽ gồm bốn phần.

3. Giá trị nội dung

Phần thứ nhất nêu luận đề chính nghĩa, dựng lên hai cơ sở lớn. Một là tư tưởng nhân nghĩa:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Nhân nghĩa ở đây không còn là khái niệm trừu tượng của Nho giáo mà được cụ thể hóa thành việc làm cho dân được yên. Hai là khẳng định chủ quyền dân tộc trên nhiều phương diện: nền văn hiến lâu đời, ranh giới lãnh thổ riêng, phong tục tập quán riêng, các triều đại nối tiếp và những anh hùng hào kiệt của đất nước.

Phần thứ hai vạch trần tính chất phi nghĩa và tội ác của quân Minh. Bằng giọng văn căm phẫn, Nguyễn Trãi phơi bày sự tàn bạo của chúng:

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

Không chỉ giết hại con người, giặc còn vơ vét của cải, phá hoại sản xuất, khiến nhân dân chịu đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần.

Phần thứ ba tái hiện cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu gian khó đến khi thắng lợi. Buổi đầu, nghĩa quân thiếu lương thực, thiếu quân, thiếu nhân tài. Nhưng với tinh thần lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều, cùng sự lãnh đạo của Lê Lợi và sức mạnh của lòng dân, nghĩa quân ngày một lớn mạnh và giành những chiến thắng vang dội.

Phần thứ tư tuyên bố nền độc lập, khẳng định chủ quyền và mở ra một kỉ nguyên mới cho đất nước.

4. Giá trị nghệ thuật

Sức hấp dẫn của Bình Ngô đại cáo nằm ở sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và chất văn chương.

Chất chính luận thể hiện ở kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc bén, bằng chứng xác thực, lời văn đanh thép. Chất văn chương thể hiện ở những câu văn giàu hình tượng, giàu cảm xúc, ở việc vận dụng linh hoạt điển tích, điển cố và các sự kiện lịch sử.

Đặc biệt, giọng điệu tác phẩm biến đổi rất linh hoạt: khi trang trọng lúc nêu luận đề, khi căm phẫn và xót xa lúc tố cáo tội ác, khi sục sôi lúc tái hiện chiến trận, và khi hùng hồn trang nghiêm lúc tuyên bố hòa bình.

5. So với Nam quốc sơn hà

Nam quốc sơn hà (tương truyền của Lý Thường Kiệt) và Bình Ngô đại cáo đều là những tuyên ngôn khẳng định chủ quyền, nhưng có bước phát triển rõ rệt.

Nam quốc sơn hà khẳng định chủ quyền dựa trên hai căn cứ: bờ cõi riêng và sách trời đã định. Bình Ngô đại cáo mở rộng ra nhiều phương diện hơn – tên nước, nền văn hiến, lãnh thổ, phong tục, các triều đại, hào kiệt. Quan trọng hơn, nếu ở bài thơ thời Lý chủ quyền đất nước gắn với ngôi vị của nhà vua, thì ở Nguyễn Trãi, gốc rễ của chính nghĩa đã là nhân dân.

KẾT BÀI

Bình Ngô đại cáo xứng đáng với danh hiệu “áng thiên cổ hùng văn”: vừa là một văn kiện lịch sử tổng kết cuộc kháng chiến chống Minh, vừa là một tác phẩm chính luận mẫu mực của văn học trung đại Việt Nam.

Đọc tác phẩm, người đọc hôm nay không chỉ hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử bi tráng, mà còn nhận ra một tư tưởng vẫn còn nguyên giá trị: sức mạnh của một dân tộc bắt nguồn từ chính nghĩa và từ lòng dân.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện