Lý thuyết Lịch sử 8 Bài 17: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược từ năm 1858 đến năm 1884

1. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược từ năm 1858 đến năm 1874

Bối cảnh:

  • Từ giữa thế kỉ XIX, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở các nước phương Tây phát triển mạnh.
  • Nhu cầu về thị trường, nguyên liệu và nhân lực khiến các nước này đẩy mạnh việc xâm chiếm các nước phương Đông.
  • Lợi dụng các mối quan hệ đã có từ trước, lấy cớ bảo vệ đạo Gia Tô (Công giáo), thực dân Pháp đưa quân xâm lược Việt Nam.

a) Cuộc kháng chiến ở Đà Nẵng và Nam Kì (1858 – 1862)

Năm 1858:

  • Ngày 1 – 9 – 1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha mở cuộc tấn công Đà Nẵng, âm mưu biến nơi đây làm bàn đạp tấn công ra Huế, nhanh chóng buộc nhà Nguyễn đầu hàng.
  • Quân dân Đà Nẵng dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương kháng cự quyết liệt, bước đầu làm thất bại âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp.

Năm 1859:

  • Tháng 2 – 1859, quân Pháp kéo vào Nam, chiếm thành Gia Định, rồi đánh rộng ra.
  • Quân triều đình chống cự yếu ớt rồi tan rã. Trong khi đó, nhân dân địa phương đã tự động nổi lên đánh giặc.

Năm 1860:

  • Thực dân Pháp chỉ để lại khoảng 1 000 quân làm nhiệm vụ canh giữ phòng tuyến dài khoảng 10 km ở Gia Định.
  • Nguyễn Tri Phương chỉ huy quân dân xây dựng Đại đồn Chí Hoà và tổ chức phòng thủ.

Năm 1861:

  • Rạng sáng ngày 24 – 2 – 1861, đại quân Pháp tập trung mở cuộc tấn công Đại đồn Chí Hoà và mở rộng đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì.
  • Quân triều đình kháng cự quyết liệt nhưng không cản được giặc. Đại đồn Chí Hoà thất thủ.
  • Phong trào kháng chiến của nhân dân vẫn tiếp diễn sôi nổi. Nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực đã đốt cháy chiếc tàu Ét-pê-răng (Hi Vọng) của quân Pháp trên sông Nhật Tảo (12 – 1861).

Năm 1862:

  • Cuối tháng 3 – 1862, đại quân Pháp chiếm tỉnh Vĩnh Long.
  • Triều đình Nguyễn kí với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất.

Nội dung Hiệp ước Nhâm Tuất (1862):

  • Thừa nhận việc cai quản của Pháp ở ba tỉnh miền Đông Nam Kì và đảo Côn Lôn.
  • Bồi thường cho Pháp khoảng 20 triệu quan (ước tính 280 vạn lạng bạc).
  • Pháp sẽ “trả lại” tỉnh Vĩnh Long khi nào triều đình buộc dân chúng ngừng chống Pháp.

→ Hiệp ước Nhâm Tuất là một hiệp ước bất bình đẳng, bước đầu vi phạm nghiêm trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Liên quân Pháp và Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng
Liên quân Pháp và Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng

b) Nhân dân Nam Kì tiếp tục kháng chiến (1862 – 1874)

  • Sau Hiệp ước Nhâm Tuất, Triều đình Huế tập trung lực lượng đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân ở Bắc Kì và Trung Kì, ngăn cản phong trào kháng chiến của nhân dân ở Nam Kì.
  • Lợi dụng sự bạc nhược đó, năm 1867, thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kì. Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân vẫn tiếp diễn ngày càng mạnh mẽ.

Các phong trào kháng chiến tiêu biểu:

  • Nguyễn Trung Trực: lãnh đạo nghĩa quân từ căn cứ Hòn Chông vượt biển tập kích đồn Kiên Giang. Khi bị giặc bắt, đưa ra chém, ông vẫn khảng khái tuyên bố: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”.
  • Trương Định (1820 – 1864): được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân, lãnh đạo nghĩa quân lập căn cứ Gò Công, Tân Phước, anh dũng chiến đấu chống giặc. Do có chỉ điểm và bị tấn công bất ngờ, ông bị thương, rút gươm tự sát để bảo toàn khí tiết. Nhân dân suy tôn ông là Bình Tây Đại Nguyên soái. Con trai ông là Trương Quyền tiếp tục đưa quân lên Tây Ninh lập căn cứ, chiến đấu thêm một thời gian nữa.
  • Một số nhà nho như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị,… đã dùng thơ văn lên án tội ác của giặc và chế giễu bọn tay sai bán nước, ca ngợi gương chiến đấu hi sinh của nghĩa quân.
  • Nguyễn Hữu Huân (1830 – 1875): ở miền Đông, bị bắt đi đày, sau đó được thả về lại tiếp tục chống Pháp. Khi bị giặc bắt lần thứ hai và đưa ra hành hình, ông vẫn ung dung làm thơ, khẳng định tinh thần yêu nước, bất khuất.
Nguyễn Trung Trực
Nguyễn Trung Trực

2. Phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lan rộng ra cả nước (1873 – 1884)

a) Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược Bắc Kì lần thứ nhất (1873 – 1874)

Sau khi chiếm được Nam Kì, thực dân Pháp tiếp tục chuẩn bị thực hiện kế hoạch đánh chiếm Bắc Kì, Trung Kì.

Diễn biến:

  • Đầu tháng 11 – 1873, thực dân Pháp cử Ph. Gác-ni-ê đưa quân ra Bắc, dùng vũ lực chiếm thành Hà Nội.
  • Tổng đốc Nguyễn Tri Phương chỉ huy binh sĩ anh dũng chống cự. Ông bị thương, bị giặc bắt nhưng đã tuyệt thực đến chết để bảo toàn khí tiết.
  • Ph. Gác-ni-ê cho quân mở rộng đánh chiếm nhiều tỉnh thành vùng đồng bằng sông Hồng.
  • Quân dân ta ở khắp nơi đã nổi lên kháng chiến:
    • Các cuộc chiến đấu của binh sĩ triều đình ở cửa ô Thanh Hà (thành phố Hà Nội).
    • Các đội nghĩa binh dưới sự lãnh đạo của cha con Nguyễn Mậu Kiến ở Thái Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên).
    • Phạm Văn Nghị ở Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình),…
  • Ngày 21 – 12 – 1873, quân Pháp tiến lên Sơn Tây, qua khu vực Cầu Giấy. Quân triều đình phối hợp với quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc phục kích địch ở đây, giết chết tên chỉ huy là Ph. Gác-ni-ê.
  • Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta, làm quân Pháp vô cùng hoang mang, dao động.

Hiệp ước Giáp Tuất (1874):

  • Triều đình Huế lại kí với Pháp bản Hiệp ước Giáp Tuất.
  • Nội dung: Thừa nhận chủ quyền của Pháp ở cả sáu tỉnh Nam Kì và nhiều điều khoản bất lợi khác.
  • → Với Hiệp ước Giáp Tuất, tuy phải trả lại Hà Nội nhưng Pháp đã đặt được cơ sở chính trị, kinh tế, quân sự khắp các nơi quan trọng ở Bắc Kì, báo trước thực dân Pháp nhất định quay trở lại chiếm hẳn Hà Nội khi có thời cơ tới.
Nguyễn Tri Phương (1800 – 1873)
Nguyễn Tri Phương (1800 – 1873)

b) Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược Bắc Kì lần thứ hai (1882 – 1884)

Năm 1882:

  • Tháng 4 – 1882, lấy cớ Triều đình Huế vi phạm Hiệp ước Giáp Tuất, quân Pháp do H. Ri-vi-e cầm đầu đã đổ bộ lên Hà Nội, khiêu khích, gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Hà Nội là Hoàng Diệu, buộc ông phải giao thành.
  • Trưa ngày 25 – 4 – 1882, quân Pháp chiếm thành Hà Nội.
  • Quân dân ta anh dũng chống trả nhưng thất bại. Tổng đốc Hoàng Diệu đã tuẫn tiết trong vườn Võ Miếu.
  • Triều đình lo sợ, cử người đi cầu cứu nhà Thanh.

Năm 1883:

  • Quân Pháp toả đi đánh chiếm Hồng Gai, Quảng Yên, Nam Định và nhiều tỉnh thành khác.
  • Quân triều đình hầu như tan rã. Các đội nghĩa binh ở nhiều địa phương vẫn kiên cường chiến đấu.
  • Ngày 19 – 5 – 1883, một cánh quân Pháp do H. Ri-vi-e chỉ huy đánh ra Cầu Giấy. Quân ta tổ chức phục kích, tiêu diệt H. Ri-vi-e và nhiều lính Pháp.
  • Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai gây được tiếng vang lớn, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta. Triều đình Huế vẫn nuôi ảo tưởng quân Pháp sẽ trả lại thành Hà Nội.
  • Chiều 18 – 8 – 1883, quân Pháp mở cuộc tấn công Thuận An (cửa biển sát kinh thành Huế).
  • Triều đình hoảng hốt cử người tới điều đình và đã kí với đại diện của Pháp Hiệp ước Hác-măng do Pháp thảo sẵn.
  • Cuộc chiến đấu chống Pháp của nhân dân ta vẫn tiếp diễn ở các tỉnh Bắc Kì.

Năm 1884:

  • Ngày 6 – 6 – 1884, thực dân Pháp kí với Triều Nguyễn Hiệp ước Pa-tơ-nốt, chính thức áp đặt quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam.
  • Nội dung Hiệp ước Pa-tơ-nốt cơ bản giống với Hiệp ước Hác-măng, nhưng địa bàn các tỉnh do Triều Nguyễn quản lí được điều chỉnh lại. Các tỉnh: Bình Thuận (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng), Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh trở lại sáp nhập vào Trung Kì. Triều đình Huế thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kì và Trung Kì.
  • Triều đình Huế hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp. Nhân dân vẫn tiếp tục nổi dậy kháng Pháp ở khắp nơi.
Hoàng Diệu (1829 – 1882)
Hoàng Diệu (1829 – 1882)

3. Trào lưu cải cách nửa sau thế kỉ XIX

a) Nguyên nhân

  • Chế độ phong kiến đang lâm vào khủng hoảng.
  • Đất nước lại phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
  • Tầng lớp văn thân, sĩ phu Việt Nam có điều kiện tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài đã mạnh dạn gửi lên Triều đình Huế những bản điều trần, đề nghị cải cách.

b) Một số đề nghị cải cách tiêu biểu

Người đề xướng Thời gian Nội dung đề nghị
Nguyễn Trường Tộ 1863 – 1871 Gửi lên triều đình nhiều bản điều trần, đề nghị chấn chỉnh bộ máy quan lại, phát triển công thương, tài chính, chỉnh đốn võ bị, ngoại giao, cải tổ giáo dục
Trần Đình Túc, Nguyễn Huy Tế, Đinh Văn Điển 1868 Đề nghị mở cửa biển Trà Lý (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), đẩy mạnh khai hoang, khai mỏ, mở mang thương nghiệp, củng cố quốc phòng
Viện Thương bạc 1872 Đề nghị mở ba cửa biển ở miền Bắc và miền Trung, phát triển ngoại thương
Nguyễn Lộ Trạch 1877, 1882 Gửi các bản “Thời vụ sách” (thượng và hạ) lên vua Tự Đức, đề nghị chấn hưng dân khí, khai thông dân trí, bảo vệ đất nước

c) Kết quả và ý nghĩa

  • Kết quả: Những đề nghị cải cách vì nhiều lí do (thiếu cơ sở kinh tế, xã hội lại vấp phải tư tưởng bảo thủ của cả triều đình và nhân dân,…) nên đã không được thực hiện, hoặc chỉ thực hiện một phần rất nhỏ.
  • Ý nghĩa: Tư tưởng cải cách nửa sau thế kỉ XIX đã phản ánh sự tiến bộ trong nhận thức mới của người Việt Nam, góp phần chuẩn bị tiền đề về tư tưởng cho sự ra đời phong trào Duy tân đầu thế kỉ XX.

Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng

Mốc thời gian Sự kiện
Ngày 1 – 9 – 1858 Liên quân Pháp – Tây Ban Nha mở cuộc tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam. Nguyễn Tri Phương chỉ huy quân dân kháng cự, làm thất bại âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp
Tháng 2 – 1859 Quân Pháp kéo vào Nam, chiếm thành Gia Định. Quân triều đình tan rã; nhân dân địa phương tự động nổi lên đánh giặc
Năm 1860 Pháp chỉ để lại khoảng 1 000 quân ở Gia Định. Nguyễn Tri Phương xây dựng Đại đồn Chí Hoà
Ngày 24 – 2 – 1861 Pháp tấn công Đại đồn Chí Hoà, mở rộng đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì
Tháng 12 – 1861 Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu Ét-pê-răng (Hi Vọng) trên sông Nhật Tảo
Cuối tháng 3 – 1862 Pháp chiếm tỉnh Vĩnh Long
Năm 1862 Triều đình Nguyễn kí Hiệp ước Nhâm Tuất – thừa nhận sự cai quản của Pháp ở ba tỉnh miền Đông Nam Kì và đảo Côn Lôn
Năm 1867 Thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kì
Đầu tháng 11 – 1873 Pháp cử Ph. Gác-ni-ê đưa quân ra Bắc, chiếm thành Hà Nội. Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương, bị bắt, tuyệt thực đến chết
Ngày 21 – 12 – 1873 Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất – Quân triều đình phối hợp với quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc giết chết Ph. Gác-ni-ê
Năm 1874 Triều đình Huế kí Hiệp ước Giáp Tuất – thừa nhận chủ quyền của Pháp ở cả sáu tỉnh Nam Kì
Tháng 4 – 1882 Quân Pháp do H. Ri-vi-e cầm đầu đổ bộ lên Hà Nội
Trưa ngày 25 – 4 – 1882 Pháp chiếm thành Hà Nội. Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết trong vườn Võ Miếu
Ngày 19 – 5 – 1883 Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai – Quân ta phục kích, tiêu diệt H. Ri-vi-e
Chiều 18 – 8 – 1883 Quân Pháp tấn công Thuận An. Triều đình kí Hiệp ước Hác-măng
Ngày 6 – 6 – 1884 Triều Nguyễn kí Hiệp ước Pa-tơ-nốtchính thức áp đặt quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam, triều đình hoàn toàn đầu hàng
1863 – 1871 Nguyễn Trường Tộ gửi nhiều bản điều trần đề nghị cải cách
Năm 1868 Trần Đình Túc, Nguyễn Huy Tế, Đinh Văn Điển đề nghị mở cửa biển Trà Lý
Năm 1872 Viện Thương bạc đề nghị mở ba cửa biển ở miền Bắc và miền Trung
Năm 1877, 1882 Nguyễn Lộ Trạch gửi các bản “Thời vụ sách” lên vua Tự Đức

Bảng ôn tập các nhân vật và sự kiện trọng tâm

Nội dung Đặc điểm / Sự kiện cần nhớ
Mở đầu xâm lược Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng (1 – 9 – 1858)
Người chỉ huy chống Pháp ở Đà Nẵng, Gia Định, Hà Nội (lần 1) Nguyễn Tri Phương
Đốt cháy tàu Ét-pê-răng (Hi Vọng) trên sông Nhật Tảo Nguyễn Trung Trực (12 – 1861)
Câu nói nổi tiếng của Nguyễn Trung Trực “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”
Lãnh đạo nghĩa quân Gò Công, Tân Phước Trương Định – được nhân dân suy tôn là Bình Tây Đại Nguyên soái
Nhà nho dùng thơ văn chống Pháp Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị
Khởi nghĩa ở miền Đông, bị bắt 2 lần vẫn bất khuất Nguyễn Hữu Huân
Tổng đốc tuẫn tiết khi mất thành Hà Nội (1882) Hoàng Diệu – tuẫn tiết tại vườn Võ Miếu
Chỉ huy quân Pháp bị giết ở Cầu Giấy lần 1 (1873) Ph. Gác-ni-ê
Chỉ huy quân Pháp bị giết ở Cầu Giấy lần 2 (1883) H. Ri-vi-e
Lực lượng phối hợp phục kích ở Cầu Giấy Quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc (lần 1)
4 hiệp ước Triều Nguyễn kí với Pháp Nhâm Tuất (1862), Giáp Tuất (1874), Hác-măng (1883), Pa-tơ-nốt (1884)
Hiệp ước đầu hàng hoàn toàn Hiệp ước Pa-tơ-nốt (6 – 6 – 1884) – Pháp chính thức áp đặt quyền bảo hộ ở Việt Nam
4 nhà cải cách tiêu biểu Nguyễn Trường Tộ, Trần Đình Túc – Nguyễn Huy Tế – Đinh Văn Điển, Viện Thương bạc, Nguyễn Lộ Trạch
Tác phẩm cải cách của Nguyễn Lộ Trạch “Thời vụ sách” (thượng và hạ)
Ý nghĩa trào lưu cải cách Chuẩn bị tiền đề tư tưởng cho phong trào Duy tân đầu thế kỉ XX

Sơ đồ tóm tắt bài

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858 – 1884)

Cuộc kháng chiến từ năm 1858 đến năm 1874

  • Tại Đà Nẵng và Nam Kì (1858 – 1862):
    • 1 – 9 – 1858: Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà NẵngNguyễn Tri Phương làm thất bại “đánh nhanh thắng nhanh”
    • 2 – 1859: Pháp chiếm Gia Định → nhân dân tự động nổi lên đánh giặc
    • 24 – 2 – 1861: Pháp đánh chiếm Đại đồn Chí Hoàba tỉnh miền Đông Nam Kì
    • 12 – 1861: Nguyễn Trung Trực đốt tàu Ét-pê-răng trên sông Nhật Tảo
    • 1862: Kí Hiệp ước Nhâm Tuất – nhường 3 tỉnh miền Đông Nam Kì và đảo Côn Lôn
  • Nhân dân Nam Kì tiếp tục kháng chiến (1862 – 1874):
    • 1867: Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kì
    • Nguyễn Trung Trực: tập kích đồn Kiên Giang, câu nói bất hủ
    • Trương Định: căn cứ Gò Công, Tân PhướcBình Tây Đại Nguyên soái
    • Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị: dùng thơ văn chống Pháp
    • Nguyễn Hữu Huân: chiến đấu bất khuất ở miền Đông

Phong trào kháng chiến lan rộng ra cả nước (1873 – 1884)

  • Bắc Kì lần thứ nhất (1873 – 1874):
    • 11 – 1873: Ph. Gác-ni-ê chiếm thành Hà Nội → Nguyễn Tri Phương tuyệt thực
    • 21 – 12 – 1873: Chiến thắng Cầu Giấy lần 1 – giết Ph. Gác-ni-ê (phối hợp quân Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc)
    • 1874: Hiệp ước Giáp Tuất – nhường cả sáu tỉnh Nam Kì
  • Bắc Kì lần thứ hai (1882 – 1884):
    • 25 – 4 – 1882: H. Ri-vi-e chiếm thành Hà Nội → Hoàng Diệu tuẫn tiết
    • 19 – 5 – 1883: Chiến thắng Cầu Giấy lần 2 – giết H. Ri-vi-e
    • 18 – 8 – 1883: Pháp tấn công Thuận AnHiệp ước Hác-măng
    • 6 – 6 – 1884: Hiệp ước Pa-tơ-nốt – Pháp chính thức áp đặt quyền bảo hộ

Trào lưu cải cách nửa sau thế kỉ XIX

  • Nguyên nhân: chế độ phong kiến khủng hoảng + kháng chiến chống Pháp + sĩ phu tham khảo nước ngoài
  • Đề nghị tiêu biểu:
    • Nguyễn Trường Tộ (1863 – 1871): chấn chỉnh bộ máy, phát triển công thương, võ bị, ngoại giao, giáo dục
    • Trần Đình Túc, Nguyễn Huy Tế, Đinh Văn Điển (1868): mở cửa biển Trà Lý
    • Viện Thương bạc (1872): mở 3 cửa biển
    • Nguyễn Lộ Trạch (1877, 1882): “Thời vụ sách” – chấn hưng dân khí, khai thông dân trí
  • Kết quả: không được thực hiện hoặc thực hiện một phần rất nhỏ
  • Ý nghĩa: chuẩn bị tiền đề tư tưởng cho phong trào Duy tân đầu thế kỉ XX
Thầy Võ Thành Luận

Thầy Võ Thành Luận

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử & Địa Lí THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Sử-Địa, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ A2

Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại THCS Lê Thánh Tôn