Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- I. Quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông Hồng. Chế độ nước sông Hồng
- 1. Quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông Hồng
- 2. Chế độ nước sông Hồng
- II. Quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông Cửu Long. Chế độ nước sông Cửu Long
- 1. Quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông Cửu Long
- 2. Chế độ nước sông Cửu Long (Mê Công)
- III. Quá trình con người khai khẩn và cải tạo châu thổ, chế ngự và thích ứng với chế độ nước của sông Hồng và sông Cửu Long
- 1. Đối với sông Hồng
- 2. Đối với sông Cửu Long
- Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng
- Sơ đồ tóm tắt bài
I. Quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông Hồng. Chế độ nước sông Hồng
1. Quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông Hồng
Khái quát chung
Hệ thống sông Hồng là một trong hai hệ thống sông lớn nhất Việt Nam. Dòng chính bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy vào lãnh thổ Việt Nam theo hướng tây bắc – đông nam rồi đổ ra vịnh Bắc Bộ.
Châu thổ sông Hồng rộng khoảng 15 000 km², có dạng tam giác:
- Đỉnh ở Thanh Miếu (tỉnh Phú Thọ)
- Đáy là đường bờ biển từ nơi giáp giới giữa thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh đến cửa sông Đáy (tỉnh Ninh Bình)
Quá trình hình thành và phát triển
Hệ thống sông Hồng có tổng lượng dòng chảy lên tới 112 tỉ m³/năm; lượng phù sa hết sức phong phú, khoảng 120 triệu tấn/năm.
Châu thổ sông Hồng được hình thành từ quá trình bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng, kết hợp với tác động của thủy triều và sóng biển.
Khi đổ ra biển, phù sa được lắng đọng ở cửa sông và hình thành châu thổ. Cùng với thời gian, châu thổ sông Hồng ngày càng tiến ra biển (một số nơi ở các tỉnh Ninh Bình, Hưng Yên có tốc độ tiến ra biển lên tới hàng chục mét/năm).
Phù sa sông còn có tác dụng bồi cao để hoàn chỉnh bề mặt châu thổ.
Để mở rộng diện tích sinh sống, sản xuất đồng thời phòng chống lũ lụt, ông cha ta đã xây dựng một hệ thống đê dài hàng nghìn ki-lô-mét dọc hai bên bờ sông. Tuyến đê đầu tiên được xây dựng năm 1108 vào thời vua Lý Nhân Tông. Điều này đã làm cho địa hình bề mặt châu thổ không còn được bồi đắp thường xuyên.

2. Chế độ nước sông Hồng
Toàn hệ thống sông Hồng có tới hàng trăm phụ lưu các cấp (lớn nhất là sông Đà và sông Lô). Các phụ lưu hợp với dòng chính thành một mạng lưới hình nan quạt.
Chế độ nước sông Hồng tương đối đơn giản, trong năm có một mùa lũ và một mùa cạn rõ rệt:
Mùa lũ: kéo dài 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10), chiếm khoảng 75% lưu lượng dòng chảy cả năm với các đợt lũ lên nhanh và đột ngột.
Mùa cạn: kéo dài 7 tháng (từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau), chỉ chiếm khoảng 25% lưu lượng dòng chảy cả năm, mực nước sông hạ thấp rõ rệt.
Từ khi các hệ thống hồ chứa nước được xây dựng ở thượng lưu hệ thống sông thì chế độ nước sông đã trở nên điều hòa hơn.

II. Quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông Cửu Long. Chế độ nước sông Cửu Long
1. Quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông Cửu Long
Khái quát chung
Hệ thống sông Mê Công là một trong những hệ thống sông lớn ở châu Á và thế giới. Phần sông Mê Công chảy trên lãnh thổ Việt Nam (sông Cửu Long) dài hơn 230 km. Sông Cửu Long gồm hai nhánh chính là sông Tiền và sông Hậu cùng hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt.
Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long là đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta, có diện tích hơn 40 nghìn km², bao gồm phần đất nằm trong phạm vi tác động trực tiếp của sông Tiền, sông Hậu và phần đất nằm ngoài phạm vi tác động đó nhưng vẫn được cấu tạo bởi phù sa sông (như bán đảo Cà Mau).
Quá trình hình thành và phát triển
Tổng lượng dòng chảy của hệ thống sông Cửu Long rất lớn, đạt 507 tỉ m³/năm, chiếm 60,4% tổng lượng nước của tất cả sông ngòi ở Việt Nam. Vì vậy, tuy hàm lượng phù sa không cao nhưng tổng lượng phù sa của hệ thống sông Cửu Long vẫn rất lớn.
Do không có hệ thống đê ven sông như ở châu thổ sông Hồng nên khi mùa lũ đến, nước sông Cửu Long dâng tràn ngập một vùng rộng khoảng 10 000 km² (chủ yếu ở Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên), bồi đắp phù sa cho bề mặt châu thổ.
Trước đây, hằng năm châu thổ sông Cửu Long tiến ra biển ở khu vực bán đảo Cà Mau tới hàng trăm mét mỗi năm.
Hiện nay, do biến đổi khí hậu, nước biển dâng và hàm lượng phù sa trong nước sông giảm nên nhiều nơi ở ven biển của châu thổ bị sạt lở.

2. Chế độ nước sông Cửu Long (Mê Công)
Chế độ nước của sông Cửu Long đơn giản và điều hòa, chia thành hai mùa:
Mùa lũ: dài 5 tháng (từ tháng 7 đến tháng 11), chiếm khoảng 80% lưu lượng dòng chảy cả năm. Lũ khi lên và khi rút đều diễn ra chậm vì lưu vực sông Mê Công dài, có dạng lông chim và nước lũ được điều tiết bởi hồ Tôn-lê Sáp (Cam-pu-chia).
Mùa cạn: dài 7 tháng (từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau), chiếm khoảng 20% lưu lượng dòng chảy cả năm.
Đặc biệt, nước sông ở vùng hạ lưu châu thổ chịu tác động rất mạnh của chế độ thủy triều.

III. Quá trình con người khai khẩn và cải tạo châu thổ, chế ngự và thích ứng với chế độ nước của sông Hồng và sông Cửu Long
Sinh cơ lập nghiệp trên vùng đất có nhiều sông ngòi, từ rất sớm, tổ tiên của những tộc người sinh sống trên đất nước Việt Nam đã biết khai thác nguồn lợi từ sông nước, cải tạo châu thổ, chế ngự và thích ứng với chế độ nước của các con sông lớn.
1. Đối với sông Hồng
Vai trò của sông Hồng đối với người Việt cổ
Mạng lưới thuộc hệ thống sông Hồng đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống của người Việt cổ ở miền Bắc:
- Là nơi cung cấp nguồn thức ăn
- Là đường giao thông liên kết giữa các vùng
Hình ảnh về cuộc sống sông nước, cũng như dựa vào khai thác các sản phẩm tự nhiên từ sông nước được in đậm trên các di vật, hoặc vẫn được lưu giữ trong các tầng văn hóa khảo cổ học.

Quá trình khai thác và trị thủy
Để phát triển nền nông nghiệp trồng lúa nước, công việc quan trọng hàng đầu là điều tiết và chế ngự nguồn nước.
Từ xa xưa, để khai thác nguồn nước giàu phù sa của hệ thống sông Hồng, người Việt đã sớm biết:
- Tạo nên những hệ thống kênh (sông đào) dẫn nước vào ruộng, hoặc tiêu nước, phân lũ về mùa mưa
- Sớm phải tổ chức đắp đê, trị thủy để phát triển sản xuất và bảo vệ cuộc sống
Hệ thống đê điều qua các triều đại
Thời Lý (thế kỉ XI): Nhà nước Đại Việt đã cho đắp đê dọc theo hầu hết các con sông lớn.
Thời Trần: Triều đình đã cho gia cố các đoạn đê xung yếu ở hai bên bờ sông Hồng từ đầu nguồn tới biển (đê quai vạc) và đặt ra chức quan Hà đê sứ chuyên trách trông coi việc bồi đắp và bảo vệ hệ thống đê điều.
Thế kỉ XV (nhà Lê): Bắt đầu tiến hành quai đê lấn biển để khai thác bãi bồi vùng cửa sông.
Thời Nguyễn: Công việc quai đê lấn biển được đẩy mạnh ở vùng ven biển các tỉnh Hưng Yên, Ninh Bình ngày nay, gắn liền với tên tuổi Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ.
2. Đối với sông Cửu Long
Cơ sở phát triển sớm của vùng đất Nam Bộ
Với vùng đồng bằng phì nhiêu, rộng lớn, vùng đất Nam Bộ Việt Nam sớm được khai khẩn và trở thành một trung tâm nông nghiệp lúa nước thời Vương quốc Phù Nam.
Trên nền tảng kinh tế nông nghiệp phát triển, một nền văn minh rực rỡ gắn với các di tích thuộc văn hóa Óc Eo, Vương quốc Phù Nam đã để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử Đông Nam Á từ thế kỉ I đến đầu thế kỉ VII.
Giai đoạn biển tiến và đất hoang
Đến thế kỉ IV, ở Nam Bộ xuất hiện tình trạng biển tiến cục bộ, nước mặn dâng cao. Quá trình này đã làm cho toàn bộ vùng đất thấp bị ngập mặn, gây ra hậu quả lâu dài và ảnh hưởng nghiêm trọng đến nghề trồng lúa.
Cho đến thế kỉ XIII, Nam Bộ vẫn còn là vùng đất tương đối hoang vu.
Quá trình khai khẩn từ thế kỉ XVII
Nếu quá trình khai khẩn châu thổ sông Hồng ở miền Bắc gắn liền với việc đắp đê trị thủy, thì việc khai khẩn đồng bằng sông Cửu Long lại là quá trình thích ứng với tự nhiên.
Quá trình khai hoang, phục hóa đồng ruộng bắt đầu được đẩy mạnh từ khoảng thế kỉ XVII với nhiều dòng kênh lớn được đào và đưa vào khai thác. Các cộng đồng cư dân đến từ phía bắc, cùng với những nhóm cư dân có mặt từ trước đã sát cánh bên nhau khai phá trên quy mô lớn, phát triển vùng đất Nam Bộ dần thành một trung tâm kinh tế của đất nước.
Văn hóa sông nước đặc trưng
Cuộc sống trên sông nước, gần sông nước và những ứng xử thường xuyên với môi trường đã tạo nên một nền văn hóa đậm chất sông nước. Chợ nổi, nhà nổi,… là những cách thích ứng với môi trường sông nước của cư dân Đồng bằng sông Cửu Long.
Do tác động lớn của môi trường sông nước mà “nước” trở thành quan niệm của người Việt về Tổ quốc từ xưa đến nay.

Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng
| Thời gian | Sự kiện | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Từ thế kỉ I đến đầu thế kỉ VII | Vương quốc Phù Nam phát triển ở Nam Bộ với văn hóa Óc Eo | Trung tâm nông nghiệp lúa nước, để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử Đông Nam Á |
| Thế kỉ IV | Biển tiến cục bộ ở Nam Bộ, nước mặn dâng cao | Làm toàn bộ vùng đất thấp bị ngập mặn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nghề trồng lúa |
| Thế kỉ XI (thời Lý) | Nhà nước Đại Việt cho đắp đê dọc các con sông lớn | Bắt đầu hệ thống trị thủy quy mô lớn ở châu thổ sông Hồng |
| Năm 1108 (thời Lý Nhân Tông) | Tuyến đê đầu tiên được xây dựng | Mốc khởi đầu của hệ thống đê điều dài hàng nghìn ki-lô-mét ở châu thổ sông Hồng |
| Thời Trần | Gia cố đê quai vạc, đặt chức Hà đê sứ | Tổ chức chuyên trách bồi đắp và bảo vệ hệ thống đê điều |
| Thế kỉ XIII | Nam Bộ vẫn là vùng đất tương đối hoang vu | Hậu quả lâu dài của biển tiến cục bộ |
| Thế kỉ XV (nhà Lê) | Bắt đầu tiến hành quai đê lấn biển | Khai thác bãi bồi vùng cửa sông ở châu thổ sông Hồng |
| Khoảng thế kỉ XVII | Đẩy mạnh khai hoang, phục hóa đồng ruộng ở Nam Bộ | Phát triển vùng đất Nam Bộ thành trung tâm kinh tế của đất nước |
| Thời Nguyễn | Quai đê lấn biển ở Hưng Yên, Ninh Bình gắn với Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ | Mở rộng diện tích canh tác ở châu thổ sông Hồng |
Sơ đồ tóm tắt bài
Văn minh châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long
1. Châu thổ sông Hồng
Đặc điểm hình thành và phát triển
- Sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy theo hướng tây bắc – đông nam, đổ ra vịnh Bắc Bộ
- Châu thổ rộng khoảng 15 000 km², dạng tam giác (đỉnh: Thanh Miếu – Phú Thọ; đáy: từ Hải Phòng/Quảng Ninh đến cửa sông Đáy – Ninh Bình)
- Tổng lượng dòng chảy: 112 tỉ m³/năm; lượng phù sa: 120 triệu tấn/năm
- Hình thành từ phù sa kết hợp với thủy triều và sóng biển
- Tốc độ tiến ra biển ở Ninh Bình, Hưng Yên: hàng chục mét/năm
- Tuyến đê đầu tiên xây năm 1108 (thời Lý Nhân Tông)
Chế độ nước sông Hồng
- Mạng lưới hình nan quạt, phụ lưu lớn nhất: sông Đà và sông Lô
- Chế độ nước đơn giản, một mùa lũ và một mùa cạn rõ rệt
- Mùa lũ: 5 tháng (tháng 6 – tháng 10), chiếm 75% lưu lượng, lên nhanh, đột ngột
- Mùa cạn: 7 tháng (tháng 11 – tháng 5 năm sau), chiếm 25% lưu lượng
- Hồ chứa thượng lưu giúp chế độ nước điều hòa hơn
2. Châu thổ sông Cửu Long
Đặc điểm hình thành và phát triển
- Phần sông Mê Công chảy trên lãnh thổ Việt Nam dài hơn 230 km
- Hai nhánh chính: sông Tiền và sông Hậu; mạng lưới kênh rạch chằng chịt
- Châu thổ rộng hơn 40 nghìn km² – lớn nhất nước ta (gồm cả bán đảo Cà Mau)
- Tổng lượng dòng chảy: 507 tỉ m³/năm – chiếm 60,4% tổng lượng nước cả nước
- Không có hệ thống đê → mùa lũ ngập khoảng 10 000 km² (Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên)
- Hiện nay: ven biển bị sạt lở do biến đổi khí hậu
Chế độ nước sông Cửu Long
- Đơn giản và điều hòa, chia hai mùa
- Mùa lũ: 5 tháng (tháng 7 – tháng 11), chiếm 80% lưu lượng, lên xuống chậm
- Mùa cạn: 7 tháng (tháng 12 – tháng 6 năm sau), chiếm 20% lưu lượng
- Nước lũ được điều tiết bởi hồ Tôn-lê Sáp (Cam-pu-chia)
- Hạ lưu chịu tác động mạnh của thủy triều
3. Quá trình con người khai khẩn và cải tạo
Đối với sông Hồng – chế ngự, đắp đê trị thủy
- Vai trò: nguồn thức ăn, đường giao thông cho người Việt cổ
- Sớm biết đào kênh, đắp đê
- Thời Lý: đắp đê dọc các sông lớn (đê đầu tiên năm 1108)
- Thời Trần: gia cố đê quai vạc, đặt chức Hà đê sứ
- Thế kỉ XV (Lê): quai đê lấn biển
- Thời Nguyễn: Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ quai đê lấn biển ở Hưng Yên, Ninh Bình
Đối với sông Cửu Long – thích ứng với tự nhiên
- Thế kỉ I – đầu VII: Vương quốc Phù Nam, văn hóa Óc Eo phát triển rực rỡ
- Thế kỉ IV: biển tiến cục bộ, đất bị ngập mặn
- Thế kỉ XIII: Nam Bộ vẫn hoang vu
- Thế kỉ XVII: đẩy mạnh khai hoang, đào kênh lớn
- Văn hóa sông nước đặc trưng: chợ nổi, nhà nổi
- “Nước” trở thành quan niệm của người Việt về Tổ quốc

Thầy Võ Thành Luận
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử & Địa Lí THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Sử-Địa, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ A2
Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại THCS Lê Thánh Tôn
