Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- I. Vị trí, phạm vi các vùng biển và hải đảo Việt Nam
- 1. Các vùng biển Việt Nam theo Luật Biển
- 2. Đường cơ sở và phạm vi vùng biển
- 3. Hai vịnh biển và đường phân định vịnh Bắc Bộ
- 4. Đảo và quần đảo
- II. Những thuận lợi, khó khăn đối với phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo
- 1. Đối với phát triển kinh tế
- 2. Đối với bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông
- III. Quá trình xác lập chủ quyền biển đảo trong lịch sử Việt Nam
- 1. Thời tiền sử
- 2. Từ khoảng thế kỉ VII trước Công nguyên đến thế kỉ X
- 3. Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV
- 4. Từ thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XIX
- 5. Từ năm 1945 đến nay
- Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng
- Sơ đồ tóm tắt bài
I. Vị trí, phạm vi các vùng biển và hải đảo Việt Nam
1. Các vùng biển Việt Nam theo Luật Biển
Theo Luật Biển Việt Nam năm 2012, vùng biển Việt Nam trong Biển Đông bao gồm 5 bộ phận thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam:
- Nội thủy
- Lãnh hải
- Vùng tiếp giáp lãnh hải
- Vùng đặc quyền kinh tế
- Thềm lục địa
2. Đường cơ sở và phạm vi vùng biển
Đường cơ sở là căn cứ để xác định phạm vi, chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam và các vùng biển khác.
Đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam là đường thẳng gãy khúc nối liền các điểm từ 0 đến A24 (gồm 25 điểm).
Vùng biển của Việt Nam mở rộng ra tới ranh giới ngoài của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trên Biển Đông với diện tích khoảng 1 triệu km² (gấp hơn ba lần diện tích phần đất liền).

3. Hai vịnh biển và đường phân định vịnh Bắc Bộ
Trong vùng biển Việt Nam có hai vịnh biển quan trọng:
- Vịnh Thái Lan: được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam, Thái Lan, Cam-pu-chia và Ma-lai-xi-a.
- Vịnh Bắc Bộ: được bao bọc bởi bờ biển Việt Nam và Trung Quốc.
Ngày 25 – 12 – 2000, Việt Nam và Trung Quốc kí Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ nhằm xác định biên giới lãnh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước trên vịnh Bắc Bộ.
Đường phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc được xác định qua 21 điểm nối tuần tự với nhau bằng các đoạn thẳng.

4. Đảo và quần đảo
Vùng biển Việt Nam có hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Về hành chính, một số đảo và quần đảo của nước ta được tổ chức thành các đặc khu.
II. Những thuận lợi, khó khăn đối với phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo
Biển đảo nước ta có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai.
1. Đối với phát triển kinh tế
Thuận lợi
- Tài nguyên biển (sinh vật, khoáng sản,…) đa dạng, phong phú → phát triển nhiều ngành kinh tế biển: khai thác và nuôi trồng thủy sản, làm muối, khai thác khoáng sản,…
- Vị trí nằm gần các tuyến hàng hải quốc tế trên Biển Đông, dọc bờ biển có nhiều vịnh biển kín để xây dựng các cảng nước sâu → phát triển giao thông vận tải biển, là cửa ngõ để Việt Nam giao thương với thị trường quốc tế.
- Nhiều bãi biển đẹp, nước biển ấm, chan hòa ánh nắng, nhiều vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển ven biển và trên các đảo,… → phát triển du lịch biển đảo.
Khó khăn
- Vùng biển nhiệt đới nước ta chịu nhiều thiên tai, đặc biệt là bão. Những năm gần đây, biến đổi khí hậu đã tác động lớn tới thiên nhiên vùng biển đảo (đặc biệt là sạt lở bờ biển và nước biển dâng), gây khó khăn cho phát triển kinh tế biển đảo.
- Cơ sở hạ tầng các vùng biển và hải đảo nhìn chung còn chưa đầy đủ và đồng bộ, không tương xứng với tiềm năng và thế mạnh biển đảo.
2. Đối với bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông
Thuận lợi
- Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) là cơ sở pháp lí để các quốc gia xác định phạm vi các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Cùng năm đó, Việt Nam đã kí kết Công ước này và được sự ủng hộ của nhiều quốc gia trên thế giới trong quá trình đấu tranh nhằm thực thi Công ước trên Biển Đông.
- Trên cơ sở Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống luật và pháp luật làm cơ sở để bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của đất nước trên Biển Đông, như: Luật Biên giới Quốc gia năm 2003, Luật Biển Việt Nam năm 2012,…
- Việt Nam cũng tích cực tham gia xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), kí một số thỏa thuận và hiệp định về phân định và hợp tác trên biển với các nước láng giềng như: Thỏa thuận hợp tác khai thác chung thềm lục địa chồng lấn với Ma-lai-xi-a năm 1992, Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa với In-đô-nê-xi-a năm 2003,…
Khó khăn
- Hiện nay, khó khăn lớn nhất là do có quốc gia đưa ra yêu sách phi lí, biến vùng biển không có tranh chấp thành có tranh chấp.
- Ngoài ra, tình trạng chồng lấn giữa vùng biển đảo của nhiều quốc gia cũng dẫn đến những tranh chấp, ảnh hưởng tới tình hình an ninh trên Biển Đông.
- Việc giải quyết các tranh chấp trên biển phải được tiến hành bằng các biện pháp hòa bình.
III. Quá trình xác lập chủ quyền biển đảo trong lịch sử Việt Nam
Do sống ở gần biển, sớm nhận thức được vai trò của biển, các thế hệ người Việt từ xa xưa đã dành nhiều công sức để khai phá, xác lập và thực thi quyền, chủ quyền biển đảo nói chung và đối với quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa nói riêng.
1. Thời tiền sử
Ngay từ thời tiền sử, nhiều bộ lạc đã sinh sống ở các hang động ven biển các tỉnh, thành phố như: Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị,…
Những bằng chứng khảo cổ học được tìm thấy ở vùng ven biển từ bắc vào nam cho thấy cư dân Việt cổ đã có những hoạt động đánh bắt hải sản cũng như giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng và trong khu vực.
2. Từ khoảng thế kỉ VII trước Công nguyên đến thế kỉ X
Đây là thời kì ra đời và phát triển của các nhà nước đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam: Văn Lang – Âu Lạc, Chăm-pa, Phù Nam.
- Những trống đồng, thạp đồng có trang trí hoa văn hình thuyền thuộc văn hóa Đông Sơn được phát hiện đã chứng tỏ cư dân ở đây tiếp tục sinh sống và khai thác biển.
- Trong khoảng hơn một nghìn năm Bắc thuộc, người Việt ở phía bắc vừa đấu tranh giành độc lập, vừa duy trì và thực thi chủ quyền thông qua khai thác biển đảo.
- Với vị trí ven biển, Vương quốc Chăm-pa đã sớm trở thành nơi thu hút nhiều thương nhân nước ngoài đến buôn bán.
- Óc Eo (tỉnh An Giang) cũng là một thương cảng nổi tiếng của Vương quốc Phù Nam trong giao thương với Chăm-pa và các vương quốc trong khu vực Đông Nam Á cũng như với Trung Quốc, Ấn Độ,…
3. Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV
Biển trở thành tuyến giao thông đường thủy quan trọng, kết nối Đại Việt và các nước xung quanh.
Thế kỉ X
Cư dân ven biển tiếp tục khai thác biển, lập nghiệp và góp phần trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm.
Thế kỉ XI – XIV
- Cảng biển Vân Đồn (tỉnh Quảng Ninh) thuộc vùng quần đảo phía đông bắc, đã trở thành thương cảng quốc tế quan trọng từ thời Lý – Trần. Các vua Trần cử các tướng lĩnh tin cậy trấn thủ.
- Các cửa biển khác như Hội Triều (tỉnh Thanh Hóa), Hội Thống (tỉnh Hà Tĩnh) cũng trở thành những trung tâm buôn bán lớn với người nước ngoài.
Thế kỉ XV
- Triều Lê sơ tiếp tục mở rộng khai phá vùng đất phía Nam, duy trì việc buôn bán với thương nhân nước ngoài qua các thương cảng và giữ vững chủ quyền cả trên đất liền, vùng biển, các đảo lớn.
- Vương triều Vi-giay-a (Vương quốc Chăm-pa) cũng tiếp tục phát triển thương mại đường biển thông qua các thương cảng như Đại Chiêm hải khẩu (thành phố Đà Nẵng), Tân Châu (tỉnh Gia Lai),…
4. Từ thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XIX
Các cảng thị và đô thị cổ
Các cảng thị, đô thị cổ ở cả Đàng Ngoài và Đàng Trong như: Vân Đồn, Phố Hiến, Hội An, Thanh Hà, Gia Định,… đều hướng ra biển, thúc đẩy việc mở rộng giao thương không chỉ với các nước trong khu vực mà cả với các nước châu Âu.
Hoạt động của các chúa Nguyễn
- Chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong khuyến khích quan lại, địa chủ mộ dân phiêu tán vào khai khẩn, lập xã thôn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Vì vậy, các đảo như Côn Lôn (hay Côn Sơn thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), Phú Quốc (tỉnh An Giang),… đều có dân cư đến khai phá, lập nghiệp.
- Tháng 8 – 1702, người Anh đã đánh chiếm đảo Côn Lôn. Hơn một thập kỉ sau, chúa Nguyễn Phúc Chu đã tổ chức chiến đấu đánh đuổi quân xâm lược Anh, giành lại chủ quyền biển đảo.
- Khi Hà Tiên thuộc về Đàng Trong, đội Hà Tiên được thành lập đặc trách khu vực vịnh Thái Lan.
- Các chúa Nguyễn còn xây dựng thành trì, đắp lũy trên đất liền, bố trí việc phòng thủ ở ven biển, thành lập các đội quân canh giữ biển đảo.
- Các chúa Nguyễn tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải hằng năm ra quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa thực hiện khai thác sản vật và quản lí biển đảo.
Hoạt động của Triều Tây Sơn
Tiếp nối các chúa Nguyễn, Triều Tây Sơn cũng luôn quan tâm đến việc duy trì, tổ chức việc khai thác quần đảo Hoàng Sa, thực hiện chủ quyền của mình đối với biển đảo.
Hoạt động của Triều Nguyễn
- Từ năm 1802 cho đến năm 1884: Các vua Triều Nguyễn ra sức củng cố chủ quyền biển đảo qua việc tổ chức khảo sát, thăm dò, khai thác, đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ và cắm cờ trên quần đảo Hoàng Sa để khẳng định chủ quyền của Việt Nam.
- Từ năm 1884 đến năm 1945: Sau khi kí Hiệp ước Pa-tơ-nốt với Triều Nguyễn, Pháp đại diện quyền lợi trong quan hệ đối ngoại và việc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tiếp tục thực thi chủ quyền trên Biển Đông, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.


5. Từ năm 1945 đến nay
Nhà nước Việt Nam qua các thời kì lịch sử tiếp tục có hoạt động đấu tranh kiên quyết nhằm thực thi chủ quyền biển đảo cũng như chủ quyền ở quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa.
Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng
| Thời gian | Sự kiện | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Thời tiền sử | Cư dân Việt cổ sinh sống ven biển ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị,… | Bằng chứng khảo cổ về hoạt động đánh bắt hải sản và giao lưu kinh tế, văn hóa |
| Thế kỉ VII TCN đến thế kỉ X | Hình thành các nhà nước đầu tiên: Văn Lang – Âu Lạc, Chăm-pa, Phù Nam; thương cảng Óc Eo (tỉnh An Giang) phát triển | Khẳng định cư dân Việt cổ khai thác và giao thương qua biển |
| Thế kỉ XI – XIV (thời Lý – Trần) | Cảng Vân Đồn (Quảng Ninh) trở thành thương cảng quốc tế; cử tướng lĩnh trấn thủ | Khẳng định chủ quyền và phát triển giao thương đường biển |
| Thế kỉ XV | Triều Lê sơ và Vương triều Vi-giay-a phát triển thương cảng (Đại Chiêm hải khẩu – Đà Nẵng, Tân Châu – Gia Lai) | Mở rộng khai phá phía Nam, giữ vững chủ quyền trên biển và đảo |
| Tháng 8 – 1702 | Người Anh chiếm đảo Côn Lôn; sau đó chúa Nguyễn Phúc Chu giành lại | Bảo vệ chủ quyền biển đảo trước thế lực bên ngoài |
| Thế kỉ XVII – XVIII (thời các chúa Nguyễn) | Thành lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải, đội Hà Tiên; khai thác và quản lí quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa | Xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo |
| Năm 1786 | Tờ sai của Thượng tướng công Triều Tây Sơn về đội Hoàng Sa | Triều Tây Sơn tiếp nối thực hiện chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa |
| Năm 1802 – 1884 | Các vua Triều Nguyễn tổ chức khảo sát, đo đạc, vẽ bản đồ, cắm cờ trên quần đảo Hoàng Sa | Củng cố và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo |
| Năm 1884 – 1945 | Sau Hiệp ước Pa-tơ-nốt, Pháp đại diện cho Việt Nam thực thi chủ quyền trên Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa | Tiếp nối chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo |
| Năm 1982 | Việt Nam kí Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) | Cơ sở pháp lí quốc tế để xác định chủ quyền các vùng biển |
| Năm 1992 | Thỏa thuận hợp tác khai thác chung thềm lục địa chồng lấn với Ma-lai-xi-a | Giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình |
| Ngày 25 – 12 – 2000 | Việt Nam và Trung Quốc kí Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ | Xác định biên giới lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế qua 21 điểm |
| Năm 2003 | Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa với In-đô-nê-xi-a; ban hành Luật Biên giới Quốc gia | Tăng cường cơ sở pháp lí và hợp tác quốc tế |
| Năm 2012 | Quốc hội ban hành Luật Biển Việt Nam | Cơ sở pháp lí quan trọng để xác định vùng biển và bảo vệ chủ quyền |
| Năm 1945 đến nay | Nhà nước Việt Nam tiếp tục đấu tranh kiên quyết thực thi chủ quyền biển đảo, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa | Khẳng định và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc |
Sơ đồ tóm tắt bài
Bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông
1. Vị trí, phạm vi các vùng biển và hải đảo Việt Nam
Các vùng biển theo Luật Biển Việt Nam 2012
- Nội thủy – Lãnh hải – Vùng tiếp giáp lãnh hải – Vùng đặc quyền kinh tế – Thềm lục địa
- Đường cơ sở: đường thẳng gãy khúc nối các điểm từ 0 đến A24
- Diện tích vùng biển: khoảng 1 triệu km² (gấp hơn 3 lần đất liền)
Hai vịnh biển
- Vịnh Thái Lan: bao bọc bởi Việt Nam, Thái Lan, Cam-pu-chia, Ma-lai-xi-a
- Vịnh Bắc Bộ: bao bọc bởi Việt Nam và Trung Quốc
- 25 – 12 – 2000: Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc qua 21 điểm
Đảo và quần đảo
- Hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ
- Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
2. Thuận lợi, khó khăn trong phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền
Phát triển kinh tế
- Thuận lợi: tài nguyên đa dạng, vị trí trên tuyến hàng hải quốc tế, bãi biển đẹp → thủy sản, làm muối, khoáng sản, giao thông biển, du lịch
- Khó khăn: thiên tai (bão), biến đổi khí hậu, sạt lở bờ biển, nước biển dâng, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ
Bảo vệ chủ quyền
- Thuận lợi: UNCLOS 1982, Luật Biên giới Quốc gia 2003, Luật Biển Việt Nam 2012, COC, các hiệp định phân định với các nước láng giềng
- Khó khăn: yêu sách phi lí, tình trạng chồng lấn giữa các quốc gia
- Nguyên tắc: giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình
3. Quá trình xác lập chủ quyền biển đảo trong lịch sử
- Thời tiền sử: hoạt động đánh bắt, giao lưu ở các hang động ven biển
- Thế kỉ VII TCN – thế kỉ X: các nhà nước Văn Lang – Âu Lạc, Chăm-pa, Phù Nam; thương cảng Óc Eo
- Thế kỉ X – XV: thương cảng Vân Đồn (Quảng Ninh), Hội Triều (Thanh Hóa), Hội Thống (Hà Tĩnh), Đại Chiêm hải khẩu (Đà Nẵng), Tân Châu (Gia Lai)
- Thế kỉ XVI – XIX:
- Các chúa Nguyễn: lập đội Hoàng Sa, Bắc Hải, đội Hà Tiên; giành lại Côn Lôn (1702)
- Triều Tây Sơn: tiếp tục khai thác quần đảo Hoàng Sa
- Triều Nguyễn (1802 – 1884): khảo sát, đo đạc, vẽ bản đồ, cắm cờ trên Hoàng Sa
- 1884 – 1945: Pháp đại diện thực thi chủ quyền theo Hiệp ước Pa-tơ-nốt
- Năm 1945 đến nay: Nhà nước Việt Nam tiếp tục đấu tranh kiên quyết thực thi chủ quyền

Thầy Võ Thành Luận
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử & Địa Lí THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Sử-Địa, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ A2
Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại THCS Lê Thánh Tôn
