Nói và nghe: Tranh biện về một vấn đề trong đời sống (trang 86)

I. Yêu cầu

  1. Nêu được rõ ràng quan điểm (tán thành hay phản đối) về vấn đề tranh biện.
  2. Đưa ra được lí lẽ, bằng chứng thuyết phục để khẳng định quan điểm của mình và phản bác quan điểm phía đối lập.
  3. Thể hiện được sự tương tác tích cực trong nhóm để phát triển ý tưởng và luận điểm; biết lắng nghe và tôn trọng người tranh biện với mình.
  4. Sử dụng giọng nói, ngữ điệu và ngôn ngữ cơ thể phù hợp.

II. Tranh biện khác thảo luận, tranh luận ở đâu

Ở bài trước, các em đã thảo luận và tranh luận về một vấn đề đời sống. Tranh biện là một bước tiến xa hơn, với ba khác biệt:

Thảo luận, tranh luận Tranh biện
Hình thức Ai cũng có thể phát biểu, quan điểm tùy mỗi người Chia thành hai đội với quan điểm trái ngược đã định trước
Vấn đề Có thể là câu hỏi mở (“điều gì quan trọng hơn?”) Phát biểu dưới dạng một nhận định để tán thành hoặc phản đối
Tiến trình Linh hoạt Theo phiên, có giới hạn thời gian, có người điều hành

Một điểm quan trọng: trong tranh biện, quan điểm được phân vai, không nhất thiết là quan điểm thật của em. Đây chính là giá trị của hoạt động này – nó buộc người tham gia phải hiểu thấu cả phía mình không đồng tình.

III. Chuẩn bị tranh biện

1. Lựa chọn đề tài

Vấn đề cần mang tính thời sự, thiết thựccó những quan điểm tiếp cận trái chiều. Vấn đề được phát biểu dưới hình thức một ý kiến, một nhận định để hai phía tán thành hoặc phản đối.

Gợi ý trong SGK:

  • Du học sẽ mang lại cho học sinh cơ hội tiếp cận nền giáo dục tốt hơn.
  • Mạng xã hội là kênh giao tiếp tự do cho tất cả mọi người.
  • Cần phát triển hệ thống siêu thị để thay thế chợ truyền thống ở các thành phố lớn.

Lưu ý cách đặt vấn đề: phải là một nhận định khẳng định để có thể tán thành hay phản đối, không phải một câu hỏi mở.

2. Lập đội

Thành phần Số lượng Vai trò
Đội tán thành 2 – 3 người Bảo vệ nhận định đã nêu
Đội phản đối 2 – 3 người Bác bỏ nhận định đã nêu
Người điều hành 1 người Nêu vấn đề, phổ biến quy tắc, điều phối, tổng kết
Khán giả Không giới hạn Theo dõi, đánh giá, bình chọn

3. Nghiên cứu vấn đề và chuẩn bị ý kiến

  • Tìm hiểu kĩ vấn đề để nhận ra vì sao lại xuất hiện những quan điểm khác biệt, đối lập.
  • Dự kiến những lí lẽ có thể bị phản bác của chính đội mình, và suy đoán những lí lẽ mà phía đối lập sẽ dùng. Đây là bước quan trọng nhất – đội nào chuẩn bị kĩ bước này sẽ chủ động hơn hẳn khi vào phiên phản biện.
  • Xác định rõ hai nhiệm vụ: trình bày thuyết phục lí lẽ, bằng chứng của đội mình và trả lời chất vấn; đồng thời phản biện sắc bén lí lẽ của phía đối lập, chất vấn xoay quanh những điểm cốt lõi chứ không sa vào chi tiết vụn vặt.

Khung chuẩn bị cho mỗi luận điểm:

Thành phần Nội dung
Luận điểm Ý chính cần chứng minh
Lí lẽ Lập luận giải thích vì sao luận điểm đúng
Bằng chứng Số liệu, sự việc, ví dụ cụ thể, kiểm chứng được
Dự phòng Điểm yếu của luận điểm này và cách bảo vệ khi bị tấn công

Nên chuẩn bị 3 – 4 luận điểm mạnh thay vì nhiều luận điểm yếu. Trong tranh biện, một luận điểm bị bẻ gãy sẽ làm giảm độ tin cậy của cả phần trình bày.

4. Quy tắc tranh biện

Tranh biện phải thực hiện trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau:

  • Bám sát vấn đề tranh biện.
  • Thực hiện yêu cầu của người điều hành.
  • Đảm bảo thời gian quy định cho mỗi lượt phát biểu.
  • Không ngắt lời phía đối lập.
  • Không chỉ trích cá nhân – chỉ tranh biện về quan điểm.
  • Không dùng ngôn ngữ thiếu chuẩn mực.
  • Không ngụy tạo bằng chứng.

IV. Tiến trình tranh biện

Người điều hành mở đầu: nêu vấn đề, giới thiệu thành phần tham gia, nêu mục đích và phổ biến quy tắc.

Phía tán thành Phía phản đối
Phiên 1

Trình bày quan điểm

Khẳng định quan điểm đồng tình, giải thích các khái niệm cơ bản, trình bày luận điểm chính kèm lí lẽ và bằng chứng Khẳng định sự không đồng tình, định nghĩa lại những khái niệm chưa hợp lí, trình bày luận điểm kèm lí lẽ và bằng chứng
Phiên 2

Phản biện

Phản bác từng luận điểm của phía phản đối, phân tích sâu hơn quan điểm đội mình, bổ sung lí lẽ và bằng chứng Bác bỏ từng luận điểm phía tán thành vừa nêu, khẳng định lại và củng cố quan điểm của đội mình
Phiên 3

Kết luận

Tiếp tục phản bác; khẳng định lại tính đúng đắn của những luận điểm quan trọng đã bị bác bỏ; kết luận Tiếp tục phản bác; bảo vệ những luận điểm quan trọng đã bị bác bỏ; kết luận

Giữa các phiên có thể có lượt hỏi – đáp từ hai phía để chất vấn và phản hồi.

Người điều hành kết thúc: tóm tắt các luận điểm chính của hai phía; tổ chức cho khán giả đánh giá, bình chọn; nêu ý nghĩa của cuộc tranh biện; cảm ơn.

Chú ý chi tiết ở phiên 1: phía tán thành giải thích khái niệm, còn phía phản đối có quyền định nghĩa lại. Rất nhiều cuộc tranh biện được quyết định ngay ở bước này, vì cách hiểu khái niệm khác nhau sẽ dẫn tới kết luận khác nhau.

V. Đánh giá, rút kinh nghiệm

STT Nội dung đánh giá Đạt Chưa đạt
1 Khẳng định rõ ràng quan điểm tán thành hay phản đối
2 Trình bày được các luận điểm chính; nêu được lí lẽ, bằng chứng bảo vệ quan điểm
3 Có khả năng phối hợp nhóm để duy trì tiến trình và phát triển ý tưởng
4 Có khả năng xử lí tình huống, ứng phó với ý kiến phản biện của phía đối lập
5 Lắng nghe người khác với thái độ tôn trọng
6 Ngôn ngữ chính xác, rõ ràng; ngữ điệu và ngôn ngữ cơ thể linh hoạt, phù hợp
7 Tuân thủ thời gian quy định đối với từng lượt phát biểu

VI. Bài mẫu

Đề tài: Mạng xã hội là kênh giao tiếp tự do cho tất cả mọi người.

1. Khung luận điểm hai phía

Phía tán thành Phía phản đối
Cách hiểu khái niệm “Tự do giao tiếp” = ai cũng có quyền tiếp cận, sử dụng và chia sẻ thông tin “Tự do” thực sự phải đi kèm an toàn, minh bạch và bình đẳng
Luận điểm 1 Mọi người đều có thể phát ngôn trước công chúng Nội dung bị kiểm duyệt bởi các công ty tư nhân
Luận điểm 2 Tiếp cận thông tin, tri thức bình đẳng và miễn phí Quyền riêng tư bị xâm phạm
Luận điểm 3 Kết nối vượt biên giới, mở rộng tầm nhìn Thông tin sai lệch lan tràn; điều kiện tiếp cận không đồng đều

2. Mô phỏng cuộc tranh biện

Người điều hành mở đầu

“Kính chào quý vị và các bạn. Chủ đề tranh biện hôm nay: Mạng xã hội là kênh giao tiếp tự do cho tất cả mọi người. Hai đội, mỗi đội ba thành viên, có năm phút cho mỗi phiên. Đề nghị các đội bám sát vấn đề, tuân thủ thời gian, không ngắt lời đối phương. Xin mời đội tán thành.”

PHIÊN 1 – Trình bày quan điểm

Đội tán thành:

“Đội chúng tôi tán thành nhận định trên.

Trước hết, xin làm rõ khái niệm. “Tự do giao tiếp” ở đây được hiểu là mọi người đều có quyền tiếp cận, sử dụng và chia sẻ thông tin mà không bị chặn bởi rào cản về địa vị, tuổi tác hay tài chính.

Luận điểm thứ nhất: mạng xã hội trao quyền phát ngôn cho tất cả. Trước đây, muốn nói điều gì trước công chúng, người ta phải qua tòa soạn, đài truyền hình. Nay một học sinh cấp ba cũng có thể nêu ý kiến về một vấn đề xã hội và được lắng nghe. Đây là điều các phương tiện truyền thông truyền thống không làm được.

Luận điểm thứ hai: tiếp cận tri thức trở nên bình đẳng hơn. Hàng triệu bài giảng, hướng dẫn được chia sẻ miễn phí. Một học sinh ở vùng xa có thể học cùng nội dung với học sinh thành phố – điều trước đây phụ thuộc hoàn toàn vào nơi các em sinh ra.

Luận điểm thứ ba: kết nối vượt biên giới. Chúng ta có thể trò chuyện với người ở bất kì quốc gia nào, mở ra cơ hội giao lưu và học hỏi chưa từng có.

Xin cảm ơn.”

Đội phản đối:

“Đội chúng tôi phản đối nhận định trên.

Trước hết, chúng tôi định nghĩa lại khái niệm “tự do”. Đội bạn hiểu tự do là “có thể đăng bài”. Chúng tôi cho rằng tự do thực sự phải đi kèm ba điều kiện: an toàn, minh bạch và bình đẳng. Thiếu một trong ba, đó chỉ là ảo giác về tự do.

Luận điểm thứ nhất: nội dung bị kiểm duyệt bởi các công ty tư nhân. Các nền tảng có quyền gỡ bài, khóa tài khoản theo chính sách riêng của họ. Người dùng thường không được giải thích và không có nơi khiếu nại thực chất.

Luận điểm thứ hai: quyền riêng tư bị xâm phạm. Vụ Cambridge Analytica năm 2018 cho thấy dữ liệu của khoảng 87 triệu tài khoản Facebook đã bị thu thập và sử dụng ngoài ý muốn người dùng. Khi dữ liệu của mình bị người khác nắm giữ, liệu còn có thể gọi là tự do?

Luận điểm thứ ba: điều kiện tiếp cận không đồng đều. Nhận định nói “cho tất cả mọi người”. Nhưng người cao tuổi, người ở vùng chưa có internet ổn định, người không thạo công nghệ vẫn đứng ngoài. Chỉ riêng chữ “tất cả” đã khiến nhận định này không đứng vững.

Xin cảm ơn.”

PHIÊN 2 – Phản biện

Đội tán thành:

“Chúng tôi xin phản bác từng luận điểm.

Về kiểm duyệt: đội bạn coi kiểm duyệt là mất tự do. Nhưng không gian nào cũng cần quy tắc. Việc gỡ bỏ nội dung bạo lực hay kích động thù hận chính là để bảo vệ tự do của những người dùng khác. Tự do không đồng nghĩa với vô giới hạn.

Về quyền riêng tư: Cambridge Analytica là một vụ vi phạm, và chính vì bị phanh phui mà sau đó nhiều quy định bảo vệ dữ liệu đã ra đời. Đó là bằng chứng cho thấy hệ thống có khả năng tự sửa chữa, không phải bằng chứng cho thấy nó vô phương cứu chữa.

Về điều kiện tiếp cận: đúng là chưa phải ai cũng dùng được. Nhưng khoảng cách ấy đang thu hẹp rất nhanh, và cần so sánh với thời chưa có mạng xã hội – khi ấy khoảng cách còn lớn hơn nhiều.

Chúng tôi bổ sung: chính nhờ mạng xã hội mà nhiều người dân bình thường đã cất được tiếng nói của mình về những điều bất công.”

Đội phản đối:

“Chúng tôi xin phản biện lại.

Đội bạn nói kiểm duyệt là cần thiết. Chúng tôi không phản đối việc có quy tắc. Câu hỏi của chúng tôi là: ai đặt ra quy tắc và theo tiêu chuẩn nào? Hiện nay quyền đó nằm trong tay một số công ty. Một không gian mà quy tắc do một bên đơn phương định đoạt thì khó gọi là tự do.

Đội bạn nói hệ thống tự sửa chữa. Nhưng việc thu thập dữ liệu vẫn diễn ra mỗi ngày, hợp pháp và công khai trong điều khoản mà hầu như không ai đọc.

Đội bạn nói khoảng cách đang thu hẹp. Đó là dự đoán về tương lai, còn nhận định đang tranh biện được phát biểu ở thì hiện tại.

Chúng tôi bổ sung một điểm: nghiên cứu của MIT công bố năm 2018 trên tạp chí Science cho thấy trên mạng xã hội, thông tin sai lệch lan truyền nhanh và rộng hơn đáng kể so với thông tin đúng. Khi cái sai đi nhanh hơn cái đúng, người dùng không thực sự tự do tiếp cận sự thật.”

PHIÊN 3 – Kết luận

Đội tán thành:

“Chúng tôi giữ quan điểm ban đầu.

Chúng tôi thừa nhận những hạn chế mà đội bạn nêu là có thật. Nhưng tranh biện hôm nay không phải về việc mạng xã hội có hoàn hảo hay không, mà về việc nó có phải là một kênh giao tiếp tự do hay không. So với mọi phương tiện từng có trong lịch sử, câu trả lời là có.

Điều quan trọng nhất mà đội bạn chưa bác bỏ được: trước khi có mạng xã hội, chỉ một số ít người mới được phát ngôn trước công chúng. Đó là sự thay đổi căn bản, và nó vẫn đang tiếp diễn.

Xin cảm ơn.”

Đội phản đối:

“Chúng tôi giữ nguyên quan điểm phản đối.

Đội bạn lập luận rằng mạng xã hội tự do hơn so với trước đây. Nhưng nhận định cần tranh biện không nói “tự do hơn”, mà nói “là kênh giao tiếp tự do cho tất cả mọi người“. Đó là một khẳng định tuyệt đối, và chỉ cần một bộ phận bị bỏ lại phía sau, khẳng định ấy đã không còn đúng.

Kiểm duyệt do một bên đơn phương quyết định, dữ liệu cá nhân bị khai thác, thông tin sai lan nhanh hơn thông tin đúng, và điều kiện tiếp cận chưa đồng đều – bốn điều đó cho thấy chữ “tự do” ở đây cần được đặt trong dấu ngoặc kép.

Xin cảm ơn.”

Người điều hành kết thúc

“Cảm ơn hai đội. Xin tóm tắt: đội tán thành nhấn mạnh mạng xã hội mở rộng quyền phát ngôn, mở rộng tiếp cận tri thức và kết nối vượt biên giới. Đội phản đối tập trung vào ba điểm: quyền kiểm duyệt thuộc về các công ty, quyền riêng tư bị xâm phạm và điều kiện tiếp cận chưa bình đẳng, đồng thời chất vấn tính tuyệt đối của chữ ‘tất cả’.

Xin mời khán giả bình chọn. Dù kết quả thế nào, cuộc tranh biện hôm nay đã giúp chúng ta nhìn vấn đề từ nhiều phía – đó mới là điều đáng giá nhất. Xin cảm ơn.”

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện