Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- I. Yêu cầu của kiểu bài
- II. Trả lời câu hỏi sau bài viết tham khảo
- Câu 1. Đề tài của báo cáo là gì? Tác giả tiếp cận đề tài từ góc độ nào?
- Câu 2. Những luận điểm chính nào đã được sử dụng?
- Câu 3. Thông tin đến từ những nguồn nào? Nhận xét về độ tin cậy
- Câu 4. Tài liệu tham khảo có những thông tin gì và sắp xếp theo trật tự nào?
- III. Ba thao tác nghiên cứu cần thành thạo
- 1. Trích dẫn
- 2. Cước chú
- 3. Danh mục tài liệu tham khảo
- IV. Các bước viết báo cáo
- 1. Chuẩn bị viết
- 2. Xây dựng đề cương
- 3. Viết
- 4. Chỉnh sửa
- V. Gợi ý đề tài
- VI. Bài mẫu tham khảo
- Đặt vấn đề
- Giải quyết vấn đề
- Kết luận
I. Yêu cầu của kiểu bài
Ở lớp 10 các em đã viết báo cáo nghiên cứu. Lớp 11 khác ở chỗ: trọng tâm rèn luyện chuyển sang các thao tác cơ bản của việc nghiên cứu – trích dẫn, ghi cước chú, lập danh mục tài liệu tham khảo và sử dụng các phương tiện hỗ trợ.
Bốn yêu cầu cần đạt:
- Nêu được đề tài nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu đặt ra trong báo cáo.
- Trình bày kết quả nghiên cứu qua hệ thống luận điểm sáng rõ, thông tin xác thực.
- Biết thực hiện các thao tác nghiên cứu, khai thác được nguồn tham khảo đáng tin cậy.
- Sử dụng trích dẫn, cước chú, tài liệu tham khảo và phương tiện hỗ trợ phù hợp, thể hiện sự minh bạch trong việc kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có.
Yêu cầu 4 là điểm phân biệt một báo cáo nghiên cứu với một bài văn nghị luận thông thường. Không ghi rõ mình lấy thông tin từ đâu thì bài viết không còn là nghiên cứu nữa.
Bố cục một báo cáo nghiên cứu:
| Phần | Nhiệm vụ |
|---|---|
| Đặt vấn đề | Giới thiệu đề tài, nêu vấn đề và câu hỏi nghiên cứu, nêu mục tiêu |
| Giải quyết vấn đề | Trình bày kết quả nghiên cứu qua hệ thống luận điểm, kèm dữ liệu và bằng chứng |
| Kết luận | Khẳng định kết quả, đánh giá ý nghĩa vấn đề, gợi mở hướng nghiên cứu tiếp |
| Tài liệu tham khảo | Danh mục các tài liệu đã sử dụng, sắp xếp theo quy cách |
II. Trả lời câu hỏi sau bài viết tham khảo
Văn bản: Giao thoa và tiếp biến văn hóa – nhìn từ kiến trúc rồng thành bậc điện Kính Thiên (Trần Hậu Yên Thế)
Câu 1. Đề tài của báo cáo là gì? Tác giả tiếp cận đề tài từ góc độ nào?
Đề tài: hiện tượng giao thoa và tiếp biến văn hóa trong văn hóa Việt, nhìn qua một đối tượng rất cụ thể là kiến trúc rồng thành bậc ở điện Kính Thiên.
Câu hỏi nghiên cứu được nêu thẳng ngay ở phần Đặt vấn đề: kiểu thức rồng chầu thành bậc là đặc trưng của kiến trúc Việt, không hề xuất hiện ở Trung Hoa – vậy nó thực sự đến từ đâu?
Góc độ tiếp cận: liên ngành. Tác giả xuất phát từ lịch sử mĩ thuật và kiến trúc, nhưng kết hợp với văn hóa học và khảo cổ học. Phương pháp chủ đạo là so sánh: đặt rồng thành bậc Việt Nam bên cạnh long bệ thạch Trung Hoa và bên cạnh kiểu thức Makara ở Đông Nam Á.
Cách chọn đề tài này rất đáng học: từ một hiện vật nhỏ, cụ thể, có thể quan sát trực tiếp, tác giả đi tới một vấn đề văn hóa lớn.
Câu 2. Những luận điểm chính nào đã được sử dụng?
Báo cáo triển khai theo bốn luận điểm nối nhau chặt chẽ:
- Rồng chầu thành bậc là một hạng mục trang trí kiến trúc có công năng và vị trí đặc biệt – làm lan can thành bậc dẫn lên điện Kính Thiên, không gian thiêng liêng và quyền lực bậc nhất của kinh thành.
- Về chi tiết tạo hình, đôi rồng mang đậm dấu ấn phương Bắc, nhưng về kiểu thức thì hoàn toàn là của Việt Nam. Soi từng chi tiết (mắt tròn to, mũi cao, sừng có chạc, chân năm ngón) thì giống rồng thời Nguyên, Minh; nhưng đứng xa mà ngắm thì vẫn thấy tinh thần Lý – Trần, và kiểu thức ấy đã có ở chùa Phổ Minh, thành nhà Hồ.
- So sánh với long bệ thạch Trung Hoa để làm rõ sự khác biệt. Trung Hoa dùng phù điêu, kích thước lớn nhưng bị hạn chế về hiệu quả thị giác do góc nhìn; Việt Nam dùng tượng tròn, gây ấn tượng mạnh hơn trong không gian.
- Truy nguyên nguồn gốc: kiểu thức này thuộc về phương Nam. Nó xuất hiện phổ biến ở Indonesia, Thái Lan, Lào, Campuchia, chỉ khác là thay hình rồng bằng thủy quái Makara. Từ đó tác giả nêu giả thuyết riêng: kiểu thức ấy có lẽ đến từ vương quốc Srivijaya chứ không phải từ đất Chăm.
Mạch lập luận đi theo hướng: mô tả đối tượng → nhận diện các lớp ảnh hưởng → so sánh để loại trừ → đề xuất giả thuyết. Luận điểm sau luôn trả lời một câu hỏi mà luận điểm trước vừa đặt ra.
Câu 3. Thông tin đến từ những nguồn nào? Nhận xét về độ tin cậy
Các nguồn được sử dụng:
- Quan sát trực tiếp hiện vật: rồng điện Kính Thiên, rồng Lam Kinh, chùa Phổ Minh, thành nhà Hồ, lan can các lăng vua Nguyễn ở Huế, Cố cung Bắc Kinh, đền Candi Prambanan.
- Kết quả khảo cổ học: phần rồng chầu thành bậc thời Trần được khai quật trong khu vực Hoàng thành Thăng Long.
- Tài liệu chuyên môn: luận án tiến sĩ, bài tạp chí khoa học, sách chuyên khảo (xem danh mục cuối bài).
- Ý kiến của các nhà nghiên cứu khác về đặc điểm tạo hình đầu rồng thời Lý – Trần.
- Hình ảnh minh họa: ảnh rồng điện Kính Thiên, long bệ thạch điện Thái Hòa, Makara thành bậc ở Prambanan.
Nhận xét:
Các nguồn này vừa đa dạng vừa có độ tin cậy cao. Chúng bao gồm cả tài liệu gốc (hiện vật, kết quả khai quật, quan sát trực tiếp) lẫn tài liệu phái sinh (sách, luận án, tạp chí chuyên ngành). Tài liệu phái sinh đều là công trình khoa học có xuất xứ rõ ràng, ghi đủ tác giả, năm công bố và nơi công bố.
Điều đáng chú ý nhất về mặt tính khách quan là cách tác giả phân biệt rạch ròi giữa dữ kiện và suy đoán. Khi chưa có bằng chứng, tác giả nói rõ: chưa tìm thấy rồng thành bậc thời Lý, nên chỉ “có thể phỏng đoán”. Khi nêu giả thuyết riêng, tác giả dùng “tôi cho rằng”, “có lẽ” và thừa nhận mình đang đi ngược lại cảm tình cá nhân với nghệ thuật Chăm-pa. Đó là thái độ khoa học đúng mực: không biến phỏng đoán thành kết luận.
Câu 4. Tài liệu tham khảo có những thông tin gì và sắp xếp theo trật tự nào?
Mỗi mục trong danh mục ghi đủ bốn thông tin: tên tác giả – năm công bố – tên tài liệu – nơi công bố. Phần “nơi công bố” thay đổi theo loại tài liệu:
- Luận án: ghi loại hình, khoa, trường và đại học.
- Bài tạp chí: ghi tên tạp chí, số và số trang.
- Sách: ghi nhà xuất bản, nơi xuất bản; nếu là sách nhiều người viết thì ghi rõ vai trò chủ biên.
Danh mục được đánh số thứ tự và sắp xếp theo trật tự chữ cái của tên tác giả (theo thông lệ tiếng Việt là xếp theo tên, không theo họ): Nguyễn Quang Hà → Kiều Thu Hoạch → Tống Trung Tín.
III. Ba thao tác nghiên cứu cần thành thạo
Đây là phần trọng tâm mới của lớp 11, nên cần làm cho đúng.
1. Trích dẫn
Trích dẫn trực tiếp: ghi nguyên văn, đặt trong dấu ngoặc kép, kèm nguồn.
Kim Lân miêu tả những người đói kéo về xóm ngụ cư “xanh xám như những bóng ma” (Kim Lân, 2000).
Trích dẫn gián tiếp: diễn giải lại bằng lời của mình, vẫn phải ghi nguồn.
Theo nghiên cứu của Văn Tạo và Furuta Motoo (1995), nạn đói lan rộng nhất ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.
Cả hai trường hợp đều phải ghi nguồn. Diễn giải lại bằng lời mình không có nghĩa là ý đó trở thành của mình.
2. Cước chú
Cước chú là phần ghi chú đặt ở cuối trang, dùng để giải thích một thuật ngữ, một khái niệm hoặc bổ sung thông tin mà nếu đưa vào bài sẽ làm đứt mạch. Trong bài viết tham khảo, tác giả dùng cước chú để giải thích “long bệ thạch”, “ngọc tỉ”, “chạc”, “sân Long Trì” – đều là những từ mà người đọc phổ thông có thể chưa biết.
Cách làm: đánh số nhỏ ở cuối từ cần chú thích, rồi ghi nội dung giải thích ở cuối trang theo đúng số đó.
3. Danh mục tài liệu tham khảo
Công thức chung:
Tên tác giả (Năm công bố), Tên tài liệu, Nơi công bố.
Sắp xếp theo trật tự chữ cái của tên tác giả, đánh số thứ tự. Nếu tài liệu do một cơ quan công bố thì lấy tên cơ quan thay cho tên tác giả.
IV. Các bước viết báo cáo
1. Chuẩn bị viết
Chọn đề tài. Xác định phạm vi vấn đề mình thực sự quan tâm, rồi chọn một góc độ tiếp cận: lịch sử, địa lí, khoa học, nghệ thuật, hoặc liên ngành. Từ mỗi góc độ, đặt ra các câu hỏi nghiên cứu và chọn lấy một câu hỏi mà mình hứng thú nhất, sau đó viết một nhận định về mục tiêu nghiên cứu.
Ví dụ, với chủ đề Kinh thành Thăng Long thời Hậu Lê, có thể tiếp cận từ bốn hướng:
| Góc độ | Câu hỏi |
|---|---|
| Lịch sử | Những sự kiện quan trọng nào đã diễn ra ở kinh thành? |
| Địa lí | Vị trí, địa hình, khí hậu, dân cư có đặc điểm gì? |
| Nghệ thuật | Các thành tựu nghệ thuật quan trọng nhất là gì? |
| Văn hóa | Phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng có gì đặc biệt? |
Thu thập và đánh giá thông tin. Cần biết mỗi loại nguồn cho ta thứ gì: từ điển bách khoa cho cái nhìn tổng quan; tài liệu chuyên môn cho thông tin chi tiết; phỏng vấn, diễn văn giúp hiểu các chủ đề lịch sử, văn chương; báo và tạp chí cho tin tức mới nhất; ảnh chụp, hiện vật bảo tàng, bản đồ, bảng biểu cho tri thức cụ thể.
Phân biệt hai loại tài liệu:
| Tài liệu gốc | Tài liệu phái sinh | |
|---|---|---|
| Là gì | Do người trực tiếp chứng kiến, tham gia tạo ra | Do người không trực tiếp chứng kiến tạo ra sau sự kiện |
| Ví dụ | Thư từ, nhật kí, diễn văn, ảnh chụp, tự thuật | Tiểu sử, từ điển bách khoa, bản ghi lời kể |
| Ưu điểm | Cho thấy không khí và chi tiết cụ thể | Cho cái nhìn tổng quan, đa chiều |
| Hạn chế | Thường mang thiên kiến của tác giả | Độ tin cậy phụ thuộc vào nguồn mà nó dựa vào |
Lưu trữ thông tin bằng hai cách: tóm tắt (nắm nội dung cốt lõi, diễn đạt ngắn gọn theo từ khóa) và trích dẫn (ghi nguyên văn hoặc diễn giải lại, luôn kèm nguồn).
2. Xây dựng đề cương
Phác thảo đề cương chi tiết theo bốn phần của báo cáo. Ở phần Giải quyết vấn đề, cần xác định rõ luận điểm nào là trọng tâm cần nhấn mạnh, và mỗi luận điểm sẽ dựa vào dữ liệu, bằng chứng nào.
3. Viết
- Mỗi luận điểm triển khai thành một đoạn văn có câu chủ đề.
- Dùng ngôn ngữ khách quan của văn bản khoa học, hạn chế lối diễn đạt cảm tính.
- Dùng từ ngữ liên kết để thể hiện quan hệ logic giữa các ý.
- Ghi nguồn đầy đủ cho mọi thông tin không phải của mình.
- Sử dụng hình ảnh, sơ đồ, bảng biểu để hỗ trợ người đọc nắm thông tin.
4. Chỉnh sửa
Rà soát theo bốn tiêu chí: bố cục đủ bốn phần; thông tin tham khảo có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy; luận điểm rõ ràng, bằng chứng thuyết phục; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
V. Gợi ý đề tài
Từ tác phẩm văn học đã học:
- Từ Vợ nhặt: nạn đói năm Ất Dậu 1945 và tác động của nó đến đời sống người dân.
- Từ Chí Phèo: thân phận người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
- Từ Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài: mối quan hệ giữa người nghệ sĩ và thời cuộc.
- Từ Sống, hay không sống – đó là vấn đề: lí tưởng sống và sự lựa chọn của con người.
Từ đời sống:
- Vấn đề xã hội: ảnh hưởng của mạng xã hội đến lối sống học sinh THPT; văn hóa đọc của giới trẻ; hiệu ứng đám đông.
- Vấn đề tự nhiên: ô nhiễm môi trường tại địa phương; biến đổi khí hậu và tác động đến đời sống; bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
VI. Bài mẫu tham khảo
Đề tài: Nạn đói năm Ất Dậu (1945) nhìn từ góc độ lịch sử và văn học
Đặt vấn đề
Nạn đói năm Ất Dậu là một trong những thảm họa lớn nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc đến con số hơn hai triệu đồng bào bị chết đói – một con số cho thấy quy mô của thảm họa này.
Sự kiện ấy không chỉ nằm trong các trang sử. Nó còn đi vào văn học, tiêu biểu là truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.
Câu hỏi nghiên cứu của báo cáo này là: cùng nói về một sự kiện, lịch sử và văn học cho ta biết những điều khác nhau như thế nào, và vì sao cả hai đều cần thiết?
Để trả lời, báo cáo tìm hiểu bối cảnh và nguyên nhân nạn đói từ nguồn sử liệu, sau đó phân tích cách Kim Lân tái hiện thảm họa ấy trong tác phẩm, cuối cùng đối chiếu hai cách tiếp cận.
Giải quyết vấn đề
1. Bối cảnh và nguyên nhân nạn đói năm 1945
Nạn đói diễn ra khi Việt Nam cùng lúc chịu ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Từ năm 1940, quân Nhật vào Đông Dương, thiết lập bộ máy cai trị song song với Pháp, đẩy người dân vào cảnh một cổ hai tròng.
Theo công trình nghiên cứu của Văn Tạo và Furuta Motoo (1995) – công trình điều tra thực địa quy mô lớn nhất về sự kiện này – nạn đói bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân chồng lên nhau.
Nguyên nhân trực tiếp là chính sách vơ vét lương thực. Chính quyền Nhật buộc nông dân phá lúa và hoa màu để trồng đay phục vụ chiến tranh, trong khi Pháp duy trì chế độ thu mua thóc với giá rẻ.
Thiên tai làm tình hình trầm trọng hơn. Cuối năm 1944, đồng bằng Bắc Bộ liên tiếp chịu bão lụt, vỡ đê, mất mùa.
Chính sách phong tỏa vận chuyển khiến lúa gạo ở miền Nam không thể chuyển ra cứu đói miền Bắc.
Hậu quả tập trung nặng nhất ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, trong đó Thái Bình và Nam Định là hai địa phương chịu tổn thất lớn nhất.
2. Nạn đói trong truyện ngắn Vợ nhặt
Kim Lân viết Vợ nhặt dựa trên chính những gì ông chứng kiến. Điều đáng chú ý là nhà văn không kể lại nguyên nhân hay số liệu – ông làm một việc khác: dựng lại cảm giác sống trong nạn đói.
Cái đói trong tác phẩm hiện ra bằng đủ giác quan. Bằng thị giác: những đoàn người từ Nam Định, Thái Bình dắt díu nhau lên, “xanh xám như những bóng ma”; người chết “như ngả rạ”. Bằng khứu giác: mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người. Bằng thính giác: tiếng quạ trên những cây gạo ngoài bãi chợ gào lên từng hồi thê thiết.
Nhưng chi tiết nói lên nhiều nhất về nạn đói lại là tình huống truyện. Tràng – một anh nông dân nghèo làm nghề kéo xe bò thuê – có được vợ chỉ sau vài câu bông đùa và bốn bát bánh đúc. Người phụ nữ ấy không tên, không lai lịch. Chữ “nhặt” trong nhan đề cho thấy giá trị con người đã bị hạ xuống đến mức nào: một con người có thể nhặt được như nhặt một vật rơi.
3. Điều văn học nói được mà sử liệu không nói
Nếu sử liệu cho ta biết có bao nhiêu người chết và vì sao, thì văn học cho ta biết sống trong những ngày ấy là như thế nào.
Quan trọng hơn, Vợ nhặt phát hiện ra điều mà các con số không thể hiện: ngay giữa cái chết, con người vẫn hướng về sự sống. Bà cụ Tứ, sau khi khóc thương cho số kiếp đứa con, vẫn đón nhận người con dâu xa lạ và bàn với các con chuyện nuôi đôi gà. Bữa cơm ngày đói chỉ có cháo loãng và nồi chè cám đắng chát, nhưng cả nhà tránh nhìn mặt nhau chứ không ai nói ra sự thật ấy – đó là cách họ giữ gìn cho nhau.
Kết truyện, hình ảnh đám người đói và lá cờ đỏ hiện lên trong óc Tràng mở ra một hướng đi khác cho những con người ấy.
Như vậy, sử liệu và văn học không thay thế nhau mà bổ sung cho nhau: một bên dựng lại quy mô và nguyên nhân của thảm họa, một bên lưu giữ số phận và phẩm giá của từng con người trong thảm họa đó.
Kết luận
Nghiên cứu nạn đói năm Ất Dậu từ hai góc độ cho thấy: lịch sử và văn học tiếp cận cùng một sự kiện bằng hai cách khác nhau nhưng đều cần thiết. Sử liệu bảo đảm tính chính xác của ký ức tập thể; văn học bảo đảm rằng ký ức ấy không trở thành một con số vô cảm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng sang việc so sánh cách các tác phẩm khác cùng thời tái hiện nạn đói, hoặc tìm hiểu dấu vết của sự kiện này trong ký ức và phong tục của người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ.

ThS. Nguyễn Thành Đạt
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT
Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện
