Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật (trang 112)

I. Yêu cầu của kiểu bài

Các em đã nhiều lần viết nghị luận về tác phẩm văn học – tức nghệ thuật ngôn từ. Bài này mở rộng sang các loại hình khác: điện ảnh, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh. Thách thức đầu tiên là phải am hiểu loại hình nghệ thuật của tác phẩm để có thể nói về nó bằng đúng “ngôn ngữ” của nó.

Bốn yêu cầu cần đạt:

  1. Nêu được thông tin khái quát về tác phẩm: tác giả, tên tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, đánh giá của công chúng.
  2. Xác định rõ hệ thống luận điểm: miêu tả chung về tác phẩm bằng ngôn ngữ phù hợp với loại hình của nó → phân tích cả nội dung và nghệ thuật → đánh giá tổng quát → gợi ý cách tiếp cận phù hợp.
  3. Phối hợp linh hoạt giữa trình bày lí lẽ và nêu bằng chứng cụ thể.
  4. Thể hiện được sự rung động trước tác phẩm và sự đồng cảm với tác giả.

Yêu cầu 4 không phải là phần trang trí. Đây là kiểu bài viết về nghệ thuật, và một bài viết lạnh lùng, không cảm xúc thì đã tự đánh mất một nửa sức thuyết phục.

II. Trả lời câu hỏi bài viết tham khảo

Bài viết tham khảo là Về bức tranh “Mưa thu. Pu-skin” của họa sĩ V. E. Páp-cốp (Phan Huy Dũng).

Câu 1: Đặc điểm nào cho thấy đây là văn bản nghị luận, không phải văn bản thông tin?

Bài viết có cung cấp thông tin – năm sinh năm mất của họa sĩ, kích thước tranh 169 x 172 cm, chất liệu sơn dầu trên toan, hoàn cảnh ra đời. Nhưng những thông tin ấy chỉ là phương tiện, không phải mục đích. Bốn dấu hiệu cho thấy đây là văn bản nghị luận:

Thứ nhất, bài viết có luận điểm và quan điểm riêng. Người viết khẳng định bức tranh có “vị trí đặc biệt” trong sự nghiệp của họa sĩ, cho rằng cách bố trí các yếu tố tạo nên “một phương án bố cục tối ưu”, nhận định rằng người và cảnh trong tranh hòa hợp với nhau một cách lạ lùng. Đó đều là những đánh giá, không phải sự kiện.

Thứ hai, bài viết lập luận để bảo vệ quan điểm. Người viết tự đặt câu hỏi: họa sĩ đặt trọng tâm vào vẽ người hay vẽ cảnh? Rồi tự trả lời bằng một lí lẽ lấy từ chính nhan đề tranh – Mưa thu. Pu-skin – để kết luận rằng mùa thu cũng là một “nhân vật”.

Thứ ba, bài viết bộc lộ rõ cảm xúc và sự đồng cảm. Lời mời “xin hãy cùng chiêm ngưỡng”; đoạn nói về sự cộng hưởng kì lạ giữa hai số phận – Pushkin mất năm ba mươi tám tuổi, Popkov mất năm bốn mươi hai tuổi; hình ảnh chiếc lá thu ở mép tranh còn chưa dứt đường bay.

Thứ tư, kết bài gợi mở suy nghĩ về nghệ thuật nói chung – về sự dở dang, về việc hoàn thiện thường chỉ là ước vọng, về điều quan trọng nhất của một tác phẩm là khơi lên ở người tiếp nhận những suy tư không dứt. Một văn bản thông tin sẽ dừng lại trước ngưỡng cửa này.

Câu 2: Tính đặc thù của bằng chứng trong bài viết

Trong nghị luận văn học, bằng chứng là những câu văn, câu thơ được trích dẫn. Nhưng với một bức tranh, không có gì để trích. Bằng chứng ở đây có ba nét đặc thù:

Bằng chứng chính là sự miêu tả bằng lời của người viết về các yếu tố tạo hình. Hai cây cột chạy gần hết chiều dọc bức tranh; ánh sáng “đẩy” cột bên phải lùi ra một chút; mấy chiếc lá vàng rơi trên sàn; dòng sông uốn nhẹ ở trung cảnh; những dải đồi xám xanh nơi hậu cảnh; bóng con ngựa trắng ở mép phải; tà áo khoác đuôi tôm phất theo gió; vũng nước đọng ở bậc thềm; những vệt sáng phản chiếu trên sàn gỗ.

Người viết phải chuyển tác phẩm thị giác thành ngôn từ trước khi phân tích. Vì người đọc không có bức tranh trước mắt, mỗi chi tiết được nêu ra vừa đóng vai trò dẫn dắt, vừa là căn cứ cho nhận định ngay sau đó. Chẳng hạn, chi tiết vũng nước đọng được nêu để chứng minh rằng cảnh vừa qua một cơn mưa; những vệt sáng dưới chân nhân vật được nêu để lí giải cảm giác nhà thơ đang ở trạng thái lơ lửng, phiêu diêu.

Bằng chứng còn được lấy từ bên ngoài tác phẩm để đối chiếu: bức chân dung Pushkin do họa sĩ Kiprensky vẽ năm 1827, hoàn cảnh Pushkin bị trục xuất khỏi Petersburg, và cái chết đột ngột của cả hai nghệ sĩ.

Điểm chung của mọi bằng chứng ở đây: chúng đều xuất phát từ sự quan sát trực tiếp và kĩ lưỡng của người viết trước tác phẩm.

Câu 3: Người viết cần đảm bảo những điều kiện gì?

Điều kiện Biểu hiện trong bài viết tham khảo
Am hiểu loại hình nghệ thuật Dùng thành thạo hệ thuật ngữ hội họa: bố cục, trung cảnh, hậu cảnh, khối, sắc, sơn dầu trên toan
Đã quan sát trực tiếp, kĩ lưỡng tác phẩm Nhận ra cả những chi tiết rất nhỏ như vũng nước ở bậc thềm hay chiếc lá chưa dứt đường bay ở mép tranh
Có thông tin đáng tin cậy Nắm được hoàn cảnh ra đời, tiểu sử họa sĩ, và cả tác phẩm liên quan của một họa sĩ khác
Có quan điểm riêng và biết lập luận Tự đặt vấn đề trọng tâm bức tranh là người hay cảnh, rồi lí giải
Có sự rung động và đồng cảm thật sự Giọng văn biểu cảm; đoạn viết về sự cộng hưởng của hai số phận

III. Nghị luận hay thông tin – ranh giới cần nhớ

Văn bản thông tin Văn bản nghị luận
Mục đích Cung cấp thông tin khách quan về tác phẩm Trình bày đánh giá theo quan điểm riêng
Vai trò của thông tin Là nội dung chính phương tiện để triển khai phân tích
Cảm xúc người viết Không cần thể hiện Bắt buộc phải thể hiện

Đây là lỗi phổ biến nhất của kiểu bài này: liệt kê thông tin về giải thưởng, doanh thu, lượt xem, tiểu sử tác giả rồi kết thúc, mà thiếu phần phân tích và đánh giá.

IV. Các bước viết bài

1. Chuẩn bị viết

Vì đã quen viết về văn học, nên chọn tác phẩm thuộc loại hình khác: một bộ phim, một ca khúc hoặc MV, một bức tranh, một pho tượng, một tượng đài.

Ba tiêu chí chọn:

  • đủ thông tin để tra cứu, tìm hiểu.
  • Đã tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm – đã xem phim, nghe nhạc, đứng trước bức tranh. Không viết về thứ mình chỉ biết qua lời kể.
  • Ưu tiên tác phẩm có liên hệ với văn học đã học: phim chuyển thể từ truyện, ca khúc phổ thơ, tranh về một hình tượng văn học. Khi đó em huy động được vốn kiến thức sẵn có.

2. Tìm ý

Câu hỏi Lưu ý theo loại hình
Tác phẩm của ai, tên gì, hoàn thành khi nào, trong bối cảnh nào? Với phim: cần nêu đạo diễn, tác giả kịch bản, ê-kíp, diễn viên
Giới chuyên môn và công chúng đón nhận ra sao? Phim: doanh thu, giải thưởng. Ca khúc: lượt nghe, lượt xem. Tranh, tượng: lượt người xem, bài phê bình
Nội dung tác phẩm đề cập vấn đề gì? Phim: tóm tắt cốt truyện. Ca khúc, tác phẩm tạo hình: nêu đề tài, chủ đề
Tác phẩm theo phong cách, trường phái nào, chất liệu gì? Dành cho hội họa, điêu khắc
Thành công và hạn chế của tác phẩm là gì? Đây là câu hỏi hay bị bỏ qua nhất
Tác phẩm để lại dấu ấn gì trong đời sống văn hóa – tinh thần?

3. Lập dàn ý

Mở bài: Nêu thông tin cơ bản về tác phẩm – tác giả, tên, hoàn cảnh sáng tác, sự đón nhận của công chúng.

Thân bài:

  • Nhìn nhận khái quát về tác phẩm: tóm tắt cốt truyện phim; nêu chủ đề và ấn tượng ban đầu về giai điệu, tiết tấu, ca từ; hoặc diễn tả bằng lời văn hình tượng đã được thể hiện bằng chất liệu tạo hình.
  • Phân tích từng khía cạnh nổi bật với lí lẽ và bằng chứng rõ ràng.
  • Nêu những điều người xem, người nghe cần chuẩn bị để thưởng thức tác phẩm trọn vẹn hơn.

Kết bài: Đánh giá chung – thành công chính và cả những khiếm khuyết theo quan điểm của người viết.

4. Viết

Triển khai từng luận điểm thành đoạn văn mạch lạc, liên kết. Tùy loại hình mà đưa bằng chứng phù hợp. Đặc biệt chú ý giọng văn có tính biểu cảm, thể hiện được niềm hứng thú và xúc động của người viết.

5. Chỉnh sửa

  • Gạch bỏ những câu trùng lặp, những chỗ thông tin chung chung.
  • Kiểm tra sự liền mạch giữa các ý, các đoạn; bổ sung phương tiện liên kết.
  • Đính chính các thông tin chưa chính xác sau khi đối chiếu với nguồn tài liệu đáng tin cậy – với kiểu bài này, một chi tiết sai về tác phẩm sẽ làm mất hết uy tín của bài viết.
  • Sửa lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

V. Bài văn mẫu

Đề bài: Viết bài văn nghị luận về ca khúc Để Mị nói cho mà nghe của Hoàng Thùy Linh.

Các em có thể nghe bài hát tại đây

BÀI LÀM

Vài năm trở lại đây, việc đưa chất liệu văn hóa và văn học dân tộc vào nhạc trẻ đã trở thành một hướng đi được nhiều nghệ sĩ Việt theo đuổi. Trong số đó, Để Mị nói cho mà nghe – ca khúc do nhóm nhạc sĩ DTAP sáng tác, Hoàng Thùy Linh thể hiện, ra mắt năm 2019 và về sau nằm trong album Hoàng – là một trường hợp đáng chú ý. Ca khúc nhanh chóng đạt trên một trăm triệu lượt xem trên nền tảng trực tuyến và trở thành một trong những sản phẩm âm nhạc được bàn luận nhiều nhất năm đó.

Một cách “đọc lại” tác phẩm văn học bằng âm nhạc

Ca khúc lấy cảm hứng từ nhân vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài. Nhưng điều thú vị là bài hát không chỉ dừng ở một tác phẩm: ca từ còn nhắc tới hàng loạt nhân vật quen thuộc khác của văn học hiện thực Việt Nam. Chính cách “gọi tên” này khiến người nghe trẻ tuổi có cảm giác gặp lại những gương mặt từng học trên lớp, nhưng trong một không khí hoàn toàn khác.

Nếu trong nguyên tác, Mị là cô gái bị giam trong nhà thống lí Pá Tra, sống lùi lũi “như con rùa nuôi trong xó cửa”, thì trong ca khúc, Mị được đặt vào một tư thế khác hẳn: chủ động, lên tiếng. Ngay nhan đề bài hát đã là một câu nói của chính nhân vật – điều mà Mị của Tô Hoài gần như không có trong phần lớn thiên truyện. Đây chính là chỗ sáng tạo đáng bàn nhất: ca khúc không kể lại truyện, mà mượn nhân vật để nói về một khát vọng của thời hiện tại – khát vọng được sống là chính mình.

Về phương diện âm nhạc

Ca khúc kết hợp nhạc điện tử với âm hưởng dân gian vùng cao. Phần mở đầu dùng âm sắc gợi nhớ nhạc cụ miền núi, đưa người nghe vào một không gian có tính chất “vùng miền” rõ rệt, trước khi chuyển sang tiết tấu nhanh, dồn dập ở điệp khúc. Sự tương phản giữa hai lớp âm thanh ấy không chỉ để bắt tai: nó gợi đúng cái mạch cảm xúc từ nén chặt đến bung ra của nhân vật.

Cách hát của Hoàng Thùy Linh cũng góp phần lớn. Lối nhả chữ và luyến láy mang màu sắc dân gian, kết hợp với cách xử lí lúc thủ thỉ lúc mạnh mẽ, làm cho hình tượng Mị trong bài hát có được hai mặt: vừa là cô gái từng câm lặng, vừa là người đang cất tiếng.

Về phần hình ảnh

MV của ca khúc là một phần không thể tách rời của tác phẩm. Ê-kíp thực hiện đã tái hiện không gian Tây Bắc qua cảnh núi rừng, ruộng bậc thang, nhà sàn; trang phục kết hợp yếu tố truyền thống của người H’Mông với chi tiết hiện đại; vũ đạo pha trộn động tác múa dân gian và nhảy đương đại.

Điều đáng nói là MV không chỉ minh họa cho bài hát mà kể một câu chuyện riêng: hành trình của nhân vật từ không gian tối, chật hẹp bước ra ánh sáng và thiên nhiên rộng mở. Với người xem, hành trình ấy còn cụ thể hơn cả ca từ.

Đánh giá

Thành công lớn nhất của Để Mị nói cho mà nghe, theo tôi, không nằm ở các con số. Nó nằm ở chỗ ca khúc đã tạo được một con đường hai chiều: người trẻ đến với bài hát vì giai điệu, rồi từ bài hát mà tìm về tác phẩm văn học và văn hóa vùng cao. Không nhiều sản phẩm giải trí làm được điều đó.

Tuy vậy, ca khúc cũng có những điểm gây tranh cãi. Đã có ý kiến cho rằng việc chuyển một câu chuyện bi kịch thành một bản nhạc sôi động là chưa thật phù hợp với tinh thần nguyên tác. Ca từ tuy bắt tai nhưng chưa chạm tới chiều sâu tâm lí mà Tô Hoài đã dựng nên. Cá nhân tôi cho rằng những nhận xét ấy có cơ sở, song cần đặt tác phẩm đúng chỗ của nó: đây là một ca khúc lấy cảm hứng từ văn học, không phải một bản chuyển thể trung thành.

Để nghe ca khúc trọn vẹn hơn

Người nghe nên đọc lại Vợ chồng A Phủ trước khi nghe, vì phần lớn sức nặng của bài hát nằm ở khoảng cách giữa Mị của Tô Hoài và Mị trong ca khúc. Nếu không có nguyên tác làm nền, câu “để Mị nói cho mà nghe” chỉ còn là một câu hát vui tai. Đồng thời, nên nghe kèm xem MV, bởi phần hình ảnh bổ sung những gì ca từ không nói hết.

Để Mị nói cho mà nghe cho thấy chất liệu truyền thống không phải là thứ để trưng bày trong bảo tàng. Khi được xử lí bằng ngôn ngữ của thời đại mình, nó vẫn có thể chạm tới người nghe hôm nay – và đưa họ ngược trở lại với nơi nó xuất phát.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện