Chữ người tử tù – Tóm tắt, Tác giả, Tác phẩm, Phân tích

Nguyễn Tuân (1910–1987)

Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam hiện đại, được in trong tập Vang bóng một thời (1940). Bài viết dưới đây giúp các em tóm tắt nội dung, tìm hiểu tác giả, tác phẩm và phân tích chi tiết tình huống truyện, nhân vật Huấn Cao, cảnh cho chữ cùng ý nghĩa sâu sắc của truyện ngắn.

I. Tác giả Nguyễn Tuân

1. Cuộc đời

Nguyễn Tuân (1910–1987) sinh ra ở phố Hàng Bạc, Hà Nội. Quê gốc ở thôn Thượng Đình, xã Nhân Mục (tên nôm là làng Mọc), nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông xuất thân trong gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn.

Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung ở Nam Định thì bị đuổi vì tham gia cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt (1929). Sau đó ít lâu, ông bị tù vì đi qua biên giới tới Thái Lan không có giấy phép. Sau khi ra tù, ông bắt đầu sự nghiệp viết lách. Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1935, nổi tiếng từ năm 1938 với các tác phẩm tùy bút, bút ký có phong cách độc đáo.

Năm 1941, ông lại bị bắt giam và gặp gỡ, tiếp xúc với những người hoạt động chính trị. Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Từ 1948 đến 1957, ông giữ chức Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam. Ông mất tại Hà Nội ngày 28 tháng 7 năm 1987. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I).

Nguyễn Tuân (1910–1987)
Nguyễn Tuân (1910–1987)

2. Con người

Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ mang đậm dấu ấn cá nhân: nhân cách, tài hoa và cá tính. Ông là người rất mực uyên bác, am hiểu nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhau và luôn tìm đến những đề tài độc đáo với những khám phá mới mẻ. Ông là một trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, yêu mến và trân trọng phong cảnh đẹp của quê hương đất nước cùng các giá trị văn hóa cổ truyền dân tộc. Đồng thời, Nguyễn Tuân cũng là con người cá tính, độc đáo, có ý thức cá nhân rất cao, ham du lịch – tự gán cho mình chứng bệnh “chủ nghĩa xê dịch”, thể hiện lối sống tự do phóng túng.

3. Sự nghiệp sáng tác

Nguyễn Tuân là nhà văn đặc biệt quý trọng nghề nghiệp. Ông quan niệm nghề văn là nghề sáng tạo cái đẹp, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc. Mỗi trang văn của ông đều thể hiện rõ chất tài hoa, uyên bác. Ông có kho từ vựng phong phú và khả năng tổ chức câu văn xuôi đầy giá trị tạo hình với những thủ pháp so sánh, liên tưởng mới mẻ, bất ngờ, có nhạc điệu trầm bổng – những câu văn biết co duỗi nhịp nhàng.

Sáng tác của Nguyễn Tuân bộc lộ cái tôi độc đáo, tài hoa, uyên bác; tràn đầy niềm say mê cái đẹp; thể hiện tấm lòng thiết tha gắn bó với cảnh sắc quê hương xứ sở và thái độ nâng niu, trân trọng các giá trị văn hóa của dân tộc.

Trước Cách mạng tháng Tám, tác phẩm của ông chủ yếu xoay quanh ba đề tài: “chủ nghĩa xê dịch”, vẻ đẹp “vang bóng một thời”, và “đời sống trụy lạc”. Sau Cách mạng, ông chân thành đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc, đóng góp nhiều trang viết sắc sảo ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động.

Tác phẩm tiêu biểu gồm: Vang bóng một thời (tập truyện ngắn, 1940), Thiếu quê hương (tập tùy bút, 1940), Chùa Đàn (tiểu thuyết, 1946), Sông Đà (tập tùy bút, 1960), Cô Tô (kí, 1965)…

II. Tác phẩm Chữ người tử tù

1. Hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ

Chữ người tử tù được in lần đầu trên tạp chí Tao Đàn (số 1, năm 1939) với nhan đề ban đầu là Dòng chữ cuối cùng, sau được in lại trong tập truyện ngắn Vang bóng một thời (1940). Hầu hết nhân vật chính trong Vang bóng một thời là những con người tài hoa mà lỡ thời, bất mãn, bế tắc trước thực trạng xã hội đương thời. Họ là hiện thân của những vẻ đẹp còn sót lại từ quá khứ: thú chơi tao nhã, nếp sống thanh cao, tinh thần hào hiệp, nghĩa khí.

2. Chủ đề

Tác phẩm thể hiện khao khát đi tìm cái đẹp của một thời đã qua nay vẫn còn vang bóng. “Chữ người tử tù” ngợi ca nét chữ của kẻ tử tù có tài viết chữ Hán đẹp, gắn liền với thú chơi chữ Hán – một nét đẹp văn hóa truyền thống ngày xưa.

3. Bố cục

Tác phẩm được chia thành bốn phần chính: phần 1 giới thiệu cuộc trò chuyện giữa quản ngục và thầy thơ lại, khắc họa chân dung viên quản ngục; phần 2 kể lại cuộc gặp gỡ giữa quản ngục và Huấn Cao tại ngục thất, thái độ khinh bạc của Huấn Cao trước sự biệt đãi; phần 3 thuật lại bước chuyển trong thái độ của Huấn Cao khi hiểu được tấm lòng quản ngục; phần 4 là cảnh cho chữ – “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”.

III. Tóm tắt Chữ người tử tù

Viên quản ngục nhận được công văn báo sắp tiếp nhận sáu tên tù án chém, trong đó người đứng đầu là Huấn Cao – người nổi tiếng khắp vùng tỉnh Sơn với tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp, lại còn có tài bẻ khóa vượt ngục. Quản ngục vốn là người có tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, yêu thích nghệ thuật thư pháp, nên rất ngưỡng mộ Huấn Cao. Ông có sở nguyện suốt đời là được treo ở nhà riêng một đôi câu đối do tay Huấn Cao viết.

Khi sáu tên tử tù được dẫn đến, viên quản ngục nhìn họ với cặp mắt hiền lành, có biệt nhỡn đối riêng với Huấn Cao, khiến bọn lính ngạc nhiên. Suốt nửa tháng, quản ngục sai thầy thơ lại đem rượu thịt biệt đãi Huấn Cao. Ông Huấn thản nhiên nhận rượu thịt như một hứng thú lúc bình sinh. Khi quản ngục đích thân vào buồng giam bày tỏ muốn châm chước, Huấn Cao đáp lạnh lùng: “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây.” Quản ngục không oán giận mà chỉ lễ phép lui ra, tiếp tục biệt đãi hậu hơn trước.

Đến khi nhận công văn bắt giải Huấn Cao vào kinh chịu án chém, quản ngục tái nhợt người, kể rõ tâm sự cho thầy thơ lại. Thầy thơ lại hớt hải chạy xuống phòng giam báo cho Huấn Cao biết nỗi lòng quản ngục. Huấn Cao cảm động trước tấm lòng biệt nhỡn liên tài, bèn quyết định cho chữ ngay đêm ấy.

Đêm cuối cùng trước ngày ra pháp trường, trong buồng giam chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có đã diễn ra. Huấn Cao – cổ đeo gông, chân vướng xiềng – ung dung dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh. Viên quản ngục khúm núm cất đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ, thầy thơ lại run run bưng chậu mực.

Viết xong, Huấn Cao đỡ viên quản ngục đứng thẳng dậy, đĩnh đạc khuyên: “Tôi bảo thực đấy: thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.” Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói trong nước mắt: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh.”

IV. Phân tích chi tiết

1. Tình huống truyện đặc sắc

a. Khái niệm tình huống truyện

Tình huống truyện là hoàn cảnh có vấn đề mà nhà văn tạo dựng để bộc lộ tính cách và số phận nhân vật. Như nhà văn Nguyễn Minh Châu từng định nghĩa: “Tình huống truyện là tình thế để xảy ra câu chuyện.” Thông qua tình huống truyện, nhà văn gửi gắm được tư tưởng và tình cảm của mình.

b. Tình huống trong Chữ người tử tù

Tình huống trong Chữ người tử tù là cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao và viên quản ngục trong nhà lao, cụ thể là tình huống cho chữ – “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có.”

Xét trên phương diện xã hội, Huấn Cao và viên quản ngục ở vị thế hoàn toàn đối nghịch, thậm chí đối kháng. Một người là tử tù – kẻ phản nghịch chống lại triều đình, một người là cai tù – đại diện cho triều đình. Ở phương diện này, họ không thể có sự gặp gỡ.

Nhưng xét trên phương diện nghệ thuật, họ lại là tri âm tri kỉ. Huấn Cao là người nghệ sĩ tài hoa sáng tạo ra cái đẹp, viên quản ngục là người hâm mộ biết trân trọng và khao khát cái đẹp.

Đặc biệt hơn, nếu xét về tự do nhân cách, vị thế hai người lại bị đảo ngược hoàn toàn. Huấn Cao tuy bị cầm tù về thể xác nhưng hoàn toàn tự do về nhân cách. Ngược lại, viên quản ngục tuy có quyền hành nơi ngục thất nhưng lại bị cầm tù về nhân cách – bị giam trong cái nghề mà mình “chọn nhầm”, sống giữa đống cặn bã mà không thoát ra được.

c. Ý nghĩa tình huống truyện

Tình huống truyện tạo nên kịch tính hấp dẫn: không gian là nhà tù, thời gian là những giờ khắc cuối cùng của kẻ tử tù, sự đối nghịch giữa hai nhân vật chuyển hóa thành sự tri âm tri kỉ, cảnh cho chữ diễn ra trong sự luân phiên đảo vị thế nhân vật cùng sự tương phản giữa bóng tối và ánh sáng.

Qua tình huống ấy, Nguyễn Tuân tôn vinh cái đẹp: cái đẹp chiến thắng, cường quyền bị khuất phục trước uy quyền của cái đẹp, vẻ đẹp và nhân cách con người được trân trọng.

2. Lời kể về viên quản ngục và ý nghĩa

Viên quản ngục không được giới thiệu trực tiếp mà hiện lên gián tiếp qua cuộc trò chuyện với thầy thơ lại và qua góc nhìn, cảm nhận của thầy thơ lại – người trực tiếp làm việc cùng quản ngục nơi ngục thất tăm tối.

Chân dung viên quản ngục được khắc họa bằng những nét vẽ đầy chất thơ: “Người ngồi đấy, đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu. Những đường nhăn nheo của một bộ mặt tư lự, bây giờ đã biến mất hẳn. Ở đấy, giờ chỉ còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ.” Người kể chuyện nhận xét rằng trong hoàn cảnh đề lao – nơi người ta sống bằng tàn nhẫn, lừa lọc – “tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ.”

Viên quản ngục được ví như “cái thuần khiết” bị đày ải “vào giữa một đống cặn bã”, là “người thẳng thắn lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt.” Chính quản ngục cũng thầm nhận ra thân phận lạc lõng của mình: “Có lẽ lão bát này cũng là một người khá đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi.”

Cách kể này tác động đến người đọc theo hai hướng: một mặt tạo ra sự hoài nghi – ngục thất vốn là nơi chỉ có hành hạ, đớn đau, kẻ nắm quyền lẽ nào còn nhân tính; mặt khác lại khiến người đọc tò mò, khao khát tìm hiểu thêm về nhân vật đặc biệt này ở nửa sau câu chuyện. Viên quản ngục hiện lên với tính cách đa chiều – không đơn giản là một tên cai ngục tàn ác mà là một con người có tâm hồn, có sở thích cao quý, biết kính mến khí phách và trọng người tài.

3. Sự kiện tạo bước ngoặt

Sự kiện tạo nên bước chuyển trong thái độ của Huấn Cao với viên quản ngục là: trước ngày Huấn Cao chịu án tử, viên quản ngục giãi bày tấm lòng cho thầy thơ lại, rồi thầy thơ lại hớt hải chạy xuống buồng giam kể cho Huấn Cao nghe nỗi lòng quản ngục.

Lúc này Huấn Cao mới hiểu rằng sự biệt đãi suốt nửa tháng qua không phải là thủ đoạn mà là tấm lòng chân thành của một người biết yêu cái đẹp. Huấn Cao cảm động, quyết định cho chữ, và thốt lên: “Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ.”

Mối quan hệ giữa hai người từ đối lập trên bình diện xã hội đã chuyển thành tri âm tri kỉ trên bình diện nghệ thuật. Một người là nghệ sĩ sáng tạo cái đẹp, một người trân quý cái đẹp. Tấm lòng giao cảm ấy khẳng định cả phẩm chất của Huấn Cao – coi trọng người biết trân trọng cái đẹp – lẫn tấm lòng biệt nhỡn liên tài đáng quý của viên quản ngục.

4. Cảnh cho chữ – “Cảnh tượng xưa nay chưa từng có”

a. Hoàn cảnh cho chữ

Từ xưa đến nay, văn chương chữ nghĩa vốn cao quý. Việc cho chữ thường diễn ra nơi thư phòng sang trọng, lầu cao gió mát trăng thanh, có hoa có rượu, dưới ánh sáng ngọn đèn nến lung linh. Người cho chữ ở tư thế tự do, thoải mái, thời gian không bị giới hạn, người nhận chữ hạnh phúc mãn nguyện.

Tuy nhiên, hoàn cảnh cho chữ trong tác phẩm hoàn toàn ngược lại. Người cho chữ là kẻ tử tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, mất tự do. Thời gian là đêm cuối cùng trước ngày ra pháp trường lĩnh án chém. Không gian là buồng giam chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián. Tâm thế người nhận chữ không phải hạnh phúc sung sướng mà ngậm ngùi, nuối tiếc.

Chính hoàn cảnh éo le, khắc nghiệt ấy đã làm nổi bật tấm lòng của cả người cho chữ lẫn người xin chữ. Huấn Cao bằng lòng cho chữ trong hoàn cảnh này bởi ông muốn truyền lại cái đẹp, cái thiên lương, đạo lý cho mai sau.

b. Sự tương phản giữa bóng tối và ánh sáng

Thời gian và không gian nghệ thuật hiện lên thật đặc biệt: cảnh ngục tù trong đêm khuya vắng lặng, nơi tưởng chừng chỉ có tiếng rên rỉ, oán hờn, đau đớn. Bất ngờ thay, trong giờ phút ấy, sự sống lại diễn ra ở mức độ đẹp nhất, cao cả và thiêng liêng nhất.

Nguyễn Tuân gây dựng sự đối lập giữa một bên là “nền nhà lao ẩm ướt, buồng tối chật hẹp, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián” với bên kia là “ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ.” Tấm lụa bạch trắng tinh là điểm sáng nhất trong vùng sáng ấy, tượng trưng cho vẻ đẹp thuần khiết vĩnh hằng.

Sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối mang ý nghĩa nhân sinh cao cả: ánh sáng của thiên lương đã xua tan bóng tối, ánh sáng ấy khai tâm, cảm hóa con người hướng về cuộc sống lương thiện.

c. Sự đảo vị thế nhân vật

Đây là điểm đặc sắc nhất của cảnh cho chữ. Kẻ có quyền hành nơi ngục thất thì không có uy quyền, còn uy quyền lại thuộc về Huấn Cao – một kẻ đã bị tước mọi thứ quyền.

Huấn Cao cổ đeo gông, chân vướng xiềng nhưng đang ung dung dậm tô từng nét chữ trên tấm lụa trắng tinh như một người nghệ sĩ đích thực. Ông chăm chú dồn hết tâm huyết vào từng nét chữ, không mảy may nghĩ tới ngày mai ra pháp trường. Tư thế ấy là tư thế của con người hoàn toàn tự do về tinh thần.

Nguyễn Tuân không muốn tháo gông xiềng cho Huấn Cao. Chính điều này càng tô đậm hành động cao cả, tâm hồn thư thái bay bổng của ông: hình dáng là kẻ tử tù nhưng tâm hồn là người nghệ sĩ thanh cao.

Đối lập với tư thế ấy là thái độ của viên quản ngục và thầy thơ lại: quản ngục “khúm núm” cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ, “cái thầy thơ lại gầy gò thì run run bưng chậu mực.” Người cai tù trở thành người cung kính phục vụ, kẻ tử tù trở thành bậc ban ơn.

d. Lời khuyên của Huấn Cao và ý nghĩa cảnh cho chữ

Viết xong chữ, Huấn Cao đỡ viên quản ngục đứng thẳng dậy – cử chỉ thể hiện sự tôn trọng, muốn quản ngục đứng đàng hoàng trong tư thế con người để đón nhận lời tâm huyết. Rồi ông đĩnh đạc nói: “Tôi bảo thực đấy: thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.”

Lời khuyên của Huấn Cao chính là lời di huấn về nhân cách và lẽ sống. Muốn chơi chữ – tức là muốn sống với cái đẹp – thì trước hết phải giữ được thiên lương trong sáng, phải thoát khỏi môi trường tàn ác. Cái đẹp không thể tồn tại trong cái hung tàn. Thú chơi chữ thích hợp cho những môi trường lành mạnh, không khí ấm áp và những tấm lòng trong sạch.

Viên quản ngục nghe xong, cảm động chảy nước mắt, vái người tù một vái, chắp tay nói: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh.” Đó là giây phút thiêng liêng khi cái đẹp đã cảm hóa con người, khi ánh sáng thiên lương bừng lên xua tan bóng tối ngục tù.

5. Hình tượng nhân vật Huấn Cao

a. Nguyên mẫu và bút pháp xây dựng nhân vật

Huấn Cao được Nguyễn Tuân xây dựng dựa trên nguyên mẫu người anh hùng Cao Bá Quát đầu thế kỉ XIX – một nhà Nho văn võ song toàn, được tôn lên làm “thánh Quát” vì thiên tài về văn chương, thơ phú. Nhân vật được xây dựng bằng bút pháp “lý tưởng hóa” – hạt nhân của khuynh hướng lãng mạn.

Huấn Cao xuất hiện trong cảnh ngộ rất đặc biệt: gông cùm, xiềng xích, mất tự do. Chính trong hoàn cảnh cận kề cái chết, vẻ đẹp Huấn Cao lại ngời sáng hơn bao giờ hết.

b. Huấn Cao – một nghệ sĩ tài hoa

Huấn Cao có tài viết chữ Hán đẹp – một nghệ thuật thư pháp đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về loại chữ tượng hình, phải viết được những nét chữ mềm mại thanh thoát, thể hiện nét đẹp tâm hồn, hoài bão, chí hướng.

Cái tài của Huấn Cao không được miêu tả trực tiếp mà hiện lên gián tiếp qua thái độ của phe đối nghịch. Ngay từ khi nhận công văn, quản ngục đã “ngờ ngợ” hỏi: “Huấn Cao! Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không?” Chữ Huấn Cao được ca ngợi là “đẹp lắm, vuông lắm”, và chính Huấn Cao cũng khẳng định: “Những nét chữ vuông tươi tắn nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con người.” Chữ không chỉ đẹp về hình thức mà còn có hồn, có sức sống.

Chữ Huấn Cao không chỉ đẹp mà còn vô cùng quý giá. Bình sinh ông chỉ mới viết tặng ba người bạn thân: hai bộ tứ bình và một bức trung đường. “Ông không bao giờ vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình cho chữ bao giờ.” Chữ quý đến mức viên quản ngục bất chấp cả sự nguy hiểm đến danh vị và sinh mạng để xin cho được, bởi “có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời.”

Ngoài tài viết chữ, Huấn Cao còn có tài bẻ khóa vượt ngục – không phải cái tài vụn vặt mà là cái tài của người anh hùng có khả năng sổ lồng tháo cũi, vượt ngục để tiếp tục đấu tranh vì lẽ công bằng cho nhân dân.

c. Huấn Cao – một con người khí phách

Khí phách của Huấn Cao thể hiện trước hết ở chí lớn: ông là chủ tướng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa chống lại triều đình, đấu tranh cho lẽ công bằng. Với tài viết chữ đẹp vang danh thiên hạ, ông hoàn toàn có thể sống sung túc nếu mưu cầu bằng tài năng. Nhưng ông không chọn cách sống ấy mà dấn thân vào con đường chống áp bức, bất công.

Khi thất bại, Huấn Cao vẫn ngẩng cao đầu không chịu khuất phục. Ngay khi bước chân vào ngục, ông lạnh lùng chúc mũi gông nặng xuống nền đá tảng, mặc lời dọa nạt hách dịch của bọn lính. Một chi tiết nhỏ đã làm nên nhân cách lớn: người chọc trời khuấy nước, đến chết chém còn chẳng sợ thì vài lời thị oai của bọn tiểu nhân chẳng có nghĩa lý gì.

Suốt nửa tháng được biệt đãi, Huấn Cao thản nhiên nhận rượu thịt như hứng thú lúc bình sinh, rồi đáp lại sự lễ phép của quản ngục bằng câu nói lạnh lùng khinh bạc: “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây.” Ông đã chuẩn bị tâm thế đón nhận trận lôi đình trả thù, nhưng quản ngục chỉ lễ phép lui ra. Sự khinh bạc ấy không phải kiêu ngạo vô cớ mà là thái độ của người có khí tiết, không chịu khuất phục trước quyền lực dù đang ở thế yếu.

Đỉnh cao khí phách là khi đón nhận cái chết. Thầy thơ lại hớt hải báo tin giải vào kinh chịu án, nhưng Huấn Cao chỉ “lặng nghĩ một lát rồi mỉm cười.” Trong cảnh cho chữ, quản ngục và thầy thơ lại run run, khúm núm, còn Huấn Cao ung dung dậm tô nét chữ, dồn hết tâm huyết vào tấm lụa trắng. Sự độc ác, cái chết không có khả năng uy hiếp được khí phách của ông.

Huấn Cao chính là hiện thân của người quân tử theo lý tưởng Nho gia: phú quý bất năng dâm (giàu sang không làm nảy sinh ham muốn bất chính), bần tiện bất năng di (nghèo khó không làm thay đổi tính nết), uy vũ bất năng khuất (cường quyền không thể khuất phục).

d. Huấn Cao – một con người có thiên lương trong sáng

Phẩm chất người nghệ sĩ không chỉ dừng lại ở tài năng sáng tạo mà còn ở thiên tâm trong sáng trước cái đẹp do mình tạo ra. Huấn Cao hội tụ cả hai phẩm chất ấy.

Vẻ đẹp thiên lương thể hiện trước hết ở tinh thần “trọng nghĩa khinh lợi”. Ông không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình cho chữ. Tính ông “vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ ai bao giờ.” Trong việc cho chữ và tặng chữ, ông khẳng định tính cách thanh cao, coi trọng cái đẹp hơn mọi thứ vật chất và quyền lực.

Thiên lương trong sáng còn thể hiện ở tấm lòng biết trân trọng những tâm hồn khao khát hướng tới cái đẹp. Một con người ngạo nghễ, khinh bạc trước quyền lực, vậy mà trong giây phút cuối đời lại quyết định cho chữ viên quản ngục. Không phải lập trường thay đổi, mà vì Huấn Cao cảm động trước tấm lòng biệt nhỡn liên tài – trước tâm hồn biết quý người, trọng người và một lòng khao khát hướng tới cái đẹp. “Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ” – câu nói ấy cho thấy ông coi trọng tấm lòng hơn tất cả.

Qua hình tượng Huấn Cao, Nguyễn Tuân gửi gắm quan niệm: tác phẩm nghệ thuật chân chính chỉ có thể sinh ra từ những tâm hồn nghệ sĩ thanh tao, không sáng tác theo kiểu vụ lợi, không biến nghệ thuật thành hàng hóa. Một tâm hồn nghệ sĩ chân chính thì ở bất cứ đâu, trong hoàn cảnh nào cũng sẽ tìm thấy tâm hồn tri kỉ.

6. So sánh Huấn Cao và Ngô Tử Văn

Huấn Cao trong Chữ người tử tù và Ngô Tử Văn trong Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên đều là những nhân vật có khí phách, nghĩa khí, hiên ngang, ngay thẳng và thiện lương. Cả hai đều là hiện thân cho vẻ đẹp khuôn mẫu của người quân tử trong xã hội xưa, đồng thời thể hiện khát vọng của nhà văn. Qua hình tượng nhân vật, mỗi nhà văn gửi gắm quan điểm, tư tưởng hoặc mong ước về một thế giới mà lẽ phải, cái đẹp và nhân cách con người được tôn vinh.

7. Ý nghĩa và thông điệp của truyện ngắn

Chữ người tử tù đã khắc họa thành công hình tượng Huấn Cao – một con người hội tụ vẻ đẹp tài hoa, khí phách và thiên lương. Qua hình tượng ấy, Nguyễn Tuân khẳng định sự bất tử của cái đẹp: cái đẹp có thể tồn tại ngay trong môi trường của cái ác, cái xấu và không vì thế mà lụi tàn, trái lại càng mạnh mẽ và bền bỉ hơn.

Quan niệm nghệ thuật của nhà văn được thể hiện rõ: trong mỗi con người đều ẩn chứa tâm hồn yêu cái đẹp, cái tài; không phải ai cũng xấu hết, bên cạnh phần ác quỷ vẫn có thiên lương. Cái đẹp tồn tại trong môi trường của cái ác nhưng không vì thế mà mất đi – như hoa sen giữa đầm lầy.

V. Tổng kết

1. Nội dung

Chữ người tử tù ngợi ca vẻ đẹp của tài hoa, khí phách và thiên lương qua hình tượng Huấn Cao. Tác phẩm khẳng định sức mạnh và sự bất tử của cái đẹp, tôn vinh nhân cách con người, thể hiện niềm trân trọng với các giá trị văn hóa truyền thống và tinh thần biệt nhỡn liên tài.

2. Nghệ thuật

Tác phẩm nổi bật với tình huống truyện độc đáo, éo le; bút pháp lãng mạn, lý tưởng hóa nhân vật; thủ pháp tương phản đối lập được sử dụng triệt để (bóng tối – ánh sáng, tù nhân – cai ngục, gông xiềng – tự do tinh thần); ngôn ngữ giàu chất tạo hình, giàu nhạc điệu, mang đậm phong cách Nguyễn Tuân – tài hoa và uyên bác.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện