Lắng nghe và phản hồi về một bài thuyết trình kết quả nghiên cứu

I. Yêu cầu của bài nói và nghe

Bài nói và nghe “Lắng nghe và phản hồi về một bài thuyết trình kết quả nghiên cứu” đặt trọng tâm vào kỹ năng lắng nghe và phản hồi, nhưng không thể thiếu phần nói. Người học cần đáp ứng các yêu cầu sau:

Hiểu rõ mục đích viết của tác giả có báo cáo nghiên cứu được thuyết trình. Nắm bắt đúng và đánh giá được nội dung chính của bài thuyết trình (vấn đề được đề cập, các luận điểm, kết quả nghiên cứu đạt được). Nắm bắt đúng và đánh giá được đặc điểm cấu trúc của bài thuyết trình cũng như quá trình viết, hoàn thiện báo cáo nghiên cứu. Nhận xét được cách tác giả sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ, hình ảnh, số liệu, sơ đồ, bảng biểu khi thuyết trình. Thể hiện thái độ trân trọng tác giả và kết quả nghiên cứu.

II. Chuẩn bị nói và nghe

1. Chuẩn bị nói

Nếu là người được phân công thuyết trình, cần xây dựng bài thuyết trình kết quả nghiên cứu dựa trên bài báo cáo nghiên cứu đã có (ở phần Viết). Khi thuyết trình cần lưu ý: nêu rõ vấn đề nghiên cứu, các luận điểm chính được đề xuất, những bằng chứng và lý lẽ đã sử dụng để làm rõ hệ thống luận điểm; đặc biệt nhấn mạnh những phát hiện mới về vấn đề.

Để việc thuyết trình đạt hiệu quả cao, thu hút sự chú ý của người nghe, nên sử dụng thêm các phương tiện hỗ trợ như hình ảnh, sơ đồ, bảng biểu nhằm cụ thể hóa, trực quan hóa nội dung bài thuyết trình. Có thể trình chiếu PowerPoint nếu điều kiện cho phép.

Người nói cũng cần dự kiến trước các câu hỏi mà người nghe có thể đặt ra để chuẩn bị phương án trả lời.

2. Chuẩn bị nghe

Cần tìm hiểu trước về tên bài thuyết trình – cũng chính là vấn đề sẽ được trình bày – để có tâm thế chủ động khi nghe và phản hồi.

Cần hình dung được những câu hỏi cần giải đáp về vấn đề để dễ nhận ra nét riêng trong cách tiếp cận và giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu mà tác giả đã thực hiện. Ví dụ: Nếu báo cáo có tên “Sự chân thật trong hành động giả dại của Xúy Vân”, thì câu hỏi có thể nảy sinh ngay: Đã giả dại, tại sao lại còn chân thật? Sự chân thật được bộc lộ ở phương diện nào? Tác giả kịch bản cũng như diễn viên đã thể hiện mâu thuẫn này như thế nào?

Ghi lại những điều đã biết và muốn biết trước khi nghe bài thuyết trình vào bảng K-W-L (Know – Want to know – Learned).

III. Thực hành nói và nghe

1. Người nói

Bài thuyết trình cần triển khai theo 3 phần:

Mở đầu: Nêu vấn đề nghiên cứu và lý do chọn vấn đề đó; trình bày ngắn gọn về cách thức và quá trình thực hiện công việc nghiên cứu.

Triển khai: Dựa vào văn bản báo cáo kết quả nghiên cứu để trình bày tóm tắt các luận điểm, thông tin chính có trong công trình nghiên cứu, kết hợp trình chiếu PowerPoint nếu có.

Kết luận: Khái quát những kết quả nghiên cứu chính, khẳng định ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu và gợi mở những hướng tiếp cận mới.

2. Người nghe

Khi lắng nghe bài thuyết trình, người nghe cần thực hiện 4 việc:

Nắm bắt mục đích nghiên cứu – chú ý lắng nghe phần mở đầu và kết thúc bài thuyết trình để có được những thông tin cần thiết.

Nhận biết cấu trúc bài thuyết trình – luận điểm lớn, luận điểm nhỏ, bằng chứng, hình ảnh, số liệu. Nên ghi lại các từ khóa, dùng ký hiệu thông dụng để đánh dấu các luận điểm và mối quan hệ giữa chúng.

Theo dõi và đánh giá phương tiện phi ngôn ngữ – tác dụng của hình ảnh, sơ đồ, bảng biểu, động tác hình thể mà tác giả sử dụng lúc thuyết trình.

Phát hiện tư liệu, bằng chứng chưa đủ độ tin cậy – xem xét kỹ xuất xứ các dữ liệu, kiểm chứng tính chính xác, trung thực của nguồn thông tin, phát hiện những điểm mâu thuẫn trong lập luận.

IV. Trao đổi, phản hồi

1. Người nghe phản hồi

Sau khi lắng nghe tích cực nội dung bài thuyết trình, người nghe có thể phản hồi bằng 4 cách:

Đặt câu hỏi với thái độ tìm hiểu chân thành, đề nghị người thuyết trình làm rõ thêm một số vấn đề trong nội dung bài thuyết trình.

Phản biện những điểm còn mơ hồ, mâu thuẫn, thiếu chính xác với thái độ xây dựng: chỉ ra lỗi về lập luận, đối chiếu dữ liệu được trình bày với dữ liệu từ các nguồn thông tin khác để giúp người nói chỉnh sửa và hoàn thiện.

Đánh giá khái quát về nội dung bài thuyết trình và sự thuyết trình, chỉ ra những điểm tích cực và điểm chưa hợp lý.

Trình bày góc nhìn khác – cung cấp tài liệu của các tác giả khác hoặc đưa ra quan điểm, cách kiến giải riêng của mình về vấn đề.

2. Người nói tiếp nhận

Tiếp nhận ý kiến, phản hồi và trao đổi với các thành viên khác với thái độ cầu thị: bảo lưu hoặc tiếp thu, nêu phương án sửa chữa, hoàn thiện.

Nguyên tắc chung khi trao đổi: tôn trọng người nói, bình đẳng trong giao tiếp, tranh biện trên tinh thần xây dựng, giải quyết xung đột bằng lý lẽ.

V. Bảng đánh giá bài thuyết trình

STT Nội dung đánh giá Đạt Chưa đạt
1 Vấn đề thuyết trình thú vị và có ý nghĩa, giúp người nghe có thêm hiểu biết mới
2 Thông tin về quá trình nghiên cứu và kết quả nghiên cứu chính được thuyết trình rõ ràng, mạch lạc
3 Bài thuyết trình có đủ ba phần: Mở đầu, Triển khai, Kết luận
4 Người nói có phong thái tự tin, diễn đạt lưu loát, truyền cảm
5 Các phương tiện hỗ trợ (PowerPoint, hình ảnh, bảng biểu) được sử dụng hiệu quả
6 Người nói tương tác tích cực với người nghe khi thuyết trình
7 Người nói có tinh thần cầu thị khi trao đổi, đối thoại với người nghe

VI. Bài nói mẫu: Nghệ thuật sân khấu chèo

Dàn ý

Vấn đề nghiên cứu: Nghệ thuật sân khấu chèo.

Các luận điểm chính:

  • Chèo là loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền dân gian lâu đời nhất của Việt Nam, mang đậm chất văn hóa dân gian.
  • Sân khấu biểu diễn chèo đa dạng: sân đình, sân khấu chuyên nghiệp, các lễ hội ở đền chùa. Quy mô từ Nhà hát Chèo, Đoàn Chèo đến đội hoặc tổ Chèo.
  • Chèo không có cấu trúc cố định năm hồi một kịch như sân khấu châu Âu, các nghệ sĩ thường ứng diễn. Diễn viên nói chung là người không chuyên, hợp nhau trong phường chèo hay phường trò.
  • Chèo sử dụng tối thiểu đàn nguyệt và đàn nhị, thêm sáo, trống, chũm chọe. Bộ gõ đầy đủ gồm trống cái, trống con, trống cơm, thanh la, mõ.

Bài nói tham khảo

Chèo là nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống xuất hiện từ lâu đời và mang bản sắc dân tộc đậm đà nhất của Việt Nam. Trong kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian, chèo là một loại hình sân khấu kịch hát đậm đà tính dân tộc, với sự kết hợp nhuần nhuyễn của hàng loạt yếu tố: hát, múa, nhạc, kịch mang tính nguyên hợp vô cùng độc đáo. Cách bài trí sân khấu hát chèo là một khâu quan trọng góp phần tạo nên giá trị văn hóa đặc sắc của loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian này.

Dựa trên khảo sát, thống kê cách bài trí sân khấu của một số vở chèo đã được trình diễn, chúng tôi nhận thấy các dụng cụ trên sân khấu của từng vở chèo đều có vai trò khác nhau, có sự liên quan đến nội dung kịch bản. Chúng tôi cho rằng không thể dùng cách bài trí sân khấu của các loại hình nghệ thuật khác để đánh giá cách bài trí sân khấu của chèo.

Nếu sân khấu truyền thống Trung Quốc có đại diện tiêu biểu là Kinh kịch, Nhật Bản có kịch Nô thì tiêu biểu nhất của sân khấu truyền thống Việt Nam là chèo. Sân khấu chèo là loại hình nghệ thuật tổng hợp các yếu tố dân ca, dân vũ và các loại hình nghệ thuật dân gian khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nó là hình thức kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu với công chúng, và có thể được biểu diễn ngẫu hứng. Sân khấu chèo dân gian đơn giản mà cũng rất đa dạng: có thể là sân đình, sân khấu chuyên nghiệp, các lễ hội ở một số đền chùa. Quy mô lớn nhất của các đơn vị nghệ thuật chèo là Nhà hát Chèo, rồi đến Đoàn Chèo, một số tỉnh chỉ biên chế đội hoặc tổ Chèo thuộc đoàn nghệ thuật.

Trước kia chèo chỉ có phần nói và ngâm các bài dân ca, nhưng do ảnh hưởng của nghệ thuật do người lính bị bắt mang tới, chèo có thêm phần hát. Nội dung các vở chèo lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm, được nâng lên bằng nghệ thuật sân khấu mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc. Tiếng hát chèo đã đi vào tiềm thức dân gian người Việt, gợi nhắc qua những câu ca dao: “Ăn no rồi lại nằm khoèo / Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem / Chẳng thèm ăn chả ăn nem / Thèm no cơm tẻ, thèm xem hát chèo.”

Trong kịch bản chèo, các nhân vật hiện ra qua tên gọi, qua hình tượng được tác giả tạo dựng, còn trên sân khấu, các diễn viên sẽ là người lột tả cái hay, cái đẹp, cái xấu, cái ác của nhân vật đó. Chèo không có cấu trúc cố định năm hồi một kịch như sân khấu châu Âu mà các nghệ sĩ thường ứng diễn. Diễn viên đóng chèo nói chung là những người không chuyên, hợp nhau trong phường chèo hay phường trò. Điển hình là một số nghệ sĩ như NSƯT Thu Huyền, NSƯT Thảo Quyên, NSƯT Văn Bằng, NSƯT Thu Hà, NSND Đình Óng, NSND Quốc Trượng – những nghệ sĩ đã hiện thực hóa hình tượng các nhân vật trong kịch bản chèo.

Chèo sử dụng tối thiểu hai loại nhạc cụ dây là đàn nguyệt và đàn nhị, đồng thời thêm cả sáo nữa. Ngoài ra, các nhạc công còn sử dụng thêm trống và chũm chọe. Bộ gõ nếu đầy đủ thì có trống cái, trống con, trống cơm, thanh la, mõ. Trống con dùng để giữ nhịp cho hát, cho múa và đệm cho câu hát. Có câu “Phi trống bất thành chèo” chỉ vị trí quan trọng của chiếc trống trong đêm diễn chèo. Trong chèo hiện đại có sử dụng thêm các nhạc cụ khác như đàn thập lục, đàn tam thập lục, đàn nguyệt, tiêu… để làm phong phú thêm phần đệm.

Hát chèo đã từng in đậm nét trong tiềm thức dân gian người Việt, không chỉ riêng với đồng bằng Bắc Bộ mà còn tỏa rộng, vươn xa trong đời sống văn hóa – nghệ thuật đương đại. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, các loại hình giải trí mới ra đời, nhiều người đã không còn mặn mà với sân khấu chèo nữa. Sân khấu cổ truyền Việt Nam nói chung và nghệ thuật chèo nói riêng dần mất đi vị thế. Chèo cần có sự thích nghi nhất định với thời cuộc để tránh rơi vào cảnh chỉ là di sản phi vật thể để bảo tồn, tránh làm mất đi một trong những hình thức nghệ thuật kể chuyện bằng sân khấu tiêu biểu nhất của dân tộc.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện