Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ (trang 61)

Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ là kiểu bài nghị luận văn học đòi hỏi người viết biết nhận diện, cảm thụ và đánh giá phương diện hình thức thẩm mĩ cũng như cảm xúc, suy tưởng được biểu đạt trong một tác phẩm thơ cụ thể. Bài viết dưới đây giúp các em nắm vững lý thuyết, quy trình thực hiện và tham khảo bài viết mẫu.

I. Yêu cầu của kiểu bài

Để viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ, cần đảm bảo ba yêu cầu cốt lõi:

Thứ nhất, giới thiệu ngắn gọn về bài thơ được chọn: tác giả, hoàn cảnh ra đời, khuynh hướng hoặc trào lưu văn học gắn với bài thơ, lí do lựa chọn bài thơ để phân tích, đánh giá.

Thứ hai, chỉ ra và phân tích được những nét đặc sắc, độc đáo của bài thơ: từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh…

Thứ ba, đánh giá giá trị của bài thơ về phương diện nghệ thuật cũng như ý nghĩa nhân sinh.

Lưu ý quan trọng: việc cảm thụ giá trị của bài thơ cần bắt đầu từ việc nhận ra và đánh giá giá trị thẩm mĩ của ngôn từ thơ. Để nhận ra giá trị ấy, không thể chỉ dựa vào nhận xét đại khái mà luôn cần sự khảo sát, thống kê kĩ lưỡng – mọi nhận xét đều phải dựa trên dữ kiện xác thực. Bên cạnh đó, việc so sánh, đối chiếu giá trị biểu đạt của từng từ ngữ có ý nghĩa rất quan trọng, bởi trong sáng tác thơ, việc lựa chọn từ ngữ luôn mang một ý nghĩa đặc biệt.

Phân tích cách triển khai của bài viết tham khảo

Bài viết được triển khai theo bảy bước:

  1. Mở đầu bằng cách định vị tác giả – dẫn số liệu thống kê về số bài thơ viết về mùa xuân và Tết của Nguyễn Bính để lí giải danh xưng “thi sĩ của mùa xuân”, rồi xếp Mùa xuân xanh vào mảng thơ xuân tươi tắn, hồn hậu.
  2. Nêu ấn tượng từ nhan đề và câu mở đầu, đặt cạnh cách cảm nhận màu sắc mùa xuân của Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử để làm nổi định nghĩa riêng của Nguyễn Bính: mùa xuân là cả một mùa xanh.
  3. Phân tích mạch triển khai hệ thống hình ảnh: mạch thơ tổ chức theo lối diễn dịch, ý niệm mùa xuân được cụ thể hóa qua chuỗi hình ảnh trời – lá – lúa – cỏ – tre – thắt lưng xanh; điểm nhìn vận động từ cao xuống thấp, từ thiên nhiên đến con người.
  4. Phân tích phép đối, phép điệp và hiệu quả thẩm mĩ: gợi trạng thái sóng đôi, giao hòa giữa tạo vật với tạo vật, giữa con người với thiên nhiên và giữa con người với con người.
  5. Liên hệ, so sánh với thơ truyền thống để làm rõ chất hiện đại: thiên nhiên được tạo hình theo cảm xúc chủ quan (câu thơ về cỏ đợi thanh minh), và hiện tượng câu thơ vắt dòng vốn hầu như không có trong thơ trung đại.
  6. Phân tích hình ảnh kết – người thôn nữ với chiếc thắt lưng xanh, liên hệ câu ca dao quen thuộc, chỉ ra kiểu kết bỏ lửng mang mĩ cảm lãng mạn.
  7. Khẳng định giá trị thẩm mĩ và nhân bản của bài thơ.

Điều rút ra: người viết luôn đi từ hình thức cụ thể đến ý nghĩa, mỗi nhận định đều gắn với một dẫn chứng trực tiếp trong văn bản; đồng thời sử dụng thao tác so sánh, liên hệ để làm nổi bật nét riêng của tác phẩm.

Trả lời câu hỏi

Câu 1. Tác giả bài viết cảm nhận và phân tích bài thơ vừa theo tuyến hình ảnh trải dọc bài thơ, vừa theo trình tự câu thơ, khổ thơ. Cách cảm nhận và phân tích đó có những ưu thế gì nổi bật?

  • Theo tuyến hình ảnh: thấy được tính chỉnh thể của bài thơ. Người đọc nhận ra chuỗi hình ảnh trời – lá – lúa – cỏ – tre – thắt lưng xanh không rời rạc mà là sự cụ thể hóa của một ý niệm duy nhất, vận động theo điểm nhìn từ cao xuống thấp, từ thiên nhiên đến con người.
  • Theo trình tự câu, khổ: bám sát văn bản, không bỏ sót những chi tiết nghệ thuật cụ thể như phép đối, phép điệp, câu thơ vắt dòng, cách dùng đại từ.
  • Kết hợp cả hai: vừa bao quát vừa cụ thể, tránh được hai lỗi thường gặp là nhận định chung chung không có căn cứ, hoặc diễn xuôi từng câu mà không thấy chỉnh thể. Nhờ đó, mối quan hệ giữa từng chi tiết với tứ thơ chung được làm rõ.

Câu 2. Trong bài nghị luận phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ, thực chất của việc phân tích chủ đề là gì?

Chủ đề của bài thơ không tồn tại tách rời hình thức. Vì vậy, phân tích chủ đề thực chất là chỉ ra vấn đề, cảm hứng trung tâm được thể hiện qua chính hệ thống hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu và các biện pháp tu từ của tác phẩm, chứ không phải nêu chủ đề thành một mệnh đề tách riêng rồi bình luận về nó.

Ở bài viết tham khảo, chủ đề – niềm vui sống, sự chan hòa giữa con người với tạo vật, khúc dạo đầu của tình yêu lứa đôi — không được tuyên bố ngay từ đầu mà hiện dần ra qua việc phân tích sắc xanh, phép đối, phép điệp, câu thơ vắt dòng và hình ảnh khép lại bài thơ.

Câu 3. Người viết đã đánh giá bài thơ như thế nào? Nêu nhận xét khái quát về tính thuyết phục của đánh giá đó.

Người viết đánh giá bài thơ trên hai phương diện:

  • Giá trị thẩm mĩ: ngôn từ tự nhiên, giản dị mà vẫn hiện đại; nhịp điệu nương theo cảm xúc hơn là theo quy tắc ngữ pháp; kết thúc bỏ lửng thi vị, thể hiện mĩ cảm đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn.
  • Giá trị nhân bản: bài thơ của niềm vui sống, của sự chan hòa giữa con người với tạo vật, là khúc dạo đầu của tình yêu lứa đôi — những giá trị khiến tác phẩm còn “xanh mãi” trong tâm trí người đọc.

Đánh giá này có tính thuyết phục cao, vì:

  • Mọi nhận định đều đi sau phần phân tích và được rút ra từ dẫn chứng cụ thể trong văn bản.
  • Người viết sử dụng thao tác so sánh, liên hệ (với Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, với ca dao và thơ trung đại) để làm nổi bật cái riêng của bài thơ thay vì chỉ khen chung chung.
  • trích dẫn ý kiến, số liệu nghiên cứu và ghi rõ nguồn, tăng độ tin cậy cho lập luận.
  • Giọng đánh giá chừng mực, dùng những cách nói thận trọng như “có lẽ”, “có thể” khi nêu cảm nhận riêng — phù hợp với đặc trưng đa nghĩa của thơ.

II. Quy trình viết

Bước 1: Chuẩn bị viết

Lựa chọn bài thơ sẽ phân tích, đánh giá. Cần chọn đúng bài thơ thật sự làm mình rung cảm và tin vào giá trị nghệ thuật của nó. Tự đặt câu hỏi: bài thơ gây cho mình ấn tượng đặc biệt gì về hình ảnh, nhịp điệu, giọng điệu? Tình cảm và tư tưởng trong bài thơ đã khiến mình xúc động như thế nào?

Tìm đọc tham khảo những bài viết, ý kiến liên quan đến bài thơ sẽ phân tích, đánh giá.

Bước 2: Tìm ý

Đọc lại bài thơ đã lựa chọn. Có thể đọc thầm hoặc đọc thành tiếng để cảm nhận đầy đủ hơn về âm điệu, nhịp điệu. Chú ý những cách diễn đạt lạ, có thể lần đầu mình bắt gặp và những hình ảnh gây ấn tượng. Sau khi đọc, suy nghĩ vì sao bài thơ lại có những cách tổ chức và kết hợp ngôn từ đặc biệt như vậy.

Thử liên kết âm điệu, nhịp điệu, ngôn ngữ, hình ảnh của bài thơ và chú ý xem mạch liên kết này có thể đem đến cho mình sự bất ngờ nào trong cảm xúc, liên tưởng và nhận thức.

Tìm hiểu thêm thông tin về tác giả và hoàn cảnh sáng tác, chú ý bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá, văn học – điều này giúp hiểu sâu hơn về ngôn ngữ, hình ảnh, cảm xúc và tư tưởng của bài thơ.

Cần tập trung vào những phương diện hình thức nghệ thuật và nội dung của bài thơ mà người đọc xem là độc đáo, mới mẻ, thú vị. Khi đánh giá bài thơ, cần chú ý đầy đủ cả giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân văn.

Khi phân tích nghệ thuật, chú ý vận dụng các thao tác so sánh và liên tưởng một cách thích hợp (ví dụ: so sánh từ ngữ mà nhà thơ lựa chọn với những từ ngữ đồng nghĩa, gần nghĩa, từ đó lí giải vì sao lựa chọn của nhà thơ có thể được xem là tối ưu).

Bước 3: Lập dàn ý

Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ (tác giả, thời điểm ra đời, nơi xuất bản, đánh giá chung của dư luận…) và nêu vấn đề chính sẽ được tập trung phân tích, đánh giá trong bài viết.

Thân bài:

– Phân tích, đánh giá mạch ý tưởng, cảm xúc của nhân vật trữ tình (nhân vật trữ tình muốn biểu đạt điều gì, thông qua hình tượng nào, với cái nhìn và thái độ ra sao…).

– Phân tích, đánh giá sự phát triển của hình tượng chính (qua các khổ, đoạn trong bài) và tính độc đáo của những phương tiện ngôn từ đã được sử dụng (từ ngữ, cách gieo vần, ngắt nhịp, các biện pháp tu từ…).

– Phân tích, đánh giá nét hấp dẫn riêng của bài thơ so với những sáng tác khác cùng đề tài, chủ đề, thể loại (của chính nhà thơ hoặc của tác giả khác).

Kết bài: Khẳng định giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của bài thơ, ý nghĩa của bài thơ đối với người viết bài nghị luận.

Bước 4: Viết

Mỗi ý trong dàn ý cần được triển khai thành một đoạn văn, từng đoạn văn đều có câu chủ đề, được đặt ở vị trí thích hợp.

Cần chú ý dẫn các dòng thơ, khổ thơ có thể minh hoạ tốt cho ý đã được nêu, kèm theo những lời bình, phân tích phù hợp, tránh tình trạng nói chung chung thiếu căn cứ.

Cần thể hiện được sự rung động thật sự của mình trước bài thơ nhưng tránh lối nói đại ngôn hay lạm dụng những câu cảm thán.

Bước 5: Chỉnh sửa, hoàn thiện

Đọc lại và kiểm tra bài viết, đối chiếu với các yêu cầu của kiểu bài, mục đích mà người viết đã đặt ra.

Thử tóm tắt lại bài viết (khoảng 120 chữ) để tự đánh giá về mức độ chặt chẽ và sự sáng rõ của các luận điểm.

Chỉnh sửa các lỗi về chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

III. Một số kĩ thuật viết nâng cao

Qua bài viết tham khảo “Những điệu xanh của mùa xuân” (phân tích Mùa xuân xanh của Nguyễn Bính) trong SGK, có thể rút ra một số kĩ thuật viết nâng cao giúp bài văn thêm sâu sắc và hấp dẫn:

Phân tích kĩ nhịp điệu thơ: Không chỉ mô tả nhịp mà cần chỉ ra nhịp điệu nương theo cảm xúc của con người như thế nào. Ví dụ: ở những câu thơ vắt dòng, nhịp điệu nương theo cảm xúc hơn là tuân thủ quy tắc ngữ pháp – đó là nhịp điệu của nỗi hân hoan và niềm hồi hộp.

Phân tích sâu về từ ngữ: Chú ý những cách sử dụng từ ngữ lấp lửng, đa nghĩa. Ví dụ: cách dùng đại từ “đồng tôi” – “đồng nàng” – “đồng anh” lấp lửng, vừa nao nức nhưng vẫn ngập ngừng, vừa e ấp mà cũng vừa lơi lả.

Lời bình kết hợp so sánh và phát hiện: Khi bình, nên so sánh với truyền thống (ca dao, thơ cổ…) để thấy cái mới. Ví dụ: nhịp điệu và lời thơ gợi nhớ cách nói đưa đẩy, duyên dáng trong ca dao xưa, nhưng cảm xúc chứa đựng trong đó lại là một tình điệu mới.

Khái quát nâng cao: Sau khi phân tích chi tiết, cần nâng lên tầm khái quát – đặt bài thơ trong bối cảnh văn học, thời đại để thấy ý nghĩa rộng hơn.

Diễn đạt: Chú ý dùng phép điệp (từ ngữ, cú pháp) để lời văn uyển chuyển, giàu nhạc tính, giàu cảm xúc.

IV. Bài viết mẫu: Phân tích, đánh giá bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử

Đề bài: Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử.

Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) là một trong những gương mặt độc đáo nhất của phong trào Thơ Mới. Thơ ông vừa có những vần điên loạn, ma quái, vừa có những bài trong trẻo, tươi tắn đến lạ thường. “Mùa xuân chín” nằm ở phần Hương thơm trong tập Đau thương (1938), thuộc về mảng thơ trong sáng ấy – nơi thi sĩ gửi gắm niềm khao khát giao cảm mãnh liệt với cuộc đời qua bức tranh mùa xuân đang ở độ viên mãn nhất. Bài viết này sẽ tập trung phân tích vẻ đẹp của hình ảnh, ngôn từ và mạch cảm xúc trong bài thơ, từ đó đánh giá những giá trị đặc sắc mà thi phẩm mang lại.

Trước hết, nhan đề “Mùa xuân chín” đã là một sáng tạo ngôn từ đầy bất ngờ. “Chín” vốn dùng cho hoa quả, nay đặt cạnh “mùa xuân” tạo nên một kết hợp lạ. Hiểu “chín” là động từ, mùa xuân đang đi vào độ căng mọng, tươi đẹp nhất. Hiểu “chín” là tính từ, mùa xuân đã đạt tới trạng thái tròn đầy, viên mãn. Dù hiểu theo cách nào, nhan đề cũng gợi lên thời khắc rực rỡ nhất của mùa xuân – nhưng đồng thời ẩn chứa dự cảm: cái gì đã chín thì cũng sắp qua đi. Ngay từ nhan đề, Hàn Mặc Tử đã đặt người đọc vào giữa ranh giới mỏng manh giữa vẻ đẹp viên mãn và nỗi tiếc nuối.

Khổ thơ đầu mở ra một bức tranh mùa xuân thôn quê thanh bình và đầy sức sống:

Trong làn nắng ửng khói mơ tan

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc T

rên giàn thiên lí. Bóng xuân sang.

Chữ “làn” gợi nắng mỏng tang, mềm mại; “ửng” diễn tả sắc nắng ấm dần lên trong khói sương đang tan – cảnh sắc vừa nhẹ nhàng vừa huyền ảo. Từ láy “lấm tấm” tạo cảm giác nắng đang rắc từ từ lên mái nhà tranh, điểm chút sắc vàng như những nét chấm phá tinh tế. Đặc biệt, động từ “trêu” nhân hóa gió thành một nhân vật tinh nghịch vờn tà áo biếc, tạo nên không khí hóm hỉnh và duyên dáng. Nhưng ấn tượng nhất là dấu chấm giữa dòng thơ cuối: “Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang.” Dấu chấm ấy tạo nên một khoảng lặng, một sự ngưng đọng cảm xúc – như thể nhà thơ đang nín thở đón nhận khoảnh khắc mùa xuân bước sang. Mạch thơ ngập ngừng chính là mạch cảm xúc ngập ngừng, bâng khuâng, vấn vương.

Từ cảnh vật, mùa xuân lan sang con người ở khổ thơ thứ hai:

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời

Bao cô thôn nữ hát trên đồi

– Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,

Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi.

Hình ảnh ẩn dụ “sóng cỏ” kết hợp ba chữ “gợn tới trời” gợi ra làn cỏ xanh dập dờn bất tận trong gió xuân – mùa xuân đang ở đỉnh điểm của sức sống. Giữa không gian ấy, “bao cô thôn nữ hát trên đồi” – tiếng hát xuân dân dã, tình tứ, xuân sắc “đang chín” dần trong lòng thiếu nữ. Nhưng mạch thơ bỗng chuyển: “Ngày mai trong đám xuân xanh ấy / Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi.” Hai câu thơ vừa tự nhiên vừa chứa đựng một dự cảm tiếc nuối sâu sắc. “Xuân xanh” vừa là mùa xuân tươi trẻ, vừa là tuổi xuân của con người – và cả hai rồi cũng sẽ qua đi. Cách nói “bỏ cuộc chơi” thật nhẹ nhàng mà thật xót xa: tuổi trẻ, niềm vui, tất cả đều như một cuộc chơi rồi sẽ kết thúc.

Khổ ba đưa tiếng hát mùa xuân vào một chiều sâu mới:

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi Hổn hển như lời của nước mây Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây.

Hàn Mặc Tử dùng từ “vắt vẻo” – vốn tả hình dáng – để tả âm thanh, khiến tiếng hát hiện lên như một thực thể có hình khối, lơ lửng giữa lưng chừng núi. “Hổn hển” gợi sự dồn dập, say đắm, nồng nàn. Rồi tiếng hát nhỏ dần thành lời “thầm thì” tình tứ “với ai ngồi dưới trúc” – ai đó lắng nghe và cảm nhận “ý vị và thơ ngây”. Ngôn từ ở khổ thơ này đặc biệt giàu cảm giác: những kết hợp từ ngữ ít gặp trong lời nói thông thường (tiếng ca vắt vẻo, hổn hển như lời của nước mây) tạo nên một thế giới âm thanh vừa sống động vừa huyền bí, hòa quyện tiếng hát con người vào hơi thở đất trời.

Khổ cuối là bước ngoặt cảm xúc, cũng là đỉnh điểm của bài thơ:

Khách xa, gặp lúc mùa xuân chín

Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng

– Chị ấy, năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

Nhân vật trữ tình hiện ra: “Khách xa” – người lữ khách đang ở phương xa. Cảnh xuân chín nơi đất khách đã bất ngờ gọi dậy nỗi nhớ quê hương – từ “sực nhớ” diễn tả sự đột ngột, kí ức ùa về như một ánh chớp. “Chị ấy” – hai tiếng vừa thân thương vừa xa xôi – có thể là một người quen, một kỉ niệm đẹp thời tuổi trẻ nơi quê nhà. Hình ảnh “chị ấy” gánh thóc “dọc bờ sông trắng nắng chang chang” thuộc về một thời khắc khác, một không gian hoàn toàn khác với cảnh xuân trong trẻo ở ba khổ trước. Câu thơ kết bằng dấu chấm hỏi – không hỏi ai mà hỏi chính mình, hỏi ký ức: liệu tất cả vẻ đẹp ấy có còn không? Cái đẹp của mùa xuân, của tuổi xuân, của “chị ấy” – tất cả như đang tuột khỏi tầm tay, chỉ còn sống trong nỗi nhớ bâng khuâng.

Xét về hình thức nghệ thuật, Mùa xuân chín mang đặc trưng tiêu biểu của Thơ Mới: gieo vần linh hoạt (vần chân thay đổi theo khổ: “ang”, “ơi”, “ây”, “ang”), ngắt nhịp biến hóa theo mạch cảm xúc (4/3 ở khổ tả cảnh, 2/2/3 ở khổ chứa đựng suy tư). So với thơ Đường luật với nhịp 4/3 cố định và một vần xuyên suốt, cách gieo vần và ngắt nhịp trong Mùa xuân chín tự do hơn, nương theo dòng chảy tự nhiên của cảm xúc – lúc vui tươi rạo rực, lúc trầm lắng bâng khuâng. Ngôn từ bài thơ giàu sức gợi nhờ những từ láy tinh tế (lấm tấm, sột soạt, chang chang), những kết hợp từ sáng tạo (sóng cỏ, tiếng ca vắt vẻo, bóng xuân sang) và đặc biệt là dấu chấm giữa dòng thơ – một sáng tạo hình thức hiếm gặp, tạo nhịp ngưng đọng cảm xúc rất đặc sắc.

Mùa xuân chín là bài thơ của niềm khao khát giao cảm mãnh liệt với cuộc đời. Hàn Mặc Tử viết bài thơ này khi đang phải sống trong cảnh bệnh tật, cô đơn – nhưng thi phẩm không hề mang bóng dáng của đau thương, mà ngược lại, tràn đầy ánh sáng, màu sắc, âm thanh và sức sống. Chính vì thế, vẻ đẹp trong Mùa xuân chín càng thêm xúc động: đó là vẻ đẹp được nhìn bằng đôi mắt của người yêu cuộc sống đến cháy bỏng, trân trọng từng khoảnh khắc bởi biết rằng tất cả rồi sẽ qua đi. Bài thơ không chỉ vẽ nên bức tranh mùa xuân đẹp nhất trong Thơ Mới mà còn gửi gắm một triết lí nhân sinh sâu sắc: hãy nâng niu cái đẹp, hãy sống trọn vẹn với từng khoảnh khắc, bởi xuân thì – cũng như mùa xuân – một khi đã chín thì cũng sẽ qua.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện