Bảo kính cảnh giới (bài 43) – Tóm tắt, Phân tích

Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) bài 43 là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Bài thơ vẽ nên bức tranh thiên nhiên ngày hè tràn đầy sức sống, đồng thời bộc lộ tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời và tấm lòng ưu ái với nhân dân của nhà thơ. Bài viết dưới đây phân tích chi tiết nội dung và nghệ thuật của tác phẩm theo chương trình Ngữ văn lớp 10.

I. Tìm hiểu chung

1. Quốc âm thi tập

Quốc âm thi tập là tập thơ chữ Nôm đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, gồm 254 bài thơ của Nguyễn Trãi.

Về nội dung, tập thơ phản ánh tư tưởng, tình cảm và vẻ đẹp toàn diện của Nguyễn Trãi: tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân, giữ gìn nhân cách và hòa cảm với thiên nhiên.

Về nghệ thuật, Quốc âm thi tập thể hiện sự sáng tạo trong thể thơ Nôm Đường luật, có xen câu lục ngôn (sáu chữ) với câu thất ngôn (bảy chữ) – một đặc điểm riêng biệt mang dấu ấn Nguyễn Trãi.

Bố cục tập thơ gồm 4 phần: Vô đề, Môn thì lệnh (thời tiết), Môn hoa mộc (cây cỏ), Môn cầm thú (thú vật).

Quốc âm thi tập được đánh giá là đỉnh cao của thơ Nôm Đường luật, đánh dấu bước khởi đầu đẹp đẽ của nền thơ tiếng Việt thời trung đại.

2. Thơ Nôm Đường luật

Thơ Nôm Đường luật là loại thơ được sáng tác theo thể Đường luật, viết bằng chữ Nôm, hình thành vào khoảng thế kỉ XIII. Đây là một “lối thơ riêng” do các tác giả trung đại Việt Nam sáng tạo dựa trên mô hình thơ Đường luật, trong đó có nhiều cách tân về đề tài, thi liệu, cảm hứng, bút pháp và ngôn ngữ thơ.

3. Bài thơ Bảo kính cảnh giới (bài 43)

Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) là chùm thơ gồm 61 bài trong tổng số 254 bài của Quốc âm thi tập. Hầu hết các bài trong chùm thơ này đều mang nội dung giáo huấn và chứa đựng nhiều trăn trở, suy tư về thế sự. Chùm thơ cũng ghi lại những khoảnh khắc thư nhàn khi tác giả lánh xa chốn quan trường, hòa mình với thiên nhiên và nhịp sống bình dị nơi thôn dã.

Bài thơ được phân tích nằm ở vị trí số 43 trên tổng số 61 bài của chùm thơ Bảo kính cảnh giới.

Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ ra đời trong thời gian Nguyễn Trãi lui về ở ẩn tại Côn Sơn, sau khi gặp nhiều ngang trái trong cuộc đời làm quan. Bài thơ thể hiện nỗi lòng của ông trong những khoảnh khắc hiếm hoi được thảnh thơi hòa mình cùng thiên nhiên.

II. Văn bản

Rồi hóng mát thuở ngày trường,

Hoè lục đùn đùn tán rợp giương.

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,

Hồng liên trì đã tịn mùi hương.

Lao xao chợ cá làng ngư phủ,

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.

Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

Dân giàu đủ khắp đòi phương.

III. Phân tích chi tiết

1. Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống ngày hè (6 câu đầu)

a. Hoàn cảnh của tác giả

Câu thơ mở đầu: “Rồi hóng mát thuở ngày trường” – một câu thơ sáu chữ (lục ngôn) thay vì bảy chữ theo quy cách Đường luật thông thường. Nhịp thơ ngắt chậm rãi 1/2/3 (“Rồi / hóng mát / thuở ngày trường”), gợi lên tâm thế thảnh thơi, nhàn nhã của tác giả đang dạo bước thưởng ngoạn cảnh ngày hè dài.

Từ “rồi” nghĩa là rỗi rãi, thư nhàn; “ngày trường” là ngày dài. Đây là những khoảnh khắc hiếm thấy trong cuộc đời nhà thơ – con người suốt đời bận rộn với việc nước, việc dân, nay mới có dịp được thảnh thơi hòa mình với thiên nhiên.

b. Bức tranh thiên nhiên

Sáu câu đầu vẽ nên bức tranh thiên nhiên ngày hè sinh động, tràn đầy sức sống qua sự kết hợp hài hòa giữa hình ảnh, màu sắc và âm thanh.

Về hình ảnh và màu sắc:

Cây hòe: “Hoè lục đùn đùn tán rợp giương” – từ láy “đùn đùn” vốn là động từ mạnh, gợi tả sức sống mãnh liệt của cây hòe như từ bên trong hối hả trào ra bên ngoài, khiến tán cây vươn rộng mạnh mẽ, che rợp cả một vùng không gian. Màu xanh lục của lá hòe tràn ngập, tạo nền cho bức tranh.

Hoa lựu: “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ” – động từ “phun” đặc biệt ấn tượng, khiến màu đỏ của hoa lựu như tạo thành dòng tuôn chảy, tô đậm sắc đỏ rực rỡ của hoa. Chữ “còn” cho thấy hoa vẫn đang nở rộ, sức sống vẫn đang tiếp diễn.

Sen hồng: “Hồng liên trì đã tiễn mùi hương” – hoa sen hồng trong ao đã tỏa ngát mùi hương. Chữ “đã tiễn” (có bản chép “đã tịn”) nghĩa là hương thơm đã lan tỏa đến mức tận cùng, hết mức, cho thấy mùi hương nồng nàn, đậm đà.

Ba hình ảnh cây hòe, hoa lựu, hoa sen đều là những cảnh vật quen thuộc, gần gũi với làng quê Việt Nam, tạo nên bức tranh thiên nhiên mùa hè vừa tươi tắn về màu sắc (xanh lục của hòe, đỏ rực của lựu, hồng nhẹ của sen) vừa nồng nàn về hương thơm.

Về âm thanh:

Tiếng chợ cá: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ” – từ láy “lao xao” gợi lên âm thanh rộn ràng, nhộn nhịp của cuộc sống lao động bình dị nơi làng chài. Đây không phải tiếng ồn ào phiền toái mà là âm thanh của sự sống, sự no đủ.

Tiếng ve: “Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương” – từ láy tượng thanh “dắng dỏi” tả âm thanh trong, cao, rộn rã. Tiếng ve lúc chiều tà được ví như tiếng đàn (“cầm ve”), tạo nên giai điệu thiên nhiên thánh thót. Hai từ “tịch dương” (bóng chiều, ánh hoàng hôn) khép lại bức tranh trong ánh sáng dịu dàng của buổi chiều hè.

Đáng chú ý, cả hai câu thơ về âm thanh đều đảo tính từ, từ láy lên đầu câu (“Lao xao…”, “Dắng dỏi…”), nhằm nhấn mạnh không khí rộn rã, tươi vui trong đời sống người lao động.

c. Nhận xét về bức tranh ngày hè

Bức tranh thiên nhiên mùa hè được miêu tả từ gần tới xa, có sự kết hợp hài hòa giữa đường nét, màu sắc với âm thanh, giữa cảnh thiên nhiên và cảnh sinh hoạt con người. Cảnh vật tuy tĩnh ở bên ngoài nhưng tràn đầy, ứa căng sức sống ở bên trong: cây hòe “đùn đùn” như trào ra, hoa lựu “phun” sắc đỏ, sen “tiễn” hương thơm. Tất cả đều gần gũi, bình dị nhưng rạo rực, tươi mới.

Đằng sau bức tranh thiên nhiên ấy là vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ: tình cảm yêu thiên nhiên tha thiết, tư thế ung dung thảnh thơi, và khả năng bao quát, nắm bắt cái hồn cảnh vật một cách tinh tế, nhạy cảm. Phải là người yêu thiên nhiên sâu sắc, có tâm hồn rộng mở, lãng mạn mới có thể cảm nhận được vẻ đẹp sinh động đến thế từ những sự vật bình dị nhất.

2. Khát vọng của nhà thơ (2 câu cuối)

Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

Dân giàu đủ khắp đòi phương.

Hai câu kết bất ngờ chuyển mạch cảm xúc. Từ say đắm với thiên nhiên, cảnh vật, nhà thơ bộc lộ niềm mong ước: mong được có cây đàn của vua Thuấn (Ngu cầm). Tương truyền vua Thuấn có cây đàn, mỗi khi gảy khúc Nam phong thì gió Nam mát mẻ thổi đến, mưa thuận gió hòa, nhân dân bớt ưu phiền, làm ăn sung sướng, no đủ.

Niềm mong ước ấy không phải cho bản thân mà hoàn toàn hướng về nhân dân: “Dân giàu đủ khắp đòi phương” – mong cho dân giàu có, no đủ khắp mọi nơi. Câu kết là câu sáu chữ (lục ngôn) – ngắn hơn so với các câu bảy chữ khác trong bài – nhằm cô đặc, nhấn mạnh niềm mong ước cháy bỏng của nhà thơ.

Sự vận động mạch cảm xúc: Ở sáu câu đầu, tưởng như tác giả hoàn toàn say đắm với thiên nhiên, cảnh vật, đang tận hưởng khoảnh khắc thư nhàn. Nhưng đến hai câu cuối, ông bất ngờ bộc lộ niềm thương và nỗi lo đau đáu cho dân. Hóa ra, ngay trong phút giây thảnh thơi nhất, Nguyễn Trãi vẫn không hề nghĩ đến bản thân mà toàn tâm toàn ý hướng về dân, lo cho dân.

Điều này cho thấy Nguyễn Trãi là người “thân nhàn mà tâm không nhàn” – thân xác thì rỗi rãi nhưng tâm hồn thì luôn canh cánh mối lo dân lo nước. Đây là biểu hiện của một trái tim lớn, một nhân cách cao cả – con người suốt đời “ưu dân, ái quốc”, ngay cả khi đã lui về ẩn dật.

IV. Tổng kết

1. Nghệ thuật

Bài thơ vận dụng một cách sáng tạo thể thơ Đường luật với sự đan xen của câu sáu chữ và câu bảy chữ – đặc trưng riêng của thơ Nôm Nguyễn Trãi. Câu mở đầu và câu kết đều là câu sáu chữ, tạo sự cân đối và nhấn mạnh ý tứ.

Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, gần gũi với khẩu ngữ (lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân) nhưng lại rất giàu cảm xúc và giàu sức gợi. Các từ láy (“đùn đùn”, “lao xao”, “dắng dỏi”), động từ mạnh (“phun”, “giương”), cách đảo ngữ đều tạo hiệu quả nghệ thuật cao.

Bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc trưng của văn học trung đại được sử dụng nhuần nhuyễn: miêu tả thiên nhiên, đất trời và cảnh đời sống sinh hoạt của con người để qua đó bộc lộ một cách kín đáo tâm tư, tình cảm, nỗi lòng của mình về con người, về cuộc đời.

2. Nội dung

Bài thơ vẽ nên bức tranh mùa hè đẹp đẽ, thơ mộng, tràn đầy sức sống với sự hòa quyện giữa thiên nhiên và cuộc sống con người. Qua đó, bài thơ bộc lộ tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời tha thiết của Nguyễn Trãi, và đặc biệt là tấm lòng ưu ái với dân với nước – nỗi lo thường trực ngay cả trong phút giây thư nhàn nhất. Đó chính là vẻ đẹp toàn diện của một tâm hồn lớn, một nhân cách cao cả.

Sơ đô tư duy

BẢO KÍNH CẢNH GIỚI (BÀI 43)

Ngữ văn – Nguyễn Trãi

I. Tìm Hiểu Chung
Quốc âm thi tập
  • Tập thơ chữ Nôm đầu tiên trong lịch sử VHVN (254 bài)
  • Nội dung: Tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân, giữ gìn nhân cách, hoà cảm thiên nhiên
  • Nghệ thuật: Sáng tạo thể thơ Nôm Đường luật, xen câu lục ngôn với thất ngôn
  • Đánh giá: Đỉnh cao của thơ Nôm Đường luật
Thơ Nôm Đường luật
  • Viết theo thể Đường luật bằng chữ Nôm, hình thành khoảng TK XIII
  • "Lối thơ riêng" của tác giả trung đại Việt Nam
  • Cách tân: Đề tài, thi liệu, cảm hứng, bút pháp, ngôn ngữ
Vị trí bài thơ
  • Nằm trong chùm Bảo kính cảnh giới (61/254 bài) – Bài số 43
  • Nội dung chùm thơ: Giáo huấn + trăn trở thế sự + khoảnh khắc thư nhàn
  • Hoàn cảnh: Nguyễn Trãi lui về ở ẩn tại Côn Sơn
II. Bức Tranh Thiên Nhiên & Cuộc Sống (6 Câu Đầu)
Hoàn cảnh tác giả (Câu 1 – lục ngôn)
  • "Rồi hóng mát thuở ngày trường" → Rồi = rỗi rãi, thư nhàn
  • Nhịp 1/2/3 chậm rãi → tâm thế thảnh thơi, nhàn nhã
Bức tranh thiên nhiên – Hình ảnh, màu sắc
  • Cây hoè (C2): "Hoè lục đùn đùn tán rợp giương" – từ láy "đùn đùn" → sức sống mãnh liệt trào ra – Màu xanh lục
  • Hoa lựu (C3): "Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ" – "phun" → màu đỏ tuôn chảy, tô đậm – Màu đỏ rực
  • Sen hồng (C4): "Hồng liên trì đã tiễn mùi hương" – "tiễn" → hương lan toả nồng nàn – Màu hồng + hương thơm
Bức tranh cuộc sống – Âm thanh
  • Tiếng chợ cá (C5): "Lao xao chợ cá làng ngư phủ" – từ láy → rộn ràng, nhộn nhịp, no đủ
  • Tiếng ve (C6): "Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương" – từ láy tượng thanh → trong, cao, rộn rã; "cầm ve" = tiếng ve như tiếng đàn
  • Nghệ thuật: Đảo từ láy lên đầu câu → nhấn mạnh
Nhận xét chung
  • Miêu tả từ gần tới xa; kết hợp hài hoà đường nét + màu sắc + âm thanh
  • Tĩnh bên ngoài ↔ tràn đầy sức sống bên trong (đùn đùn, phun, tiễn)
  • Vẻ đẹp tâm hồn: Yêu thiên nhiên, ung dung thảnh thơi, tâm hồn tinh tế, lãng mạn
III. Khát Vọng Của Nhà Thơ (2 Câu Cuối)
Niềm mong ước (Câu 7 – thất ngôn)
  • "Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng"
  • Ngu cầm: Đàn của vua Ngu Thuấn
  • Tương truyền: Gảy khúc Nam phong → gió Nam mát mẻ → mưa thuận gió hoà → dân bớt ưu phiền, no đủ
Mục đích niềm mong ước (Câu 8 – lục ngôn)
  • "Dân giàu đủ khắp đòi phương"
  • → Mong dân giàu có, no đủ khắp mọi nơi
  • Câu 6 chữ = cô đặc, nhấn mạnh niềm mong ước
  • Không nghĩ đến bản thân → toàn tâm hướng về dân
Sự vận động mạch cảm xúc
  • 6 câu đầu: Say đắm thiên nhiên, thưởng ngoạn cảnh vật
  • 2 câu cuối: Bộc lộ nỗi lo đau đáu cho dân
  • → Ngay phút giây thảnh thơi nhất vẫn canh cánh lo cho dân
  • "Thân nhàn mà tâm không nhàn"
  • → Biểu hiện trái tim lớn, nhân cách cao cả, suốt đời "ưu dân, ái quốc"
IV. Tổng Kết
Nghệ thuật
  • Thể thơ: Sáng tạo Đường luật, đan xen câu 6 chữ và 7 chữ (mở đầu + kết = lục ngôn)
  • Ngôn ngữ: Giản dị, trong sáng, gần khẩu ngữ, giàu cảm xúc và sức gợi
  • Từ láy: "đùn đùn", "lao xao", "dắng dỏi" | Động từ mạnh: "phun", "giương"
  • Bút pháp: Tả cảnh ngụ tình – miêu tả thiên nhiên, bộc lộ kín đáo tâm tư
Nội dung
  • Bức tranh mùa hè đẹp đẽ, thơ mộng, tràn đầy sức sống
  • Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi: Yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu cuộc sống
  • Tấm lòng ưu ái: Luôn hướng về dân, về nước
ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện