Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
Trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề là kĩ năng nói và nghe quan trọng trong chương trình học, tiếp nối phần Viết báo cáo nghiên cứu. Người nói cần đưa tới cho người nghe những thông tin khái quát, trung thực về nội dung nghiên cứu đã hoàn thành. Bài viết dưới đây giúp các em nắm vững lý thuyết, cách chuẩn bị và tham khảo bài nói mẫu.
I. Yêu cầu của bài trình bày
Bài trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu cần đạt ba yêu cầu chính:
Giới thiệu được vấn đề nghiên cứu và lí do chọn vấn đề đó.
Trình bày khái quát những kết quả nghiên cứu chính ở phần trọng tâm của bài nói.
Nêu thu hoạch bổ ích của bản thân khi tiến hành nghiên cứu vấn đề ở phần cuối bài nói.
II. Chuẩn bị nói
Để trình bày hiệu quả, người nói cần thực hiện các bước chuẩn bị sau:
Tóm tắt báo cáo: Rút gọn bài viết trong khoảng 1 – 1,5 trang giấy. Gạch chân những luận điểm hoặc thông tin chính. Ghi chú về các ngữ liệu minh họa quan trọng cần nêu khi trình bày từng luận điểm.
Xác định từ ngữ then chốt: Gắn với từng luận điểm để dễ nhớ, dễ triển khai, đảm bảo bài nói có trọng tâm, không sa vào lối kể chuyện hay bình tán dông dài.
Chuẩn bị PowerPoint (nếu có): Soạn với các thông tin chắt lọc, hình ảnh và video minh họa sinh động, thể hiện nét đặc trưng của báo cáo nghiên cứu. Lưu ý: slide chỉ chứa ý chính, không chép nguyên bài viết lên slide.
III. Chuẩn bị nghe
Người nghe cũng cần chuẩn bị trước để tiếp nhận hiệu quả:
Tìm hiểu trước tên đề tài nghiên cứu sẽ được trình bày để có định hướng nghe phù hợp.
Phác ra những câu hỏi ban đầu về vấn đề để dễ theo dõi nội dung bài trình bày. Ví dụ: nếu đề tài là “Dấu ấn sử thi Ấn Độ Ra-ma-ya-na trong văn hóa Việt Nam”, câu hỏi có thể là: Bằng cách nào sử thi Ra-ma-ya-na lưu truyền tới Việt Nam? Ảnh hưởng thể hiện ở những điểm nào?
IV. Cách trình bày bài nói
Người nói
Mở đầu: Nêu tên đề tài, lí do chọn vấn đề nghiên cứu; trình bày ngắn gọn về quá trình thực hiện.
Triển khai: Trình bày tóm tắt các luận điểm, thông tin chính theo trình tự hợp lí, kết hợp nhịp nhàng với việc trình chiếu PowerPoint nếu có. Có thể tổ chức nội dung theo hình thức câu hỏi – lời đáp, mỗi câu hỏi tương ứng với một luận điểm.
Kết luận: Khái quát lại những kết quả nghiên cứu chính, cảm ơn người nghe và tỏ thái độ sẵn sàng tiếp nhận ý kiến trao đổi.
Người nghe
Lắng nghe chăm chú, ghi ra giấy những ý chính và câu hỏi nảy sinh trong quá trình nghe. Hỗ trợ bạn trong việc sử dụng bản trình chiếu nếu có.
Trao đổi sau bài nói
Người nghe: Dựa vào những gì đã chuẩn bị và tiếp nhận được, nêu câu hỏi hoặc bổ sung ý kiến về nội dung báo cáo; nêu cách nhìn nhận, đánh giá khác nếu có; góp ý về cách trình bày.
Người nói: Trả lời câu hỏi, làm sáng tỏ thêm các vấn đề; tiếp thu ý kiến và phản biện nếu cần; nêu hướng hoàn thiện báo cáo.
V. Tiêu chí đánh giá bài nói
Bài nói được đánh giá dựa trên các tiêu chí sau:
Vấn đề nghiên cứu nêu trong báo cáo có ý nghĩa và gây hứng thú.
Báo cáo cung cấp thông tin rõ ràng về các thao tác nghiên cứu đã sử dụng.
Báo cáo thể hiện được sự phù hợp giữa kết quả đạt được với mục tiêu nghiên cứu.
Phong thái trình bày tự tin, chủ động.
Các phương tiện hỗ trợ được sử dụng hiệu quả.
Việc điều chỉnh cách trình bày nhằm thu hút sự chú ý của người nghe đã được quan tâm thích đáng.
VI. Bài nói mẫu
Dưới đây là bài nói mẫu trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề gợi ra từ tác phẩm văn học.
BÀI HỌC TRIẾT LÍ NHÂN SINH TRONG TRUYỆN NGỤ NGÔN VIỆT NAM QUA “CHÂN, TAY, TAI, MẮT, MIỆNG”
Mở đầu
Xin chào thầy cô và các bạn. Hôm nay, chúng tôi xin trình bày báo cáo nghiên cứu với đề tài: “Bài học triết lí nhân sinh trong truyện ngụ ngôn Việt Nam qua câu chuyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng.”
Lí do chúng tôi chọn đề tài này là vì trong quá trình học về thể loại truyện dân gian, chúng tôi nhận thấy truyện ngụ ngôn có cách thể hiện bài học rất đặc biệt – khác với tục ngữ hay truyện cười. Chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn: bài học triết lí được truyện ngụ ngôn truyền tải bằng cách nào, và điều gì khiến nó có sức sống lâu bền đến vậy?
Để thực hiện nghiên cứu, chúng tôi đã đọc lại văn bản truyện, tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu về truyện ngụ ngôn Việt Nam và phân tích các yếu tố nghệ thuật đặc trưng của thể loại.
Triển khai
Báo cáo của chúng tôi tập trung vào hai vấn đề chính:
Vấn đề thứ nhất: Bài học triết lí trong truyện “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” là gì?
Câu chuyện kể về năm bộ phận trên cơ thể người: Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai và lão Miệng. Bốn người đầu tiên cho rằng mình vất vả làm lụng trong khi lão Miệng chỉ ăn mà không làm, nên cùng nhau “đình công”, quyết không làm gì để nuôi lão Miệng nữa.
Kết quả là sau vài ngày, cả bọn đều mệt mỏi rã rời: cậu Chân, cậu Tay không muốn cất mình, cô Mắt lờ đờ, bác Tai ù ù như xay lúa. Bác Tai nhận ra sai lầm, giải thích với mọi người rằng nếu Miệng không được ăn thì không ai có sức mà hoạt động. Họ cùng đến xin lỗi Miệng, cho lão ăn, và tất cả đều hồi phục. Từ đó, họ “thân mật sống với nhau, mỗi người một việc, không ai tị ai.”
Bài học triết lí rút ra là: trong một tập thể, mỗi thành viên không thể sống tách biệt mà phải nương tựa, gắn bó, hợp tác và tôn trọng công sức của nhau. Sự ganh tị, so bì, chia rẽ chỉ dẫn đến hậu quả xấu cho tất cả.
Vấn đề thứ hai: Bài học triết lí được thể hiện bằng hình thức nghệ thuật nào?
Đây là điểm khiến ngụ ngôn khác biệt với tục ngữ. Tục ngữ nêu bài học trực tiếp bằng một câu ngắn gọn, còn ngụ ngôn thể hiện bài học gián tiếp qua cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ và nghệ thuật đặc trưng, để người đọc tự đúc kết.
Chúng tôi phân tích bốn phương diện:
Về nhân vật: Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng là những bộ phận cơ thể được nhân hóa, đồng thời liên hệ với kiểu người hay ganh tị, so bì, a dua theo người khác trong xã hội.
Về cốt truyện: Ngắn gọn nhưng hàm súc, mang tính ẩn dụ. Cuộc “đình công” của Chân, Tay, Tai, Mắt là ẩn dụ cho sự mất đoàn kết; hậu quả tất cả đều mệt mỏi là ẩn dụ cho thiệt hại khi tinh thần tập thể bị chia rẽ.
Về ngôn ngữ: Ngắn gọn, hàm súc, kết hợp lối cảm nghĩ hồn nhiên và cách nhìn nhận sâu sắc, khiến câu chuyện vừa gần gũi vừa đáng suy ngẫm.
Về phương pháp tỉ dụ: Đây là phương pháp nghệ thuật đặc trưng nhất của ngụ ngôn. Năm bộ phận cơ thể gắn kết không thể tách rời chính là hình ảnh tỉ dụ cho mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng – ai cũng có vai trò, thiếu ai cũng không được.
Kết luận
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy điều làm nên sự đặc sắc của truyện ngụ ngôn chính là tính triết lí được thể hiện bằng hình thức nghệ thuật độc đáo – gián tiếp, hàm súc, dùng tỉ dụ để người đọc tự rút ra bài học. Câu chuyện “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng bài học sâu sắc về tinh thần đoàn kết, về sự gắn bó giữa cá nhân và cộng đồng – bài học vẫn còn nguyên giá trị trong đời sống hiện đại.
Thu hoạch lớn nhất của chúng tôi sau quá trình nghiên cứu là hiểu rõ hơn cách nhận diện thể loại ngụ ngôn: không chỉ dừng ở nội dung bài học mà còn ở hình thức thể hiện bài học – chính hình thức ấy tạo nên bản sắc riêng của ngụ ngôn so với tục ngữ và truyện cười.
Chúng tôi xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe. Chúng tôi sẵn sàng tiếp nhận mọi ý kiến trao đổi và góp ý.

ThS. Nguyễn Thành Đạt
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT
Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện
