Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- I. Lý thuyết: Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống
- 1. Mục đích của bài nói
- 2. Các bước thực hiện bài nói
- 3. Dàn ý bài nói
- 4. Một số lưu ý khi trình bày
- 5. Phiếu đánh giá bài nói (tham khảo)
- II. Bài nói mẫu
- Bài mẫu 1: Phản đối ý kiến "Việc bảo vệ môi trường là của người trưởng thành, không phải của trẻ nhỏ"
- Bài mẫu 2: Phản đối ý kiến "Tinh thần đoàn kết của dân tộc chỉ cần khi có chiến tranh, còn trong thời bình thì không"
Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống là nội dung thuộc phần Nói và nghe trong chương trình Ngữ văn 7 (Kết nối tri thức với cuộc sống). Bài học giúp học sinh rèn luyện kỹ năng trình bày quan điểm cá nhân trước tập thể, biết dùng lí lẽ và bằng chứng để bảo vệ ý kiến, đồng thời biết lắng nghe và phản hồi tích cực. Bài viết dưới đây hướng dẫn chi tiết lý thuyết cách nói và cung cấp 2 bài nói mẫu để các em tham khảo.
I. Lý thuyết: Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống
1. Mục đích của bài nói
Trước một vấn đề đời sống được bàn luận, người nghe có thể tán thành hay phản bác. Mục đích của bài nói là trình bày để người nghe hiểu đúng bản chất, thấy được ý nghĩa của vấn đề đối với đời sống, từ đó lựa chọn thái độ, cách ứng xử phù hợp.
Thói quen trao đổi, thảo luận về các vấn đề đời sống là rất cần thiết. Được tán thành, người nói sẽ tự tin hơn. Gặp sự phản bác, người nói cần kiểm tra lại ý kiến, biết điều chỉnh nếu thấy chưa đúng và biết cách bảo vệ nếu thấy xác đáng.
2. Các bước thực hiện bài nói
Bước 1: Trước khi nói
a) Chuẩn bị nội dung nói:
- Nội dung nói có thể dựa vào bài viết nghị luận đã làm, tóm lược thành dàn ý ngắn gọn.
- Nắm vững vấn đề đời sống cần bàn luận và nội dung trình bày.
- Ghi nhanh một số lí lẽ, bằng chứng cần sử dụng.
- Dự kiến các tình huống người nghe có thể phản bác để có phương án tiếp thu và bảo vệ ý kiến.
b) Tập luyện:
Hình thức tập luyện theo nhóm là thích hợp nhất. Cả nhóm đưa ra một số vấn đề đời sống cần bàn, thay nhau thể hiện các vai người nói và người nghe, phản bác và bảo vệ, rút kinh nghiệm về kết quả thể hiện.
Bước 2: Trình bày bài nói
Đối với người nói:
- Nêu vấn đề, nói rõ tầm quan trọng của vấn đề trong đời sống.
- Trình bày các khía cạnh để làm rõ thực chất vấn đề.
- Nêu ý kiến của bản thân (dùng lí lẽ và bằng chứng để thuyết phục người nghe).
- Khi bị phản bác: tóm tắt ý kiến trao đổi, giải thích lại những chỗ người nghe chưa hiểu, dùng lí lẽ và bằng chứng làm rõ tính đúng đắn của ý kiến. Sẵn sàng trao đổi tiếp nếu người nghe còn thắc mắc.
Đối với người nghe:
- Tập trung lắng nghe, ghi chép các ý cơ bản, đối chiếu với sự chuẩn bị của mình.
- Ghi nhanh ý kiến trao đổi.
- Nêu ý kiến ngắn gọn, rõ ràng, bằng câu khẳng định hoặc câu hỏi.
- Theo dõi phản hồi của người nói, trao đổi lại nếu chưa thỏa đáng, đồng tình nếu ý kiến bảo vệ có sức thuyết phục.
Bước 3: Sau khi nói
Người nói và người nghe cùng trao đổi, đánh giá và rút kinh nghiệm về các mặt: vấn đề có thiết thực không? Cách trình bày và bảo vệ ý kiến đạt ở mức nào? Cách phản bác của người nghe có tác dụng tích cực không?
3. Dàn ý bài nói
Mở đầu:
- Chào hỏi người nghe.
- Giới thiệu vấn đề đời sống cần bàn luận.
- Nêu rõ ý kiến tán thành hoặc phản đối.
Nội dung chính:
- Trình bày thực chất của vấn đề, quan niệm cần bàn luận.
- Lần lượt nêu các lí lẽ và bằng chứng để bảo vệ ý kiến (mỗi lí lẽ nên đi kèm bằng chứng cụ thể).
- Nhận xét tác động tích cực hoặc tiêu cực của vấn đề đối với đời sống.
Kết thúc:
- Khẳng định lại ý kiến.
- Nêu ý nghĩa của việc bàn luận vấn đề.
- Cảm ơn người nghe.
4. Một số lưu ý khi trình bày
- Giọng nói: to, rõ, mạch lạc, thể hiện cảm xúc phù hợp với nội dung vấn đề.
- Tác phong: tự tin, nhìn vào người nghe khi nói, sử dụng nét mặt, cử chỉ hợp lý.
- Cách nói: tự nhiên, gần gũi, chia sẻ chứ không đọc thuộc lòng.
- Có thể sử dụng phương tiện hỗ trợ như tranh ảnh, video nếu cần.
- Khi bị phản bác, giữ thái độ bình tĩnh, lịch sự, dùng lí lẽ để trao đổi, không nóng giận hay tranh cãi.
5. Phiếu đánh giá bài nói (tham khảo)
| Nội dung kiểm tra | Đạt / Chưa đạt |
|---|---|
| Bài nói có đầy đủ mở bài, thân bài, kết bài | |
| Vấn đề được chọn có tính hấp dẫn, thiết thực | |
| Lí lẽ, bằng chứng rõ ràng, mạch lạc | |
| Các lí lẽ, bằng chứng được sắp xếp hợp lý | |
| Giọng to, rõ, mạch lạc, thể hiện cảm xúc phù hợp | |
| Người nói tự tin, nhìn vào người nghe, cử chỉ hợp lý | |
| Sử dụng phương tiện hỗ trợ phù hợp (nếu có) |
II. Bài nói mẫu
Bài mẫu 1: Phản đối ý kiến “Việc bảo vệ môi trường là của người trưởng thành, không phải của trẻ nhỏ”
Xin chào thầy/cô và các bạn!
Hôm nay, em xin trình bày ý kiến của mình về quan niệm: “Việc bảo vệ môi trường thiên nhiên là của người trưởng thành, không phải của trẻ nhỏ.” Em cho rằng quan niệm này hoàn toàn không đúng và cần được phản đối.
Trước hết, em muốn nói rằng môi trường là ngôi nhà chung của tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác. Trẻ em cũng hít thở bầu không khí, uống nước sạch, sống giữa thiên nhiên hằng ngày. Vì vậy, bảo vệ môi trường cũng chính là bảo vệ cuộc sống của chính mình – và đó là trách nhiệm của mọi người, kể cả trẻ nhỏ.
Thứ hai, có rất nhiều việc bảo vệ môi trường mà trẻ em hoàn toàn có thể làm được. Chẳng hạn: không vứt rác bừa bãi, tiết kiệm nước và điện, trồng cây xanh trong sân trường, phân loại rác tại nhà, hạn chế sử dụng túi ni-lông. Đây đều là những việc nhỏ nhưng nếu hàng triệu trẻ em cùng thực hiện thì tác động sẽ rất lớn. Em nhớ có đọc được câu chuyện về cô bé Greta Thunberg ở Thụy Điển – khi mới 15 tuổi, cô đã khởi xướng phong trào bảo vệ môi trường lan rộng khắp thế giới. Điều đó chứng minh rằng tuổi nhỏ không hề là rào cản.
Thứ ba, nếu chờ đến khi trưởng thành mới bắt đầu quan tâm đến môi trường thì đã quá muộn. Thói quen bảo vệ môi trường cần được hình thành từ nhỏ. Một đứa trẻ biết yêu thiên nhiên, biết giữ gìn môi trường sống từ bé thì lớn lên sẽ trở thành người có ý thức và trách nhiệm hơn với cộng đồng.
Quan niệm “bảo vệ môi trường là việc của người lớn” có thể khiến trẻ em thờ ơ, vô trách nhiệm với thiên nhiên. Đó là điều rất đáng lo ngại bởi thế hệ trẻ chính là những người sẽ thừa hưởng và gánh chịu hậu quả từ môi trường trong tương lai.
Tóm lại, em phản đối quan niệm trên. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của tất cả mọi người, kể cả trẻ nhỏ. Như lời Bác Hồ đã dạy: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình.” Mỗi hành động nhỏ của chúng ta hôm nay sẽ góp phần tạo nên một Trái Đất xanh hơn cho ngày mai.
Em xin cảm ơn thầy/cô và các bạn đã lắng nghe!
Bài mẫu 2: Phản đối ý kiến “Tinh thần đoàn kết của dân tộc chỉ cần khi có chiến tranh, còn trong thời bình thì không”
Xin chào thầy/cô và các bạn!
Vấn đề em muốn trình bày hôm nay là quan niệm: “Tinh thần đoàn kết của dân tộc chỉ cần khi có chiến tranh, còn trong thời bình thì không.” Em xin bày tỏ sự phản đối hoàn toàn với ý kiến này.
Đúng là trong chiến tranh, tinh thần đoàn kết đã giúp dân tộc ta vượt qua bao kẻ thù xâm lược hùng mạnh. Quân dân một lòng, cả nước chung sức chính là sức mạnh to lớn nhất. Nhưng nói rằng thời bình không cần đoàn kết là hoàn toàn sai lầm.
Thứ nhất, trong thời bình, chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức không kém phần khó khăn: xây dựng kinh tế, phát triển đất nước, xóa đói giảm nghèo, ứng phó với thiên tai, dịch bệnh… Tất cả những việc này đều cần sự chung tay, góp sức của mọi người. Một mình không ai có thể làm được. Ví dụ, trong đại dịch Covid-19 vừa qua, nếu không có tinh thần đoàn kết – người dân tuân thủ giãn cách, các y bác sĩ xung phong tuyến đầu, cộng đồng quyên góp hỗ trợ nhau – thì hậu quả sẽ nặng nề hơn rất nhiều.
Thứ hai, trong lao động và học tập hằng ngày, tinh thần đoàn kết cũng vô cùng quan trọng. Ở trường, một lớp học đoàn kết sẽ có môi trường học tập tốt, các bạn hỗ trợ nhau cùng tiến bộ. Trong công việc, một tập thể gắn kết sẽ đạt hiệu quả cao hơn nhiều so với mỗi người làm riêng lẻ. Câu tục ngữ “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” đã nói lên chân lý đó.
Thứ ba, nếu thời bình mà thiếu đoàn kết thì rất dễ dẫn đến chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ. Kẻ thù bên ngoài luôn tìm cách lợi dụng sự chia rẽ để phá hoại. Bác Hồ đã từng căn dặn: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.” Lời dạy ấy không chỉ đúng trong thời chiến mà còn đúng trong mọi thời đại.
Quan niệm cho rằng thời bình không cần đoàn kết là rất nguy hiểm. Nó có thể khiến mọi người thờ ơ, ích kỷ, chỉ lo cho bản thân mà quên đi trách nhiệm với cộng đồng. Về lâu dài, điều đó sẽ làm suy yếu sức mạnh dân tộc.
Tóm lại, tinh thần đoàn kết luôn cần thiết trong mọi hoàn cảnh – cả thời chiến lẫn thời bình. Em mong rằng mỗi chúng ta đều ý thức được điều đó để cùng nhau xây dựng một đất nước ngày càng vững mạnh.
Em xin cảm ơn thầy/cô và các bạn!

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
