Mục lục [Ẩn]
Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
1. Liên Xô từ năm 1945 đến năm 1991
a) Chính trị
- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô tiến hành bầu cử Xô viết các cấp, thực hiện dân chủ hoá hệ thống chính trị bằng cách khôi phục đại hội các tổ chức chính trị – xã hội từ năm 1949.
- Liên Xô chủ trương duy trì hoà bình và an ninh thế giới, giúp đỡ to lớn về vật chất và tinh thần cho các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới.
Khủng hoảng và tan rã:
- Tới đầu những năm 80 của thế kỉ XX, Liên Xô lâm vào khủng hoảng chính trị.
- Tháng 3 – 1985, M. Goóc-ba-chốp được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô và tiến hành công cuộc cải tổ. Cải tổ chính trị với khẩu hiệu “dân chủ hoá”, “công khai hoá” đã xác lập chế độ đa nguyên, đa đảng và hệ thống chính quyền tổng thống.
- Tháng 3 – 1990, M. Goóc-ba-chốp được bầu làm Tổng thống.
- Ngày 19 – 8 – 1991, một số lãnh đạo Đảng và Nhà nước tiến hành cuộc đảo chính lật đổ M. Goóc-ba-chốp nhưng không thành công.
- Hệ quả: mâu thuẫn chính trị gia tăng, Đảng Cộng sản bị đình chỉ hoạt động, chính quyền Liên bang bị tê liệt, các nước cộng hoà tuyên bố độc lập, tách khỏi Liên bang → ngày 25 – 12 – 1991, M. Goóc-ba-chốp từ chức Tổng thống, đánh dấu sự tan rã của Liên bang Xô viết.

b) Kinh tế
Giai đoạn phát triển:
- Năm 1946, Liên Xô bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, đến năm 1950 đã phục hồi được mức trước chiến tranh.
- Thực hiện kế hoạch 5 năm (1946 – 1950), công nghiệp tăng 73% so với trước chiến tranh, hơn 6 000 nhà máy được khôi phục và xây dựng mới.
- Với các kế hoạch tiếp theo (1951 – 1955, 1956 – 1960, kế hoạch 7 năm 1959 – 1965), sản lượng công nghiệp chiếm khoảng 20% sản lượng công nghiệp thế giới; sản xuất nông nghiệp những năm 60 tăng trung bình 16%/năm.
- Đến những năm 60, Liên Xô trở thành cường quốc công nghiệp thứ hai thế giới (sau Mỹ).
- Là nước đầu tiên trên thế giới phóng thành công vệ tinh nhân tạo (1957), phóng tàu vũ trụ có người lái vào quỹ đạo Trái Đất (1961), mở đầu kỉ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người.
Giai đoạn trì trệ, khủng hoảng:
- Từ giữa những năm 70, nền kinh tế có dấu hiệu trì trệ.
- Công cuộc cải tổ kinh tế thực hiện từ năm 1985 nhưng thiếu đồng bộ và hiệu quả → dẫn đến khủng hoảng kinh tế trầm trọng trong những năm 1989 – 1991 với sự khan hiếm lương thực, thực phẩm và hàng hoá tiêu dùng thiết yếu.


c) Xã hội và văn hoá
Xã hội:
- Cơ cấu xã hội có biến đổi tích cực, thành phần công nhân và trí thức gia tăng. Năm 1971, công nhân chiếm hơn 55% lực lượng lao động cả nước và có trên 30 triệu người làm việc trí óc.
- Từ cuối những năm 70, khó khăn kinh tế làm đời sống nhân dân suy giảm, niềm tin vào chủ nghĩa xã hội lung lay, bất bình gia tăng. Cùng với sự kích động của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, nhiều cuộc biểu tình, bãi công đã nổ ra từ năm 1989.
Văn hoá:
- Sau năm 1945, văn hoá Liên Xô phát triển, thực hiện chế độ giáo dục miễn phí – thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội; thúc đẩy giao lưu văn hoá giữa các dân tộc trong nước và với các quốc gia trên thế giới.
- Khi công cuộc cải tổ được thực hiện, đời sống văn hoá trở nên “cởi mở” với tinh thần “dân chủ” và “công khai”, kích thích sự sáng tạo. Tuy nhiên, sự buông lỏng quản lí văn hoá của Nhà nước đã dẫn đến chủ nghĩa đa nguyên và tư tưởng chống chủ nghĩa xã hội trong nước gia tăng.

2. Các nước Đông Âu từ năm 1945 đến năm 1991
a) Chính trị
- Từ năm 1944 đến năm 1946, được sự giúp đỡ của Hồng quân Liên Xô, nhân dân các nước Đông Âu dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản đã thành lập các nhà nước dân chủ nhân dân. Riêng ở Đông Đức, Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Đức ra đời năm 1949. Sau đó, các nước Đông Âu tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Đến đầu những năm 80, tình hình chính trị diễn biến hết sức phức tạp: sự yếu kém, hạn chế của bộ máy nhà nước bộc lộ ngày càng rõ, tạo cơ hội cho các lực lượng đối lập câu kết với nhau, kích động nhân dân đòi đa nguyên, đa đảng và tổng tuyển cử tự do.
- Trước sức ép trong nước, cùng chính sách không “can thiệp” của Liên Xô, từ năm 1989, ban lãnh đạo các nước Đông Âu phải thực hiện đa nguyên chính trị và tổ chức tổng tuyển cử tự do. → Kết quả: các thế lực chống chủ nghĩa xã hội đã thắng cử, giành quyền lãnh đạo đất nước → chế độ xã hội chủ nghĩa bị xoá bỏ ở các nước Đông Âu.

b) Kinh tế
Giai đoạn phát triển:
- Sau khi thành lập nhà nước dân chủ nhân dân, các nước Đông Âu thực hiện cải cách ruộng đất, quốc hữu hoá các xí nghiệp lớn của tư bản và tiến hành công nghiệp hoá nhằm xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội; hợp tác kinh tế trong Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV).
- Từ những nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, đến đầu những năm 70 của thế kỉ XX, các nước Đông Âu đã trở thành những nước công nghiệp hoặc công – nông nghiệp.
Giai đoạn suy giảm, khủng hoảng:
- Từ giữa những năm 70, nền kinh tế bắt đầu suy giảm. Hầu hết các nước đều tiến hành cải cách nhưng không cải thiện được tình hình.
- Từ năm 1988, tất cả các nước Đông Âu lâm vào khủng hoảng kinh tế, thu nhập quốc dân giảm sút nghiêm trọng, nợ nước ngoài tăng lên.
- Đến năm 1991, Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) bị giải thể.
c) Xã hội và văn hoá
Xã hội:
- Sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân ra đời, giai cấp bóc lột bị xoá bỏ, công nhân, nông dân và trí thức trở thành những người làm chủ đất nước. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao.
- Từ cuối những năm 70, khủng hoảng kinh tế làm đời sống nhân dân khó khăn, niềm tin vào chủ nghĩa xã hội giảm sút, bất bình gia tăng → các cuộc bãi công, biểu tình của công nhân xuất hiện ở nhiều nước Đông Âu.
Văn hoá:
- Văn hoá các nước Đông Âu có bước phát triển vượt bậc. Nạn mù chữ được xoá bỏ với chính sách giáo dục bắt buộc và miễn phí.
- Từ nửa sau những năm 80 đến năm 1991, xuất hiện nhiều ấn phẩm văn hoá có nội dung chống chủ nghĩa xã hội, tuyên truyền chế độ đa nguyên.

Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng
| Mốc thời gian | Sự kiện |
|---|---|
| 1944 – 1946 | Các nước Đông Âu thành lập các nhà nước dân chủ nhân dân (nhờ Hồng quân Liên Xô) |
| Năm 1946 | Liên Xô bắt đầu khôi phục kinh tế (kế hoạch 5 năm 1946 – 1950) |
| Năm 1949 | Khôi phục đại hội các tổ chức chính trị – xã hội ở Liên Xô; Cộng hoà Dân chủ Đức ra đời |
| Năm 1950 | Kinh tế Liên Xô phục hồi mức trước chiến tranh |
| Năm 1957 | Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo (đầu tiên thế giới) |
| Năm 1961 | Liên Xô phóng tàu vũ trụ có người lái (mở đầu kỉ nguyên chinh phục vũ trụ) |
| Những năm 60 | Liên Xô trở thành cường quốc công nghiệp thứ hai thế giới (sau Mỹ) |
| Đầu những năm 70 | Đông Âu trở thành nước công nghiệp hoặc công – nông nghiệp |
| Giữa những năm 70 | Kinh tế Liên Xô và Đông Âu bắt đầu trì trệ, suy giảm |
| Tháng 8 – 1980 | Bãi công của công nhân Ba Lan |
| Tháng 3 – 1985 | M. Goóc-ba-chốp làm Tổng Bí thư → tiến hành cải tổ |
| Năm 1988 | Tất cả các nước Đông Âu lâm vào khủng hoảng kinh tế |
| Từ năm 1989 | Đông Âu thực hiện đa nguyên chính trị, tổng tuyển cử tự do → CNXH bị xoá bỏ |
| Tháng 3 – 1990 | M. Goóc-ba-chốp được bầu làm Tổng thống Liên Xô |
| Ngày 19 – 8 – 1991 | Cuộc đảo chính lật đổ M. Goóc-ba-chốp không thành công |
| Năm 1991 | Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) bị giải thể |
| Ngày 25 – 12 – 1991 | M. Goóc-ba-chốp từ chức → Liên bang Xô viết tan rã |
Bảng ôn tập các đặc điểm và sự kiện quan trọng
| Nội dung | Đặc điểm / Sự kiện cần nhớ |
|---|---|
| Chủ trương đối ngoại của Liên Xô | Duy trì hoà bình, giúp đỡ các nước XHCN và phong trào giải phóng dân tộc |
| Người tiến hành cải tổ | M. Goóc-ba-chốp (Tổng Bí thư từ 3 – 1985) |
| Khẩu hiệu cải tổ chính trị | “Dân chủ hoá”, “công khai hoá” → đa nguyên, đa đảng |
| Mốc Liên Xô tan rã | Ngày 25 – 12 – 1991 |
| Thành tựu kinh tế nổi bật của Liên Xô | Cường quốc công nghiệp thứ hai thế giới (sau Mỹ) |
| Thành tựu vũ trụ của Liên Xô | Vệ tinh nhân tạo (1957), tàu vũ trụ có người lái (1961) |
| Thời điểm khủng hoảng kinh tế Liên Xô | 1989 – 1991 |
| Thành tựu xã hội của Liên Xô | Công nhân, trí thức gia tăng; giáo dục miễn phí |
| Sự ra đời nhà nước Đông Âu | 1944 – 1946 (nhờ Hồng quân Liên Xô) |
| Nhà nước ra đời năm 1949 ở Đông Đức | Cộng hoà Dân chủ Đức |
| Tổ chức hợp tác kinh tế Đông Âu | Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) – giải thể 1991 |
| Mốc khủng hoảng kinh tế Đông Âu | Từ năm 1988 |
| Kết quả chính trị ở Đông Âu (từ 1989) | Thế lực chống CNXH thắng cử → xoá bỏ chế độ XHCN |
| Nguyên nhân sụp đổ (chung) | Khủng hoảng kinh tế kéo dài, cải tổ/cải cách thiếu hiệu quả, mất niềm tin, thế lực thù địch kích động |
Sơ đồ tóm tắt bài
Liên Xô và Đông Âu từ năm 1945 đến năm 1991
I. Liên Xô (1945 – 1991)
- Chính trị: dân chủ hoá, giúp đỡ các nước XHCN → đầu những năm 80 khủng hoảng → Goóc-ba-chốp cải tổ (1985) → đảo chính thất bại (19 – 8 – 1991) → tan rã (25 – 12 – 1991)
- Kinh tế: khôi phục (1946 – 1950) → cường quốc công nghiệp thứ hai thế giới; thành tựu vũ trụ (1957, 1961) → giữa những năm 70 trì trệ → khủng hoảng 1989 – 1991
- Xã hội – văn hoá: công nhân, trí thức tăng; giáo dục miễn phí → cuối những năm 70 niềm tin lung lay; cải tổ buông lỏng quản lí → tư tưởng chống CNXH gia tăng
II. Các nước Đông Âu (1945 – 1991)
- Chính trị: 1944 – 1946 lập nhà nước dân chủ nhân dân (CHDC Đức 1949) → đầu những năm 80 phức tạp → từ 1989 đa nguyên, tổng tuyển cử → CNXH bị xoá bỏ
- Kinh tế: cải cách ruộng đất, công nghiệp hoá, hợp tác trong SEV → đầu những năm 70 thành nước công nghiệp/công – nông → giữa những năm 70 suy giảm → 1988 khủng hoảng → SEV giải thể (1991)
- Xã hội – văn hoá: xoá giai cấp bóc lột, nhân dân làm chủ; giáo dục bắt buộc, miễn phí → cuối những năm 70 bãi công, biểu tình; nửa sau những năm 80 ấn phẩm chống CNXH
→ Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu: do khủng hoảng kinh tế kéo dài, cải tổ/cải cách thiếu đồng bộ và hiệu quả, niềm tin giảm sút, các thế lực thù địch trong và ngoài nước kích động.

Thầy Võ Thành Luận
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử & Địa Lí THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Sử-Địa, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ A2
Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại THCS Lê Thánh Tôn
