Lý thuyết Lịch sử 9 Bài 14: Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược giai đoạn 1946 – 1950

1. Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược bùng nổ

a) Nguyên nhân bùng nổ

  • Những hiệp định, tạm ước đã kí kết trong năm 1946 là nỗ lực “cứu vãn nền hoà bình” của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đồng thời kéo dài thời gian hoà hoãn để xây dựng lực lượng cho cuộc kháng chiến.
  • Tuy nhiên, thực dân Pháp đã bội ước, liên tiếp có những hành động gây hấn, khiêu khích và vi phạm các văn bản kí kết:
    • Quân Pháp chiếm đóng trái phép Sở Tài chính, Phủ Toàn quyền cũ ở Hà Nội (25 – 6 – 1946), thực hiện kế hoạch lật đổ Chính phủ ta, lập “Chính phủ Nam Kì tự trị”.
    • Tháng 11 – 1946, quân Pháp đánh chiếm nhiều nơi ở Hải Phòng, Lạng Sơn, Đà Nẵng,…
    • Ngày 17 – 12 – 1946, quân Pháp gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún và phố Yên Ninh (thành phố Hà Nội).
    • Sau đó, chúng liên tiếp gửi tối hậu thư đòi Chính phủ ta giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, để quân Pháp giữ gìn trị an và kiểm soát Thủ đô.
  • Trước tình thế cấp bách, ngày 18 và 19 – 12 – 1946, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp và quyết định phát động cuộc kháng chiến trên toàn quốc.
  • Tối 19 – 12 – 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến → nhân dân cả nước đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp.
Nhân dân Hà Nội nghe lệnh toàn quốc kháng chiến
Nhân dân Hà Nội nghe lệnh toàn quốc kháng chiến

b) Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp

Đường lối được thể hiện trong ba văn kiện:

  • Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (12 – 12 – 1946).
  • Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19 – 12 – 1946).
  • Tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng Bí thư Trường Chinh (9 – 1947).

Nội dung cơ bản (kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh):

  • Toàn dân: cuộc kháng chiến do toàn dân tiến hành, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, đảng phái.
  • Toàn diện: cuộc kháng chiến diễn ra trên tất cả các mặt trận như quân sự, chính trị, kinh tế,…
  • Trường kì: cuộc kháng chiến phải tiến hành lâu dài do so sánh lực lượng lúc đầu giữa ta và địch chênh lệch.
  • Tự lực cánh sinh và tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế: vận mệnh dân tộc phải do chính nhân dân Việt Nam quyết định, sự giúp đỡ bên ngoài chỉ là điều kiện hỗ trợ.

2. Một số thắng lợi tiêu biểu trong kháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn 1946 – 1950

a) Chính trị, ngoại giao

  • Sau khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, việc di chuyển kịp thời và an toàn các cơ quan Đảng, Chính phủ, Mặt trận,… lên căn cứ địa Việt Bắc là thắng lợi quan trọng để xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
  • Chính quyền dân chủ nhân dân từ trung ương đến cơ sở được kiện toàn và củng cố để thực hiện nhiệm vụ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.
  • Đầu năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ tuyên bố sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với các nước. Ngay sau đó, Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác như Tiệp Khắc, Ru-ma-ni, Ba Lan,… đã lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

b) Kinh tế

  • Nền kinh tế kháng chiến được xây dựng để đảm bảo khả năng tự cấp, tự túc.
  • Đẩy mạnh các hoạt động tăng gia sản xuất, trước hết là sản xuất nông nghiệp.
  • Về công nghiệp: một số xí nghiệp quốc phòng và dân dụng có quy mô thích hợp được xây dựng ở các vùng tự do, căn cứ kháng chiến; các ngành khai khoáng, cơ khí, hoá chất, diêm, giấy,… từng bước đi vào hoạt động.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nông dân Bắc Kạn (nay thuộc tỉnh Thái Nguyên) thu hoạch lúa mùa (1950)
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nông dân Bắc Kạn (nay thuộc tỉnh Thái Nguyên) thu hoạch lúa mùa (1950)

c) Văn hoá, giáo dục

  • Văn hoá, giáo dục được chú trọng nhằm bồi dưỡng sức mạnh tinh thần và trí tuệ của nhân dân để vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.
  • Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ hai (1948) nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hoá phục vụ cuộc kháng chiến.
  • Phong trào Bình dân học vụ tiếp tục được đẩy mạnh → đến tháng 6 – 1950, khoảng 10 triệu người đã được xoá nạn mù chữ.
  • Cũng trong năm 1950, cuộc Cải cách giáo dục phổ thông lần thứ nhất được triển khai, với mục tiêu đưa giáo dục phục vụ tích cực kháng chiến, xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân chủ.

d) Quân sự

Cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16 (1946 – 1947):

  • Mục tiêu: làm thất bại kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp.
  • Quân dân Hà Nội và các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16 đã chủ động tiến công quân Pháp, tổ chức các trận đánh làm tiêu hao một bộ phận sinh lực địch:
    • Ở Hà Nội: các trận đánh ác liệt diễn ra ở khu vực Bắc Bộ Phủ, Bưu điện Bờ Hồ, ga Hàng Cỏ, phố Khâm Thiên,…
    • Ở thành phố Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình): thực dân Pháp bị vây hãm tới tháng 3 – 1947.
    • Quân dân thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An) đã buộc địch phải đầu hàng.
  • Kết quả: cuộc chiến đấu đã giam chân quân địch ở Hà Nội và các thành phố, thị xã phía Bắc vĩ tuyến 16. Sau gần ba tháng, lực lượng quân chủ lực của ta đã rút lui an toàn ra vùng hậu phương để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kì.
Chiến sĩ cảm tử quân ôm bom ba càng đánh xe tăng Pháp ở Hà Nội
Chiến sĩ cảm tử quân ôm bom ba càng đánh xe tăng Pháp ở Hà Nội

Chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947 (từ tháng 10 đến tháng 12 – 1947):

  • Âm mưu của Pháp: đầu năm 1947, thực dân Pháp âm mưu tiến công Việt Bắc nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và quân chủ lực của Việt Nam, khoá chặt biên giới Việt – Trung, nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
  • Tháng 10 – 1947, Pháp huy động khoảng 12 000 quân và hầu hết máy bay ở Đông Dương tiến công lên Việt Bắc.
  • Đảng chỉ thị: “Phải phá tan cuộc tiến công mùa đông của giặc Pháp”.
    • Hướng đông: quân ta phục kích, chặn đánh địch trên Đường số 4, giành thắng lợi lớn ở Bản Sao (tỉnh Lạng Sơn) – đèo Bông Lau (tỉnh Cao Bằng).
    • Hướng tây: quân ta phục kích, chặn đánh nhiều trận trên sông Lô, giành thắng lợi quan trọng ở Đoan Hùng (tỉnh Phú Thọ), Khe Lau (tỉnh Tuyên Quang),…
  • Kết quả – ý nghĩa: sau hơn hai tháng, đại bộ phận quân Pháp phải rút chạy khỏi Việt Bắc, cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến được bảo vệ an toàn. Đây là chiến dịch phản công lớn đầu tiên, giúp bộ đội chủ lực trưởng thành và thu được nhiều vũ khí; làm thất bại hoàn toàn chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp.
Lược đồ chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947
Lược đồ chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947

Chiến dịch Biên giới thu – đông 1950 (từ tháng 9 đến tháng 10 – 1950):

  • Hoàn cảnh: bước sang năm 1950, tình hình thế giới có nhiều thay đổi — những thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, sự ra đời của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tạo chỗ dựa vững chắc cho phong trào giải phóng dân tộc; trong khi đó, Mỹ từng bước can thiệp sâu hơn vào tình hình Đông Dương.
  • Với viện trợ của Mỹ, thực dân Pháp thực hiện Kế hoạch Rơ-ve: tăng cường hệ thống phòng thủ trên Đường số 4, lập hành lang Đông – Tây và chuẩn bị tiến công Việt Bắc lần thứ hai.
  • Tháng 6 – 1950, Đảng và Chính phủ quyết định mở chiến dịch Biên giới nhằm: tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, mở đường liên lạc quốc tế với các nước xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến.
  • Diễn biến chính:
    • Giữa tháng 9, quân ta mở màn chiến dịch bằng trận tiến công vào cứ điểm Đông Khê (tỉnh Cao Bằng) → giành thắng lợi, cô lập thị xã Cao Bằng, uy hiếp cứ điểm Thất Khê (tỉnh Lạng Sơn) và phá thế trận phòng thủ của Pháp trên Đường số 4.
    • Pháp điều quân tiếp viện để chiếm lại Đông Khê và đón binh đoàn từ Cao Bằng rút về → quân ta mai phục, chặn đánh trên Đường số 4 khiến hai cánh quân địch bị thiệt hại nặng nề và không thể liên lạc được với nhau.
    • Kết quả: sau gần một tháng, quân Pháp buộc phải rút khỏi các cứ điểm trên Đường số 4 như: Cao Bằng, Thất Khê, Na Sầm, Lạng Sơn,…
  • Ý nghĩa: đây là chiến dịch chủ động tiến công lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực Việt Nam, giải phóng vùng biên giới rộng lớn, mở đường liên lạc quốc tế, bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc, chọc thủng hành lang Đông – Tây, làm phá sản Kế hoạch Rơ-ve. Từ đây, quân đội Việt Nam giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến.
Bác Hồ nói chuyện cùng chiến sĩ trong chiến dịch Biên giới (1950)
Bác Hồ nói chuyện cùng chiến sĩ trong chiến dịch Biên giới (1950)
Lược đồ chiến dịch Biên giới thu – đông 1950
Lược đồ chiến dịch Biên giới thu – đông 1950

Bảng ôn tập các cột mốc sự kiện quan trọng

Mốc thời gian Sự kiện
25 – 6 – 1946 Quân Pháp chiếm đóng trái phép Sở Tài chính, Phủ Toàn quyền cũ ở Hà Nội
Tháng 11 – 1946 Pháp đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, Đà Nẵng
12 – 12 – 1946 Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến
17 – 12 – 1946 Pháp gây vụ thảm sát ở phố Hàng Bún và phố Yên Ninh (Hà Nội)
18 – 19 – 12 – 1946 Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định phát động kháng chiến toàn quốc
Tối 19 – 12 – 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
1946 – 1947 Cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16
Tháng 3 – 1947 Pháp bị vây hãm ở thành phố Nam Định
Tháng 10 – 12 – 1947 Chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947 → phá sản chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”
9 – 1947 Tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi (Trường Chinh)
1948 Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ hai
Đầu năm 1950 Trung Quốc, Liên Xô,… công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam
Tháng 6 – 1950 Đảng và Chính phủ quyết định mở chiến dịch Biên giới; khoảng 10 triệu người được xoá mù chữ
Tháng 9 – 10 – 1950 Chiến dịch Biên giới thu – đông 1950 → giành thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ

Bảng ôn tập các đặc điểm và sự kiện quan trọng

Nội dung Đặc điểm / Sự kiện cần nhớ
Nguyên nhân bùng nổ kháng chiến Thực dân Pháp bội ước, gây hấn, gửi tối hậu thư
Ngày phát động kháng chiến toàn quốc 18 – 19 – 12 – 1946 (Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng)
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Tối 19 – 12 – 1946 (Chủ tịch Hồ Chí Minh)
Ba văn kiện thể hiện đường lối kháng chiến Chỉ thị Toàn dân kháng chiến; Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến; tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi
Nội dung đường lối kháng chiến Toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh (và tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế)
Thắng lợi ngoại giao đầu năm 1950 Trung Quốc, Liên Xô, Tiệp Khắc, Ru-ma-ni, Ba Lan,… đặt quan hệ ngoại giao
Kết quả xoá mù chữ (6 – 1950) Khoảng 10 triệu người
Mục tiêu chiến đấu ở đô thị Bắc vĩ tuyến 16 Làm thất bại kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh”
Ý nghĩa chiến dịch Việt Bắc 1947 Phản công lớn đầu tiên; phá sản hoàn toàn chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”
Số quân Pháp tiến công Việt Bắc Khoảng 12 000 quân
Kế hoạch của Pháp trước chiến dịch Biên giới Kế hoạch Rơ-ve (viện trợ của Mỹ)
Trận mở màn chiến dịch Biên giới Cứ điểm Đông Khê (tỉnh Cao Bằng)
Ý nghĩa chiến dịch Biên giới 1950 Chủ động tiến công lớn đầu tiên; ta giành thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ

Sơ đồ tóm tắt bài

Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược giai đoạn 1946 – 1950

I. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ

  • Nguyên nhân: Pháp bội ước, gây hấn (25 – 6 – 1946 chiếm Sở Tài chính, Phủ Toàn quyền; 11 – 1946 đánh Hải Phòng, Lạng Sơn, Đà Nẵng; 17 – 12 – 1946 thảm sát Hàng Bún – Yên Ninh; gửi tối hậu thư)
  • Phát động: 18 – 19 – 12 – 1946 Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng → tối 19 – 12 – 1946 Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
  • Đường lối: Toàn dân – Toàn diện – Trường kì – Tự lực cánh sinh (3 văn kiện: Chỉ thị Toàn dân kháng chiến, Lời kêu gọi, tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi)

II. Thắng lợi tiêu biểu (1946 – 1950)

  • Chính trị – ngoại giao: chuyển cơ quan lên Việt Bắc; vừa kháng chiến vừa kiến quốc; đầu 1950 Trung Quốc, Liên Xô,… đặt quan hệ ngoại giao
  • Kinh tế: tự cấp tự túc; đẩy mạnh tăng gia sản xuất; xây xí nghiệp quốc phòng, dân dụng
  • Văn hoá – giáo dục: Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần hai (1948); 6 – 1950 ~10 triệu người xoá mù chữ; Cải cách giáo dục phổ thông lần thứ nhất (1950)
  • Quân sự:
    • Đô thị Bắc vĩ tuyến 16 (1946 – 1947): giam chân địch ở Hà Nội, Nam Định, Vinh → làm thất bại “đánh nhanh, thắng nhanh”; chủ lực rút an toàn
    • Việt Bắc thu – đông 1947: phá tan cuộc tiến công (Đường số 4 – Bản Sao, đèo Bông Lau; sông Lô – Đoan Hùng, Khe Lau) → phản công lớn đầu tiên, phá sản chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”
    • Biên giới thu – đông 1950: phá Kế hoạch Rơ-ve; mở màn ở Đông Khê → giải phóng biên giới, mở đường liên lạc quốc tế → giành thế chủ động ở Bắc Bộ
Thầy Võ Thành Luận

Thầy Võ Thành Luận

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử & Địa Lí THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Sử-Địa, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ A2

Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại THCS Lê Thánh Tôn