Di truyền học người & di truyền y học
Phương pháp nghiên cứu phả hệ và nhiễm sắc thể, y học tư vấn, liệu pháp gene và phương pháp giải bài tập phả hệ – xác suất sinh con bị bệnh
| Khái niệm | Nội dung |
|---|---|
| Di truyền học người | Ngành khoa học nghiên cứu về sự di truyền và biến dị ở người |
| Di truyền y học | Một lĩnh vực của di truyền học người, nghiên cứu cơ chế phát sinh và di truyền của các bệnh, đề xuất biện pháp phòng tránh và chữa trị bệnh di truyền |
▸ Vai trò
• Cung cấp thông tin về cơ chế di truyền và biến dị ở người → nhiều ứng dụng thực tiễn (hiểu quan hệ kiểu gene – môi trường để phát triển tối đa thể chất, năng lực, tố chất bẩm sinh).
• Di truyền y học cho biết nguyên nhân phát sinh bệnh di truyền → đưa ra biện pháp tư vấn, phòng ngừa, chẩn đoán và chữa trị.
Phả hệ là sơ đồ dùng các kí hiệu hình học ghi lại sự di truyền của một (hoặc vài) tính trạng qua các thế hệ trong dòng họ — thực chất là sơ đồ "lai" tự nhiên ở người.
▸ Cách xây dựng phả hệ
▸ Ứng dụng
Theo dõi sự di truyền của một đặc điểm qua các thế hệ giúp biết đặc điểm đó di truyền theo kiểu trội hay lặn, do gene trên NST thường hay NST giới tính, do một hay nhiều gene quy định. Ví dụ: bệnh bạch tạng do gene lặn trên NST thường; bệnh mù màu, máu khó đông do gene lặn trên NST giới tính X.
Là phương pháp nghiên cứu các đặc điểm về số lượng, hình dạng, kích thước NST của bộ NST bình thường cũng như bất thường ở người.
▸ Cách tiến hành
▸ Ứng dụng
So sánh NST của người bệnh với người bình thường để xác định đột biến NST gây bệnh; phát hiện sớm bất thường ở thai nhi; phát hiện một số bệnh ung thư. Ví dụ: chuyển đoạn NST 8 ↔ 14 gây u lympho Burkitt; chuyển gần như toàn bộ vai dài NST 21 sang NST 14 gây hội chứng Down.
Y học tư vấn (di truyền học tư vấn) là lĩnh vực cung cấp thông tin cho bệnh nhân và những người có nguy cơ mắc/sinh con mắc bệnh di truyền về nguyên nhân, cơ chế, khả năng mắc bệnh, biện pháp hạn chế và phòng tránh bệnh cho đời con.
▸ Cơ sở khoa học
• Dựa trên quy luật di truyền và di truyền học quần thể → xác định xác suất sinh con mắc bệnh.
• Dựa trên xét nghiệm NST và sinh hóa từ dịch ối hoặc nhau thai → biết thai nhi có mang đột biến NST/bệnh di truyền hay không.
| Kĩ thuật chẩn đoán trước sinh | Thời điểm |
|---|---|
| Chọc dịch ối | Thai khoảng 16 tuần |
| Sinh thiết tế bào nhau thai | Thai 11–13 tuần |
Giúp chẩn đoán trước sinh các đột biến NST, bệnh rối loạn chuyển hóa bẩm sinh (hội chứng Down, dị tật ống thần kinh…). Các kĩ thuật phân tử giúp xác định gene gây bệnh và đưa ra phương pháp điều trị thích hợp.
▸ Thành tựu
Hiện mới được thử nghiệm để thay thế gene trong tế bào soma, chữa một số bệnh do một gene quy định. Ví dụ: năm 2007 dùng virus mang gene RPE65 bình thường chữa cho 4 bệnh nhân mù do đột biến gene hiếm; năm 2018 dùng hệ thống CRISPR–Cas9 chỉnh sửa gene gây bệnh hồng cầu hình liềm.
▸ Ứng dụng & hạn chế
• Chủ yếu hướng đến chữa bệnh di truyền do một gene quy định; gene đưa vào phải duy trì và hoạt động suốt đời.
• Tế bào chuyển gene phải phân chia suốt đời → tế bào gốc tủy xương thích hợp để chữa các bệnh về tế bào máu, thiếu hụt miễn dịch.
• Hạn chế: mới ở giai đoạn thử nghiệm; còn vấn đề kĩ thuật (gene hoạt động đúng thời điểm, đúng vị trí, không ảnh hưởng gene khác) và đạo đức sinh học.
▸ Xác định gene trội hay lặn
• Bố mẹ bình thường sinh con bị bệnh → bệnh do gene lặn (bố mẹ là thể dị hợp mang gene).
• Bố mẹ bị bệnh sinh con bình thường → bệnh do gene trội.
▸ Xác định gene trên NST thường hay NST X
• Biểu hiện đều ở hai giới, hoặc mẹ bị bệnh (lặn) mà con trai bình thường → gene trên NST thường.
• Bệnh lặn biểu hiện chủ yếu ở nam, có di truyền chéo, lai thuận khác lai nghịch → gene trên NST X.
• Chỉ ở nam, truyền thẳng bố → con trai → gene trên NST Y.
$\dfrac{1}{3}AA : \dfrac{2}{3}Aa$ → xác suất mang gene bệnh $= \dfrac{2}{3}$
▸ Tính xác suất sinh con bị bệnh
Xác định kiểu gene chắc chắn của người đã biết kiểu hình → suy ra kiểu gene (kèm xác suất) của bố mẹ → dùng quy tắc nhân xác suất. Nếu đề hỏi "sinh con trai/con gái bị bệnh" thì nhân thêm $\dfrac{1}{2}$ (xác suất giới tính).
| Sai lầm | Đính chính |
|---|---|
| Cứ bố mẹ bình thường sinh con bệnh là gene trên NST X | Bố mẹ bình thường sinh con gái bệnh → gene phải trên NST thường (con gái $X^a X^a$ cần $X^a$ từ bố) |
| Quên phép thử "mẹ bệnh – con trai" | Mẹ bị bệnh lặn mà con trai bình thường → gene không trên NST X (con trai luôn nhận X từ mẹ) |
| Người bình thường con $Aa\times Aa$ có $P(Aa)=\dfrac{1}{2}$ | Trong số người bình thường (đã loại $aa$): $\dfrac{1}{3}AA : \dfrac{2}{3}Aa$ → $P(Aa)=\dfrac{2}{3}$ |
| Quên nhân $\dfrac{1}{2}$ xác suất giới tính | Hỏi "sinh con trai/gái bị bệnh" → nhân thêm $\dfrac{1}{2}$ |
| Liệu pháp gene đã chữa mọi bệnh di truyền | Mới ở mức thử nghiệm, chủ yếu bệnh do một gene, còn rào cản kĩ thuật và đạo đức |
| Quan sát NST ở kì trung gian | Quan sát ở kì giữa (NST co xoắn cực đại, dễ quan sát) |
| Họ hàng gần kết hôn vẫn an toàn | Làm tăng xác suất gene lặn gây bệnh về đồng hợp tử → dễ sinh con bệnh |
Cùng luyện Bài 13 – Di truyền học người & di truyền y học!
27 câu: 21 trắc nghiệm · 2 đúng/sai · 4 tự luận
Tuyệt vời!

Cô Nguyễn Ngọc Châu
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Sinh Học THPT
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Sinh học, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ AT sinh học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Trần Phú
