Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
1. Chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lí về chủ quyền biển đảo của Việt Nam
a) Chứng cứ lịch sử
Nhiều tư liệu hiện vật, chữ viết, truyền miệng,… của Việt Nam và thế giới đã cung cấp chứng cứ lịch sử về các hoạt động xác lập và thực thi chủ quyền biển đảo liên tục của dân tộc trên Biển Đông qua các thời kì lịch sử.
◆ Trước năm 1884
Di chỉ khảo cổ học:
- Các di chỉ thuộc các nền văn hoá biển Hạ Long, Bàu Tró, Hoa Lộc,… ở ven biển Việt Nam cho thấy người Việt cổ đã cư trú sát biển, cuộc sống gắn liền với Biển Đông.
- Nhiều dấu vết tàu đắm, hiện vật đồ gốm ở Hội An, Cù Lao Chàm,… cho thấy Vương quốc Chăm-pa giao lưu rộng rãi với Ấn Độ và vùng Tây Á; cư dân Óc Eo có mối liên hệ xa bằng đường biển đến tận vùng Địa Trung Hải.
Tư liệu của Việt Nam:
- Nhiều công trình sử học, địa lí cổ ghi chép tường tận về cương vực, lãnh thổ và hoạt động thực thi, bảo vệ chủ quyền của các triều đại quân chủ ở Biển Đông, đặc biệt ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Tiêu biểu: Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sỹ Liên), Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán Triều Nguyễn),…
- Bản đồ cổ thời quân chủ đã vẽ Biển Đông (tên gọi Hải Đông), quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (tên gọi Bãi Cát Vàng, Vạn lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa, Vạn lý Trường Sa) thuộc lãnh thổ Việt Nam: Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (thế kỉ XVII), Giáp Ngọ niên bình Nam đồ (thế kỉ XVIII), Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838).
- Văn bản hành chính của Nhà nước quân chủ ghi chép các hoạt động xác lập, thực thi, bảo vệ chủ quyền, đặc biệt với Hoàng Sa, Trường Sa. Châu bản Triều Nguyễn là bằng chứng quan trọng khẳng định Nhà nước phong kiến Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động thực thi chủ quyền: đo đạc, vẽ bản đồ, cắm mốc chủ quyền, điều thuỷ quân, cứu hộ, cứu nạn tàu thuyền gặp nạn,…
Tư liệu của người nước ngoài:
- Từ khoảng thế kỉ XVI, người Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp, Anh,… đã vẽ nhiều bản đồ vùng biển Đông Nam Á, thể hiện khá rõ bờ biển, Biển Đông và hải đảo của Việt Nam. Một số bản đồ tiêu biểu: Vương quốc An Nam (Rô-ma, thế kỉ XVII), Bản đồ của Công ty Đông Ấn (Anh, thế kỉ XIX), bộ Át-lát thế giới (Bỉ, 1827), An Nam đại quốc hoạ đồ (1838),…
- Nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ phương Tây ghi chép về hoạt động xác lập, thực thi chủ quyền của Việt Nam trong hồi kí, thư từ, báo cáo. Nhiều ghi chép cho thấy chúa Nguyễn thường xuyên cử thuyền ra các đảo trên Biển Đông khai thác hải sản, thu nhặt di vật từ tàu đắm và tuần phòng, kiểm soát vùng biển, đảo.

◆ Từ sau năm 1884
- Sau Hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884), chính quyền Pháp đại diện cho Việt Nam trong quan hệ đối ngoại, có nhiều hoạt động khẳng định, bảo vệ chủ quyền biển đảo; đưa ra nhiều tuyên bố chủ quyền tại các hội nghị quốc tế và phản đối các hành động xâm nhập trái phép.
- Tuyên bố của Toàn quyền Đông Dương (3 – 1925) khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là của Việt Nam.
- Chính quyền Pháp thực hiện các biện pháp quản lí qua việc thành lập đơn vị hành chính trên các đảo, quần đảo: Cô Tô, Phú Quốc, Hoàng Sa, Trường Sa,…; xây dựng bia chủ quyền, hải đăng, trạm khí tượng, đài vô tuyến điện,… ở các đảo Hoàng Sa, Phú Lâm, Ba Bình,… và cử quân đội đồn trú, tuần tra vùng biển.
- Tại Hội nghị Hoà bình Xan Phran-xi-xcô (9 – 1951), chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa tiếp tục được tuyên bố mà không bị các quốc gia tham dự phản đối.
- Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, các chính quyền ở Việt Nam ban hành nhiều sắc lệnh, quy định thể hiện sự quản lí và thực thi chủ quyền; đưa ra tuyên bố công khai tại nhiều diễn đàn quốc tế.
- Về hành chính: ở miền Bắc, đảo Bạch Long Vĩ thuộc thành phố Hải Phòng, đảo Cô Tô thuộc tỉnh Hải Ninh (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh). Ở miền Nam, quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy (đến năm 1982 thuộc tỉnh Đồng Nai, từ năm 1989 đến nay thuộc tỉnh Khánh Hoà); quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng),…
- Sau khi đất nước thống nhất, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục quản lí, bảo vệ và thực hiện chủ quyền đối với các đảo, quần đảo, thềm lục địa thuộc Biển Đông; nhiều lần khẳng định chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa trong các tuyên bố của Bộ Ngoại giao, tại Hội nghị của Tổ chức Khí tượng Thế giới (1980), Hội nghị Địa chất Thế giới (1980),…
- “Sách Trắng” về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa (công bố các năm 1979, 1981, 1988) khẳng định hai quần đảo này là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế.


b) Cơ sở pháp lí
Nhiều văn bản luật pháp quốc tế đã cung cấp cơ sở pháp lí quan trọng khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông.
- Các hiệp định, thoả thuận đã kí kết:
- Hiệp định về vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và Cam-pu-chia (1982)
- Thoả thuận hợp tác khai thác chung trong vùng chồng lấn với Ma-lai-xi-a (1992)
- Hiệp định phân định ranh giới trên biển với Thái Lan trong Vịnh Thái Lan (1997)
- Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc (2000)
- Hiệp định phân định biển với In-đô-nê-xi-a (2003)
- Việt Nam phê chuẩn và trở thành thành viên có trách nhiệm của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) → cơ sở pháp lí quốc tế quan trọng khẳng định chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông.
- Trên cơ sở UNCLOS và luật pháp quốc tế, Việt Nam ban hành nhiều văn bản pháp luật trong nước: Luật Biên giới quốc gia, Luật Dầu khí, Luật Cảnh sát biển Việt Nam,… Đặc biệt, Luật Biển Việt Nam (thông qua năm 2012) đã cụ thể hoá các quy định của Công ước về biên giới lãnh thổ, hàng hải, thuỷ sản, dầu khí, bảo vệ môi trường biển và hải đảo,…
2. Vai trò chiến lược của biển đảo Việt Nam
a) Là tuyến phòng thủ của đất nước
- Biển đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, đóng vai trò trọng yếu trong công cuộc bảo vệ sự toàn vẹn đất nước.
- Hệ thống các đảo, cụm đảo trải đều trên Biển Đông có ý nghĩa lớn trong triển khai phòng thủ, bảo vệ đất liền và kiểm soát vùng biển, vùng trời trên biển. Đây là những căn cứ tiền tiêu trên tuyến phòng thủ hướng đông bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ quốc tế về cứu hộ, cứu nạn trên biển.
- Một số đảo như Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa,… có vị trí địa lí thuận lợi để đặt các trạm thông tin, trạm trung chuyển, điểm tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền, phục vụ tuyến đường vận tải và an ninh trên biển.
b) Cung cấp tài nguyên phát triển đất nước
- Vùng biển và thềm lục địa rộng lớn chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng. Các đảo, quần đảo nằm ở vị trí án ngữ nhiều trục giao thông huyết mạch trên biển và có nguồn lợi tài nguyên phát triển kinh tế biển đầy tiềm năng → cơ sở để nâng cao tiềm lực quốc gia, phục vụ khẳng định, bảo vệ chủ quyền biển đảo và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân.
- Phát triển toàn diện, bền vững các ngành kinh tế biển (khai thác, nuôi trồng hải sản; du lịch và dịch vụ biển; khai thác khoáng sản biển; giao thông vận tải biển;…) là động lực tăng trưởng quan trọng của đất nước, góp phần khẳng định, bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông.

Bảng ôn tập các cột mốc và chứng cứ trọng tâm
| Thời gian / Tư liệu | Sự kiện – chứng cứ cần nhớ |
|---|---|
| Thế kỉ XVI | Người Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp, Anh vẽ bản đồ thể hiện Biển Đông, hải đảo Việt Nam |
| Thế kỉ XVII | Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (vẽ Bãi Cát Vàng); Vương quốc An Nam (Rô-ma) |
| Thế kỉ XVIII | Giáp Ngọ niên bình Nam đồ (có địa danh Bãi Cát Vàng) |
| 1827 | Bộ Át-lát thế giới (Bỉ) |
| 1838 | Đại Nam nhất thống toàn đồ; An Nam đại quốc hoạ đồ |
| 1884 | Hiệp ước Pa-tơ-nốt → Pháp đại diện cho Việt Nam đối ngoại |
| 3 – 1925 | Tuyên bố của Toàn quyền Đông Dương: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam |
| 1938 | Chính quyền Pháp xây ngọn hải đăng trên quần đảo Hoàng Sa |
| 9 – 1951 | Hội nghị Hoà bình Xan Phran-xi-xcô – tuyên bố chủ quyền không bị phản đối |
| 1954 | Hiệp định Giơ-ne-vơ – các chính quyền tiếp tục quản lí, thực thi chủ quyền |
| 1980 | Khẳng định chủ quyền tại Hội nghị Tổ chức Khí tượng Thế giới và Hội nghị Địa chất Thế giới |
| 1979, 1981, 1988 | Công bố “Sách Trắng” về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa |
| 1982 | Hiệp định vùng nước lịch sử với Cam-pu-chia; Công ước Luật Biển UNCLOS 1982 |
| 1992 | Thoả thuận khai thác chung vùng chồng lấn với Ma-lai-xi-a |
| 1997 | Hiệp định phân định biển với Thái Lan (Vịnh Thái Lan) |
| 2000 | Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc |
| 2003 | Hiệp định phân định biển với In-đô-nê-xi-a |
| 2012 | Luật Biển Việt Nam được thông qua |
| Hành chính Trường Sa | Phước Tuy → 1982 Đồng Nai → 1989 đến nay Khánh Hoà |
| Hành chính Hoàng Sa | Quảng Nam → nay thuộc thành phố Đà Nẵng |
Sơ đồ tóm tắt bài
BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, CÁC QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA VIỆT NAM Ở BIỂN ĐÔNG (2)
I. Chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lí
- Chứng cứ lịch sử – Trước năm 1884:
- Di chỉ khảo cổ (Hạ Long, Bàu Tró, Hoa Lộc; Hội An, Cù Lao Chàm – Chăm-pa, Óc Eo)
- Tư liệu Việt Nam: sử – địa cổ (Đại Việt sử ký toàn thư, Dư địa chí, Phủ biên tạp lục…); bản đồ cổ (Bãi Cát Vàng, Vạn lý Trường Sa); Châu bản Triều Nguyễn
- Tư liệu nước ngoài: bản đồ phương Tây; ghi chép của nhà hàng hải, giáo sĩ; chúa Nguyễn cử thuyền tuần phòng, khai thác
- Chứng cứ lịch sử – Từ sau năm 1884: Pháp đại diện (1884) → tuyên bố Toàn quyền Đông Dương (1925) → đơn vị hành chính, bia chủ quyền, hải đăng → Xan Phran-xi-xcô (1951) → Giơ-ne-vơ (1954) → Sách Trắng (1979, 1981, 1988)
- Cơ sở pháp lí: các hiệp định phân định biển (1982 – 2003); UNCLOS 1982; luật trong nước → Luật Biển Việt Nam 2012
II. Vai trò chiến lược của biển đảo Việt Nam
- Tuyến phòng thủ của đất nước: căn cứ tiền tiêu hướng đông; phòng thủ, kiểm soát biển – trời; cứu hộ, cứu nạn (Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Hoàng Sa, Trường Sa)
- Cung cấp tài nguyên phát triển đất nước: tài nguyên phong phú, án ngữ trục giao thông; phát triển kinh tế biển → nâng cao tiềm lực quốc gia, thế trận quốc phòng toàn dân

Thầy Võ Thành Luận
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử & Địa Lí THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Sử-Địa, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ A2
Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại THCS Lê Thánh Tôn
