Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
Phần mở đầu
Câu hỏi mở đầu trang 9
Đề bài: Trên lãnh thổ nhiều nước châu Âu ngày nay đã xây dựng tượng đài để tưởng niệm vị Hoàng đế Sác-lơ-ma-nhơ. Ông đã có công lao gì mà được tôn vinh như thế? Hãy chia sẻ những hiểu biết của em về vị Hoàng đế này cũng như về sự hình thành và phát triển của chế độ phong kiến Tây Âu từ thế kỉ V đến thế kỉ XVI.
Lời giải:
Đây là câu hỏi mở đầu, nội dung sẽ được làm rõ dần trong bài. Em có thể trả lời ngắn gọn như sau:
- Về Hoàng đế Sác-lơ-ma-nhơ: Ông là vua của Vương quốc Phơ-răng. Thông qua các cuộc chiến tranh chinh phục, ông đã biến Vương quốc Phơ-răng thành một đế quốc rộng lớn, tồn tại lâu dài và giữ vai trò quan trọng trong lịch sử Tây Âu thời kì này. Vì vậy, ông được nhiều nước châu Âu tôn vinh, dựng tượng đài tưởng niệm.
- Về chế độ phong kiến Tây Âu: Chế độ này được hình thành sau khi đế quốc La Mã sụp đổ (năm 476), phát triển qua nhiều thế kỉ với hai giai cấp chính là lãnh chúa phong kiến và nông nô, gắn liền với sự ra đời của các lãnh địa phong kiến, Thiên Chúa giáo và thành thị trung đại.
1. Quá trình hình thành xã hội phong kiến ở Tây Âu
Câu hỏi 1 mục 1 trang 10
Đề bài: Quan sát hình 2, em hãy cho biết lãnh chúa phong kiến và nông nô được hình thành từ những tầng lớp nào.

Lời giải:
Em quan sát sơ đồ Hình 2 và xác định nguồn gốc của hai giai cấp mới:
a) Lãnh chúa phong kiến được hình thành từ hai tầng lớp:
- Quý tộc thị tộc người Giéc-man: họ chiếm nhiều ruộng đất của chủ nô La Mã và được phong tước vị.
- Quý tộc La Mã quy thuận chính quyền mới: họ được giữ lại ruộng đất của mình.
b) Nông nô được hình thành từ hai tầng lớp:
- Nô lệ được giải phóng.
- Nông dân tự do bị mất ruộng đất.
Câu hỏi 2 mục 1 trang 10
Đề bài: Trình bày những nét chính về quá trình hình thành xã hội phong kiến ở Tây Âu.
Lời giải:
Em dựa vào nội dung mục 1 và trình bày theo trình tự thời gian:
- Từ thế kỉ III: đế quốc La Mã lâm vào tình trạng khủng hoảng. Các cuộc đấu tranh của nô lệ khiến sản xuất sút kém, xã hội rối ren.
- Nửa cuối thế kỉ V: các bộ tộc người Giéc-man từ phương Bắc tràn xuống xâm chiếm lãnh thổ, đưa đến sự diệt vong của đế quốc La Mã (năm 476). Từ đây, chế độ phong kiến từng bước được hình thành ở Tây Âu.
- Người Giéc-man đã thủ tiêu bộ máy nhà nước cũ của La Mã và lập nhiều vương quốc mới như: Vương quốc của người Ăng-glô Xắc-xông, Vương quốc Phơ-răng, Vương quốc Tây Gốt, Vương quốc Đông Gốt,…
- Trong các vương quốc đó, Vương quốc Phơ-răng là mạnh nhất. Hoàng đế Sác-lơ-ma-nhơ đã mở rộng lãnh thổ và biến vương quốc này thành một đế quốc rộng lớn.
- Quá trình phong kiến hóa diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc nhất ở Vương quốc Phơ-răng, với sự hình thành của hai giai cấp mới là lãnh chúa phong kiến và nông nô.
- Sau khi Sác-lơ-ma-nhơ mất, Vương quốc Phơ-răng bị phân chia thành ba vương quốc (về sau trở thành các nước Pháp, Đức và I-ta-li-a), nơi chế độ phong kiến hoàn toàn ngự trị.
2. Lãnh địa phong kiến và quan hệ xã hội của chế độ phong kiến ở Tây Âu
Câu hỏi 1 mục 2 trang 11
Đề bài: Quan sát hình 3 và đọc thông tin trong mục, em hãy trình bày đặc điểm của lãnh địa phong kiến ở Tây Âu.

Lời giải:
Em quan sát Hình 3 và đọc nội dung mục 2 để rút ra các đặc điểm chính của lãnh địa phong kiến:
- Về thời gian hình thành: Đến thế kỉ IX, những vùng đất đai rộng lớn ở Tây Âu nhanh chóng bị các quý tộc biến thành khu đất riêng của mình, gọi là lãnh địa phong kiến.
- Về cấu trúc lãnh địa: Lãnh địa là một khu đất rộng lớn bao gồm đất của lãnh chúa và đất khẩu phần.
- Trung tâm lãnh địa có lâu đài của lãnh chúa, được bảo vệ bằng tường cao và hào nước chảy xung quanh.
- Xung quanh lâu đài là đất khẩu phần được lãnh chúa giao cho nông nô cày cấy và thu tô, thuế.
- Trong lãnh địa còn có nhà thờ, dinh thự, nhà kho và nhà ở của nông nô.
- Về chính trị: Mỗi lãnh chúa cai quản lãnh địa của mình như “ông vua”. Lãnh chúa tự lập ra quân đội, luật pháp, tòa án, chế độ thuế khóa, tiền tệ và hệ thống đo lường riêng. Nhà vua cũng không được can thiệp vào lãnh địa của lãnh chúa (gọi là quyền “miễn trừ”). Như vậy, lãnh địa là đơn vị chính trị và kinh tế cơ bản ở Tây Âu thời kì này.
- Về kinh tế: Kinh tế lãnh địa mang tính chất tự cấp tự túc, trong đó nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo. Nông nô tự sản xuất ra lương thực, thực phẩm và mọi thứ đồ dùng để phục vụ nhu cầu trong lãnh địa. Chỉ những thứ không sản xuất được mới phải mua từ bên ngoài (như sắt, muối và một số hàng xa xỉ như lụa, hương liệu… từ các nước phương Đông).
Câu hỏi 2 mục 2 trang 11
Đề bài: Khai thác sơ đồ hình 2 và thông tin trong mục, hãy trình bày mối quan hệ giữa lãnh chúa và nông nô trong xã hội phong kiến.
Lời giải:
Em dựa vào sơ đồ Hình 2 và thông tin trong mục 2 để trình bày mối quan hệ giữa hai giai cấp này:
- Trong xã hội phong kiến Tây Âu, lãnh chúa và nông nô là hai giai cấp chính.
- Lãnh chúa sống sung sướng, nhàn rỗi, có quyền chi phối mọi mặt đời sống của nông nô. Họ sống bằng việc bóc lột sức lao động của nông nô.
- Nông nô là lực lượng sản xuất chính trong lãnh địa. Họ nhận ruộng đất của lãnh chúa để cày cấy, đổi lại phải nộp tô và nhiều loại thuế khác cho lãnh chúa như: thuế cưới xin, thuế ma chay,…
- Như vậy, mối quan hệ giữa lãnh chúa và nông nô là mối quan hệ bóc lột: lãnh chúa là người bóc lột, còn nông nô là người bị bóc lột thông qua địa tô và các loại thuế.
3. Sự ra đời của Thiên Chúa giáo
Câu hỏi mục 3 trang 12
Đề bài: Hãy trình bày sự ra đời của Thiên Chúa giáo.

Lời giải:
Em đọc nội dung mục 3 và trả lời theo các ý chính sau:
- Thời gian và địa điểm ra đời: Thiên Chúa giáo ra đời vào đầu Công nguyên ở vùng Giê-ru-sa-lem (thuộc Pa-le-xtin ngày nay).
- Người sáng lập: Chúa Giê-su.
- Tính chất ban đầu: Ban đầu, đó là tôn giáo của những người nghèo khổ, bị áp bức.
- Sự biến đổi về sau: Về sau, Thiên Chúa giáo trở thành công cụ cai trị về mặt tinh thần của giai cấp thống trị. Đến thế kỉ IV, Thiên Chúa giáo được công nhận là quốc giáo của đế quốc La Mã.
- Vị thế thời phong kiến: Đến thời phong kiến, Giáo hội Thiên Chúa giáo có thế lực rất lớn ở Tây Âu, cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng.
4. Sự xuất hiện và vai trò của thành thị trung đại
Câu hỏi 1 mục 4 trang 13
Đề bài: Thành thị trung đại ra đời thế nào?

Lời giải:
Em đọc nội dung mục 4 và trình bày theo các bước sau:
- Nguyên nhân: Từ cuối thế kỉ XI, thủ công nghiệp ở Tây Âu phát triển, hàng hóa sản xuất ra ngày càng nhiều đã thúc đẩy nhu cầu trao đổi.
- Quá trình hình thành:
- Một số thợ thủ công tìm cách bỏ trốn khỏi lãnh địa hoặc dùng tiền chuộc lại thân phận tự do.
- Họ đến những nơi có đông người qua lại để lập các xưởng sản xuất và bán hàng hóa.
- Từ đó, các thị trấn xuất hiện, sau trở thành thành phố, gọi là thành thị trung đại.
- Ngoài ra, còn có những thành thị do các lãnh chúa lập ra hoặc được phục hồi từ những thành thị cổ đại.
- Cư dân chủ yếu: trong các thành thị chủ yếu là thương nhân và thợ thủ công.
Câu hỏi 2 mục 4 trang 13
Đề bài: Em hãy phân tích vai trò của các thành thị đối với châu Âu thời trung đại.
Lời giải:
Sự ra đời của các thành thị trung đại có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội phong kiến châu Âu. Em phân tích theo các vai trò sau:
- Về kinh tế:
- Thành thị phá vỡ nền kinh tế tự nhiên (tự cấp tự túc) của các lãnh địa phong kiến.
- Tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa.
- Về chính trị: Thành thị góp phần xóa bỏ chế độ phong kiến phân quyền, xây dựng chế độ phong kiến tập quyền.
- Về xã hội: Thành thị đưa đến sự xuất hiện của một tầng lớp mới – tầng lớp thị dân.
- Về văn hóa – giáo dục:
- Tạo cơ sở để xây dựng nền văn hóa mới, nhiều trường đại học được thành lập (ví dụ: Trường Đại học Bô-lô-na ở I-ta-li-a, ra đời năm 1088).
- Mang lại không khí tự do, cởi mở cho xã hội châu Âu thời trung đại.
Chính vì thế, nhà tư tưởng C. Mác đã nhận xét: “Thành thị giống như những bông hoa rực rỡ nhất của châu Âu thời trung đại”.
Luyện tập và Vận dụng
Bài 1 trang 13
Đề bài: Em hãy lập và hoàn thành bảng theo mẫu sau (so sánh lãnh địa phong kiến và thành thị trung đại về: thời gian xuất hiện, hoạt động kinh tế chủ yếu, thành phần cư dân chủ yếu).
Lời giải:
Em dựa vào nội dung đã học ở mục 2 và mục 4 để hoàn thành bảng so sánh:
| Nội dung | Lãnh địa phong kiến | Thành thị trung đại |
|---|---|---|
| Thời gian xuất hiện | Khoảng thế kỉ IX | Từ cuối thế kỉ XI |
| Hoạt động kinh tế chủ yếu | Nông nghiệp, mang tính tự cấp tự túc | Thủ công nghiệp và thương nghiệp (kinh tế hàng hóa) |
| Thành phần cư dân chủ yếu | Lãnh chúa và nông nô | Thương nhân và thợ thủ công |
Bài 2 trang 13
Đề bài: “Thành thị giống như những bông hoa rực rỡ nhất của châu Âu thời trung đại”. Em hãy tìm những dẫn chứng trong bài học để chứng minh cho ý kiến này.
Lời giải:
Em dựa vào những vai trò của thành thị đã học ở mục 4 để đưa ra các dẫn chứng chứng minh:
- Thành thị làm cho kinh tế châu Âu phát triển vượt bậc: thành thị đã phá vỡ nền kinh tế tự cấp tự túc của các lãnh địa phong kiến, tạo điều kiện cho kinh tế hàng hóa hình thành và phát triển mạnh mẽ.
- Thành thị thúc đẩy sự thay đổi về chính trị: góp phần xóa bỏ chế độ phong kiến phân quyền, xây dựng chế độ phong kiến tập quyền – tức là làm cho xã hội châu Âu thống nhất và tiến bộ hơn.
- Thành thị đưa đến sự xuất hiện của một tầng lớp xã hội mới – tầng lớp thị dân, gồm chủ yếu là thương nhân và thợ thủ công, năng động và sáng tạo.
- Thành thị là nơi sản sinh ra nền văn hóa và giáo dục mới: nhiều trường đại học nổi tiếng được thành lập từ thời trung đại (ví dụ: Trường Đại học Bô-lô-na ở I-ta-li-a ra đời năm 1088 và còn tồn tại đến ngày nay).
- Thành thị mang lại không khí tự do, cởi mở cho cư dân châu Âu, khác hẳn với không khí ngột ngạt trong các lãnh địa phong kiến.
Với những vai trò đó, thành thị thực sự là “những bông hoa rực rỡ nhất” giữa bức tranh xã hội phong kiến châu Âu thời trung đại.
Bài 3 trang 13
Đề bài: Tìm hiểu và cho biết một số dấu ấn tiêu biểu của thành thị trung đại (các thành phố cổ, trường đại học,…) còn được bảo tồn, gìn giữ và phát triển đến ngày nay.
Lời giải:
Em có thể nêu một số dấu ấn tiêu biểu của thành thị trung đại còn được bảo tồn đến ngày nay như sau:
- Các thành phố cổ:
- Thành phố Phi-ren-xê (I-ta-li-a): một thành phố cổ hình thành từ thời trung đại, đến nay vẫn được bảo tồn và là một điểm du lịch nổi tiếng (như trong Hình 6 SGK).
- Ngoài ra còn có nhiều thành phố cổ khác ở châu Âu cũng có nguồn gốc từ thời trung đại, vẫn giữ được kiến trúc, đường phố và công trình xưa.
- Các trường đại học cổ:
- Trường Đại học Bô-lô-na (I-ta-li-a): ra đời năm 1088, là trường đại học lâu đời nhất trên thế giới. Đến nay, trường vẫn là trung tâm giáo dục cao học của I-ta-li-a nói riêng và châu Âu nói chung, thu hút hàng trăm nghìn sinh viên từ nhiều nơi trên thế giới đến học tập (như trong phần “Em có biết?” và Hình 7 SGK).
(Lưu ý: em có thể tìm hiểu thêm trên sách, báo hoặc Internet để bổ sung những dẫn chứng khác cho bài làm thêm phong phú.)

Thầy Võ Thành Luận
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử & Địa Lí THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Sử-Địa, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ A2
Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại THCS Lê Thánh Tôn
