Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
1. Sự phân hóa tự nhiên theo chiều bắc – nam
Câu hỏi mục 1 trang 149
Đề bài: Dựa vào thông tin và hình 1, 2 trong mục 1, hãy trình bày sự phân hóa thiên nhiên theo chiều bắc – nam ở Trung và Nam Mỹ.
Lời giải:
Thiên nhiên Trung và Nam Mỹ phân hóa theo chiều bắc – nam, thể hiện rõ nét ở sự khác biệt về khí hậu và cảnh quan, gồm 5 đới khí hậu:
- Đới khí hậu xích đạo: nóng ẩm quanh năm → rừng mưa nhiệt đới phát triển trên diện rộng.
- Đới khí hậu cận xích đạo: một năm có hai mùa (mùa mưa và mùa khô) rõ rệt → thảm thực vật điển hình là rừng thưa nhiệt đới.
- Đới khí hậu nhiệt đới: nóng, lượng mưa giảm dần từ đông sang tây → cảnh quan thay đổi từ rừng nhiệt đới ẩm đến xa van, cây bụi và hoang mạc.
- Đới khí hậu cận nhiệt: mùa hạ nóng, mùa đông ẩm.
- Nơi mưa nhiều: rừng cận nhiệt và thảo nguyên rừng.
- Nơi mưa ít: bán hoang mạc và hoang mạc.
- Đới khí hậu ôn đới: mát mẻ quanh năm → cảnh quan điển hình là rừng hỗn hợp và bán hoang mạc.
2. Sự phân hóa tự nhiên theo chiều đông – tây
Câu hỏi mục 2 trang 150
Đề bài: Dựa vào hình 1 (trang 140) và thông tin trong mục 2, hãy trình bày sự phân hóa tự nhiên theo chiều đông – tây ở Trung và Nam Mỹ.

Lời giải:
a) Ở Trung Mỹ:
- Phía đông và các đảo: lượng mưa nhiều → rừng mưa nhiệt đới phát triển.
- Phía tây: khô hạn → chủ yếu là xa van, rừng thưa.
b) Ở Nam Mỹ: Sự phân hóa đông – tây thể hiện rõ nhất ở địa hình, gồm 3 khu vực:
- Phía đông – các sơn nguyên: bị bào mòn mạnh, địa hình chủ yếu là đồi núi thấp.
- Sơn nguyên Guy-a-na: khí hậu nóng ẩm → rừng rậm rạp.
- Sơn nguyên Bra-xin: khí hậu khô hạn hơn → cảnh quan rừng thưa và xa van là chủ yếu.
- Ở giữa – các đồng bằng rộng và bằng phẳng: gồm La-nốt, A-ma-dôn, La Pla-ta và Pam-pa.
- Đồng bằng A-ma-dôn: khí hậu xích đạo và cận xích đạo nóng ẩm, mưa nhiều → rừng mưa nhiệt đới bao phủ, hệ thực – động vật vô cùng phong phú.
- Các đồng bằng còn lại: mưa ít → thảm thực vật chủ yếu là xa van, cây bụi.
- Phía tây – miền núi An-đét: cao trung bình 3 000 – 5 000 m, gồm nhiều dãy núi, xen giữa là các thung lũng và cao nguyên. Thiên nhiên có sự khác biệt rõ rệt giữa sườn đông và sườn tây.
3. Sự phân hóa tự nhiên theo chiều cao
Câu hỏi mục 3 trang 151
Đề bài: Dựa vào thông tin và quan sát hình 4 trong mục 3, hãy:
- Kể tên các đai thực vật theo chiều cao của sườn đông dãy An-đét qua lãnh thổ Pê-ru.
- Cho biết các đai thực vật được phân bố theo độ cao như thế nào.

Lời giải:
a) Tên các đai thực vật theo chiều cao của sườn đông dãy An-đét qua lãnh thổ Pê-ru:
Gồm 6 đai thực vật: rừng nhiệt đới, rừng lá rộng, rừng lá kim, đồng cỏ, đồng cỏ núi cao và băng tuyết.
b) Sự phân bố các đai thực vật theo độ cao (từ thấp lên cao):
- Rừng nhiệt đới: từ 0 đến 1 000 m.
- Rừng lá rộng: từ 1 000 đến 1 300 m.
- Rừng lá kim: từ 1 300 đến 3 000 m.
- Đồng cỏ: từ 3 000 đến 4 000 m.
- Đồng cỏ núi cao: từ 4 000 đến 5 000 m.
- Băng tuyết: từ 5 000 m trở lên.
→ Càng lên cao, nhiệt độ và độ ẩm thay đổi, kéo theo các đai thực vật cũng thay đổi tương ứng.
Luyện tập và Vận dụng
Bài 1 (Luyện tập) trang 151
Đề bài: Trình bày một đặc điểm tự nhiên (địa hình, khí hậu, đới thiên nhiên) ở khu vực Trung và Nam Mỹ.
Lời giải:
Đây là câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các đặc điểm để trình bày. Dưới đây là bài làm gợi ý về đặc điểm địa hình ở Nam Mỹ:
Địa hình Nam Mỹ có sự phân hóa rõ rệt từ đông sang tây, gồm 3 khu vực chính:
- Phía đông là các sơn nguyên bị bào mòn mạnh, địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, gồm sơn nguyên Guy-a-na và sơn nguyên Bra-xin.
- Ở giữa là các đồng bằng rộng và bằng phẳng, gồm các đồng bằng La-nốt, A-ma-dôn, La Pla-ta và Pam-pa. Trong đó, đồng bằng A-ma-dôn là đồng bằng rộng nhất Nam Mỹ.
- Phía tây là miền núi An-đét cao trung bình 3 000 – 5 000 m, gồm nhiều dãy núi chạy song song, xen giữa là các thung lũng và cao nguyên. Đây là miền núi trẻ, cao và đồ sộ nhất khu vực.
(Lưu ý: em cũng có thể chọn đặc điểm khí hậu hoặc đới thiên nhiên để trình bày theo cách tương tự.)
Bài 2 (Vận dụng) trang 151
Đề bài: Sưu tầm thông tin về kênh đào Pa-na-ma.
Lời giải:
Đây là câu hỏi vận dụng, em tự sưu tầm tư liệu và viết theo cách của mình. Dưới đây là bài viết gợi ý:
Kênh đào Pa-na-ma là một trong những công trình thủy lực vĩ đại nhất thế giới, nằm trên lãnh thổ nước Pa-na-ma, cắt ngang eo đất hẹp Trung Mỹ. Kênh đào dài khoảng 82 km, được khởi công xây dựng từ cuối thế kỉ XIX và khánh thành vào năm 1914. Công trình này nối liền Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, giúp tàu thuyền đi từ bờ đông sang bờ tây châu Mỹ mà không phải đi vòng qua cực nam Nam Mỹ, rút ngắn rất nhiều thời gian và quãng đường vận chuyển. Nhờ vị trí chiến lược này, kênh đào Pa-na-ma trở thành một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất thế giới, đóng vai trò quan trọng trong giao thương hàng hải toàn cầu và đem lại nguồn thu lớn cho đất nước Pa-na-ma.

Thầy Võ Thành Luận
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử & Địa Lí THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Sử-Địa, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ A2
Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại THCS Lê Thánh Tôn
