Soạn bài: Truyện về các vị thần sáng tạo thế giới (trang 11) Ngữ văn 10

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Tìm hiểu chung

1. Thể loại: Thần thoại Việt Nam

  • Thần thoại Việt Nam là một di sản phong phú với hàng trăm truyện kể của người Kinh và các dân tộc thiểu số.
  • Gồm hai nhóm:
    • Thần thoại suy nguyên: lí giải sự hình thành thế giới tự nhiên, nguồn gốc con người và vạn vật. Nhân vật chính là các vị thần sáng tạo thế giới (trời, đất, mặt trời, mặt trăng, sông biển, mưa, gió, sấm, sét, muôn loài).
    • Thần thoại sáng tạo: nhân vật chính là các anh hùng thần thoại và anh hùng văn hoá, phản ánh vẻ đẹp của cuộc sống lao động, tín ngưỡng và văn hoá của từng cộng đồng.

2. Văn bản

  • Xuất xứ: ba truyện Thần Trụ Trời, Thần Sét, Thần Gió được trích từ công trình sưu tầm của Nguyễn Đổng Chi – tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
  • Thể loại: thần thoại (thuộc nhóm thần thoại suy nguyên).
  • Phương thức biểu đạt chính: tự sự.
  • Ngôi kể: ngôi thứ ba.

II. Trước khi đọc

Câu hỏi: Nêu tên một truyện kể hoặc bộ phim có nhân vật chính là một vị thần. Theo bạn, điều gì làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm đó?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Em từng xem bộ phim Thor (Thần Sấm) của hãng Marvel. Sức hấp dẫn của tác phẩm đến từ hình tượng vị thần có sức mạnh phi thường, cây búa thần kì, khả năng triệu hồi sấm sét. Bên cạnh đó là những trận chiến hoành tráng và câu chuyện về tình cảm gia đình, lòng dũng cảm của nhân vật chính.
  • Cách 2: Em từng đọc truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh. Tác phẩm hấp dẫn ở chỗ xây dựng hai vị thần đại diện cho hai sức mạnh đối lập của tự nhiên (núi và nước), qua đó lí giải hiện tượng lũ lụt hằng năm ở nước ta. Truyện vừa kì ảo, vừa gần gũi với đời sống.
  • Cách 3: Em đã xem phim hoạt hình Moana có nhân vật á thần Maui. Sức hấp dẫn của tác phẩm là ở hình tượng vị thần có nhiều phép lạ, lưỡi câu thần kéo được cả hòn đảo, kết hợp với cốt truyện phiêu lưu và bài học về lòng dũng cảm, tình yêu quê hương.

III. Trong khi đọc

1. Chú ý các chi tiết mở đầu câu chuyện (Thần Trụ Trời)

  • Thời gian: “Thuở ấy chưa có vũ trụ, chưa có muôn vật và loài người.”
  • Không gian: “Trời đất chỉ là một đám hỗn độn tối tăm và lạnh lẽo.”
  • Nhân vật xuất hiện: một ông thần thân thể to lớn không biết bao nhiêu mà kể.

→ Mở đầu mang tính phiếm chỉ, đưa người đọc về buổi đầu khai thiên lập địa.

2. Hình dung vóc dáng và những hành động của thần Trụ Trời

  • Vóc dáng: thân thể to lớn vô cùng, chân bước một bước từ tỉnh này qua tỉnh nọ hay từ đỉnh núi này sang đỉnh núi kia.
  • Hành động:
    • Dùng đầu đội trời lên.
    • Đào đất, đá đắp thành một cột vừa to vừa cao để chống trời.
    • Khi trời cao và khô cứng, thần phá cột, ném đá đất đi khắp nơi tạo thành núi, đảo, cồn đồi, cao nguyên; chỗ đào đất trở thành biển cả.

→ Một vị thần khổng lồ, sức mạnh phi thường, là người khai sinh ra trời đất.

3. Có những vị thần nào được liệt kê trong bài vè?

Bài vè liệt kê bảy vị thần: ông đếm cát, ông tát bể (biển), ông kể sao, ông đào sông, ông trồng cây, ông xây rú (núi), ông trụ trời.

→ Cho thấy sau khi trời đất phân khai, có nhiều vị thần tiếp tục công việc kiến thiết thế giới.

4. Chú ý các chi tiết miêu tả công việc và tính khí của thần Sét

  • Hình dạng: mặt mũi nanh ác, tiếng quát tháo dữ dội.
  • Công việc: chuyên thi hành luật pháp ở trần gian, phản ánh sự thịnh nộ của Ngọc Hoàng; có một lưỡi búa đá, khi xử án thì nhảy xuống tận nơi, trỏ ngọn cờ vào đầu tội nhân rồi bổ búa xuống.
  • Tính khí: nóng nảy, hễ Ngọc Hoàng sai là đi ngay, hễ thấy là đánh liền, có lúc đánh lầm giết oan người vô tội.
  • Thường ngủ vào mùa đông, đến tháng Hai, tháng Ba mới dậy làm việc.

5. Chú ý hình dạng và hoạt động của thần Gió

  • Hình dạng: kì quặc, không có đầu (dân gian gọi là thần Cụt Đầu).
  • Bảo bối: một chiếc quạt màu nhiệm.
  • Hoạt động: làm gió nhỏ hay bão lớn, lâu hay mau tuỳ theo lệnh Ngọc Hoàng. Khi phối hợp với thần Mưa, thần Sét là những lúc đáng sợ nhất. Thỉnh thoảng xuống hạ giới chơi vào buổi tối, gây ra gió xoáy giữa đồng bằng.

6. Mục đích của việc tạo ra nhân vật đứa con thần Gió là gì?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Nhân vật đứa con thần Gió được tạo ra để lí giải hiện tượng tự nhiên: vì sao có lúc trời quang mây tạnh mà bỗng nổi gió bất ngờ; vì sao có cây ngải gió báo tin gió, và vì sao lá ngải có thể chữa bệnh cảm gió cho trâu.
  • Cách 2: Việc tạo ra đứa con nghịch ngợm nhằm thể hiện quan niệm về luật trời công bằng: dù là con thần, nếu làm hại đến người dân lương thiện thì cũng bị Ngọc Hoàng trừng phạt. Qua đó gửi gắm ước mơ về một thế giới có công lí.
  • Cách 3: Nhân vật đứa con thần Gió giúp câu chuyện trở nên gần gũi, sinh động, có yếu tố đời thường; đồng thời truyền lại kinh nghiệm dân gian (xem cây ngải để đoán gió, dùng lá ngải chữa cảm cho trâu) cho các thế hệ sau.

IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi

Câu 1: Xác định thời gian, không gian, nhân vật và sự kiện chính trong từng truyện kể.

a) Thần Trụ Trời

  • Thời gian: thuở chưa có vũ trụ, chưa có muôn vật và loài người.
  • Không gian: trời đất là một đám hỗn độn, tối tăm, lạnh lẽo.
  • Nhân vật: Thần Trụ Trời.
  • Sự kiện chính: Thần đội trời lên, đào đất đá đắp cột chống trời → trời cao, khô cứng, thần phá cột, ném đất đá khắp nơi tạo thành núi, đảo, cao nguyên, biển cả → sau đó các vị thần khác tiếp tục công việc kiến thiết thế giới.

b) Thần Sét

  • Thời gian: phiếm chỉ, ước lệ.
  • Không gian: trên Thiên đình và dưới hạ giới.
  • Nhân vật: Thần Sét (còn gọi là Thiên Lôi, ông Sấm).
  • Sự kiện chính: Thần Sét chuyên thi hành luật pháp, phản ánh sự thịnh nộ của Ngọc Hoàng → vì tính nóng nảy giết oan người nên bị Ngọc Hoàng phạt, để gà thần mổ → từ đó hễ nghe tiếng gà là giật mình → thần Sét từng bị Cường Bạo Đại vương đánh thua, làm thiên đình xấu hổ.

c) Thần Gió

  • Thời gian: phiếm chỉ, ước lệ.
  • Không gian: trên Thiên đình và dưới hạ giới.
  • Nhân vật: Thần Gió.
  • Sự kiện chính: Giới thiệu thần Gió và bảo bối chiếc quạt → đứa con thần Gió nghịch ngợm thổi bay bát gạo của một người nghèo → người ấy kiện lên Ngọc Hoàng → Ngọc Hoàng đày con thần Gió xuống trần chăn trâu, sau hoá thành cây ngải gió để báo tin gió và chữa cảm cho trâu.

Câu 2: Một số dấu hiệu giúp người đọc nhận biết ba truyện kể trên thuộc nhóm thần thoại suy nguyên.

  • Nhân vật chính là các vị thần sáng tạo thế giới: thần Trụ Trời tạo ra trời đất, núi, biển; thần Sét cai quản sấm sét; thần Gió cai quản gió bão.
  • Nội dung chủ yếu nhằm lí giải nguồn gốc, sự hình thành của thế giới tự nhiên (trời đất, núi non, biển cả, hiện tượng sấm sét, gió bão).
  • Thời gian trong truyện là thời gian phiếm chỉ, thuộc về buổi đầu khai thiên lập địa.
  • Không gian mang tính vũ trụ, gồm cả Thiên đình và hạ giới.
  • Hình tượng nhân vật mang vóc dáng phi thường, có sức mạnh và phép thuật kì lạ.

Câu 3: Trong cái nhìn của con người thời cổ đại, thần Trụ Trời, thần Gió, thần Sét có hình dạng và tính khí ra sao? Sự tưởng tượng về các vị thần ấy được hình thành trên cơ sở nào?

a) Hình dạng và tính khí:

Vị thần Hình dạng Tính khí
Thần Trụ Trời Thân thể to lớn vô cùng, chân bước một bước từ tỉnh này sang tỉnh nọ Chăm chỉ, cần mẫn, sức khoẻ phi thường, sáng tạo
Thần Sét Mặt mũi nanh ác, tiếng quát tháo dữ dội Nóng nảy, cực oai, cực dữ, đôi khi nóng vội đến mức giết oan
Thần Gió Hình dạng kì quặc, không có đầu Thất thường: có lúc gió nhỏ, lúc bão lớn, lúc gió xoáy

b) Cơ sở hình thành:

  • Dựa trên những hiện tượng tự nhiên có thật:
    • Thần Trụ Trời: từ việc trời và đất là hai cõi riêng biệt, ở giữa có núi non, biển cả → tưởng tượng có vị thần khổng lồ tách trời khỏi đất.
    • Thần Sét: từ hiện tượng sấm sét trên trời (tiếng nổ vang, tia chớp giật, có thể đánh chết người, thường xuất hiện vào mùa mưa giông tháng Hai, tháng Ba).
    • Thần Gió: từ hiện tượng gió thổi trong tự nhiên (gió to, gió nhỏ, gió xoáy, gió bão).
  • Dựa trên trình độ nhận thức của người nguyên thuỷ: chưa có khoa học để giải thích, mọi hiện tượng tự nhiên đều mới mẻ, lạ lẫm nên được hình dung là do các vị thần tạo ra.

Câu 4: Công việc của thần Trụ Trời, thần Sét và thần Gió là gì? Công việc đó được miêu tả như thế nào, nhằm mục đích gì?

Vị thần Công việc Cách miêu tả Mục đích
Thần Trụ Trời Tạo ra trời đất, núi non, biển cả Đội trời, đào đất đá, đắp cột chống trời, phá cột ném đá đi khắp nơi Lí giải sự ra đời của vũ trụ, trời đất, núi sông, biển cả
Thần Sét Thi hành luật pháp ở trần gian, trừng trị kẻ có tội Có lưỡi búa đá, nhảy xuống tận nơi, trỏ ngọn cờ vào đầu tội nhân, bổ búa xuống Lí giải hiện tượng sấm sét trong tự nhiên; thể hiện khát vọng có thế lực trừng trị kẻ ác
Thần Gió Làm gió nhỏ, gió lớn, bão lớn theo lệnh Ngọc Hoàng Dùng chiếc quạt màu nhiệm; phối hợp với thần Mưa, thần Sét gây bão; xuống hạ giới tạo gió xoáy Lí giải hiện tượng gió bão trong tự nhiên

→ Công việc của các vị thần đều gắn với việc lí giải các hiện tượng tự nhiên mà người xưa quan sát được, đồng thời gửi gắm khát vọng chinh phục tự nhiên.

Câu 5: Hình tượng thần Trụ Trời, thần Sét và thần Gió phản ánh những quan niệm, nhận thức gì của người xưa về thế giới tự nhiên? Những khát vọng nào đã được họ gửi vào các hình tượng đó?

a) Quan niệm, nhận thức:

  • Vạn vật đều có linh hồn: mọi hiện tượng tự nhiên (trời, đất, sấm, sét, gió) đều do một vị thần cai quản, có ý chí, tính cách như con người.
  • Tin vào quyền năng tối cao của Ngọc Hoàng – đấng tạo hoá điều khiển muôn loài, muôn vật, có luật lệ công bằng (con thần Gió phạm tội cũng bị đày).
  • Nhận thức sơ khai về tự nhiên: lí giải sự hình thành vũ trụ, hiện tượng sấm sét, gió bão bằng tư duy hồn nhiên, ngây thơ nhưng giàu trí tưởng tượng.

b) Khát vọng:

  • Khát vọng khám phá, lí giải các hiện tượng tự nhiên kì bí.
  • Khát vọng chinh phục, làm chủ thiên nhiên (qua hình tượng thần Trụ Trời tạo ra vũ trụ).
  • Khát vọng về công lí: có thế lực trừng trị kẻ ác (thần Sét), có luật trời công bằng (Ngọc Hoàng phạt cả con thần Gió).
  • Khát vọng đúc kết kinh nghiệm sống truyền lại cho đời sau (cây ngải báo gió, chữa cảm cho trâu).

Câu 6: Chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong cách xây dựng nhân vật của chùm truyện. Từ đó, nhận xét về thái độ, tình cảm của người xưa đối với thế giới tự nhiên.

a) Đặc điểm nổi bật trong cách xây dựng nhân vật:

  • Các vị thần đều có vóc dáng phi thường, sức mạnh và quyền năng kì lạ → sử dụng bút pháp phóng đại, lãng mạn, bay bổng.
  • Các vị thần được nhân hoá, có ngoại hình, tính cách, cảm xúc như con người (thần Sét nóng nảy, thần Gió có con nghịch ngợm…).
  • Mỗi vị thần đều gắn với một hiện tượng tự nhiên cụ thể, hình dạng và tính khí tương ứng với đặc điểm của hiện tượng đó.

b) Thái độ, tình cảm của người xưa:

  • Tôn kính, ngưỡng mộ trước sức mạnh kì vĩ của tự nhiên.
  • Vừa sợ hãi, vừa yêu mến, gần gũi với thế giới tự nhiên: sợ trước sự dữ dội của sấm sét, gió bão; yêu mến vì xem vạn vật như có linh hồn, có cảm xúc như con người.
  • Khao khát hiểu biết và chinh phục tự nhiên.

Câu 7: Trong những điều làm nên vẻ đẹp “một đi không trở lại” của thần thoại, có niềm tin thiêng liêng về một thế giới mà ở đó vạn vật đều có linh hồn. Theo bạn, niềm tin ấy có còn sức hấp dẫn với con người hiện đại không? Vì sao?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1 (Vẫn còn sức hấp dẫn): Niềm tin “vạn vật đều có linh hồn” vẫn còn sức hấp dẫn với con người hiện đại. Bằng chứng là người Việt vẫn duy trì các lễ hội, phong tục, tín ngưỡng thờ thần (thờ Thần Nông, Thần Tài, Thổ Công…), vẫn cầu trời khấn phật, xem ngày lành tháng tốt. Niềm tin ấy mang đến cho con người một điểm tựa tinh thần, giúp con người sống có niềm tin, biết hướng thiện, biết tôn trọng và yêu quý thiên nhiên.
  • Cách 2 (Vẫn còn nhưng cần tỉnh táo): Niềm tin ấy vẫn còn sức hấp dẫn nhưng cần được tiếp nhận một cách tỉnh táo. Nó hấp dẫn vì giúp con người thấy thế giới quanh mình thi vị, giàu ý nghĩa, biết trân trọng tự nhiên. Tuy nhiên, con người hiện đại cần biến niềm tin thành động lực, điểm tựa tinh thần chứ không nên biến thành sự mê tín, ám ảnh.
  • Cách 3 (Sức hấp dẫn giảm đi): Với con người hiện đại, niềm tin ấy đã giảm sức hấp dẫn vì khoa học đã giải thích được phần lớn hiện tượng tự nhiên. Tuy vậy, nó vẫn còn giá trị về mặt văn hoá và thẩm mĩ: giúp ta hiểu được cách tổ tiên nhìn thế giới, làm phong phú đời sống tinh thần qua văn học, lễ hội, nghệ thuật.

V. Kết nối đọc – viết

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích một chi tiết kì ảo trong một truyện thần thoại đã học hoặc tự đọc thêm.

Đoạn văn tham khảo 1 — Chi tiết thần Trụ Trời đội trời, đắp cột chống trời:

Một trong những chi tiết kì ảo đặc sắc nhất của truyện Thần Trụ Trời là cảnh thần đội trời lên rồi đào đất, đá đắp thành một cây cột vừa to vừa cao để chống trời. Chi tiết này gây ấn tượng mạnh bởi vóc dáng phi thường của vị thần — thân thể to lớn không biết bao nhiêu mà kể, chân bước một bước từ tỉnh này sang tỉnh nọ — kết hợp với một hành động kì vĩ đến mức không tưởng. Cây cột càng cao, bầu trời càng được nâng lên, để từ đó trời đất phân tách rõ ràng: đất phẳng như cái mâm vuông, trời như cái bát úp. Chi tiết kì ảo này lí giải một cách hồn nhiên về sự ra đời của vũ trụ, đồng thời thể hiện trí tưởng tượng phong phú và khát vọng chinh phục, làm chủ thiên nhiên của người Việt cổ. Qua hình tượng kì vĩ ấy, người xưa gửi gắm niềm tin và lòng ngưỡng mộ với một thế giới mà ở đó các vị thần có sức mạnh sáng tạo phi thường.

Đoạn văn tham khảo 2 — Chi tiết đứa con thần Gió hoá thành cây ngải gió:

Trong truyện Thần Gió, chi tiết đứa con thần Gió bị Ngọc Hoàng đày xuống hạ giới rồi hoá thành cây ngải gió là một chi tiết kì ảo giàu ý nghĩa. Vì nghịch ngợm thổi bay bát gạo của một người nghèo đang lo cho vợ ốm, đứa con thần Gió bị trừng phạt: phải đi chăn trâu cho người mất gạo, rồi hoá thân thành cây ngải gió để báo tin gió cho thiên hạ. Mỗi khi cây cuốn bông cuốn lá lại là dấu hiệu trời sắp nổi gió mưa; lá cây ngải còn dùng để chữa bệnh cảm gió cho trâu. Chi tiết kì ảo này vừa lí giải một hiện tượng dân gian quen thuộc (cây ngải gió báo thời tiết), vừa truyền lại kinh nghiệm sống cho đời sau. Đồng thời, chi tiết còn gửi gắm khát vọng về lẽ công bằng: dù là con thần, nếu làm hại người dân lương thiện thì cũng phải chịu trừng phạt. Qua đó, ta thấy được thái độ vừa tôn kính, vừa gần gũi của người xưa đối với thế giới tự nhiên.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện