Soạn bài: Củng cố, mở rộng bài 3 (trang 94) – Ngữ văn 10 tập 1

Câu 1: Ba văn bản đọc trong bài (Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, Yêu và đồng cảm, Chữ bầu lên nhà thơ) đã giúp bạn hiểu được gì về đặc điểm nội dung và hình thức của văn nghị luận?

a) Về nội dung:

  • Văn nghị luận bàn luận về một vấn đề của đời sống xã hội (vai trò của hiền tài), một tư tưởng đạo đức – nghệ thuật (sự đồng cảm), hoặc một vấn đề văn học (bản chất của nghề thơ).
  • Người viết bộc lộ rõ quan điểm, tư tưởng của mình về vấn đề được bàn luận.
  • Nội dung văn nghị luận đa dạng: có thể là vấn đề chính trị – xã hội, đạo đức, văn học, nghệ thuật…

b) Về hình thức:

  • Văn bản được tổ chức chặt chẽ qua một hệ thống luận đề – luận điểm – lí lẽ – bằng chứng.
  • Các đoạn văn trong bài mạch lạc, lô-gíc; các câu được liên kết bởi phép lặp, phép thế, phép nối
  • Ngôn ngữ, giọng điệu phù hợp với nội dung và đối tượng người đọc, có sức thuyết phục cao.
  • Người viết có thể kết hợp các yếu tố tự sự, biểu cảm để tăng hiệu quả thuyết phục.

Câu 2: Theo bạn, trong văn nghị luận, yếu tố tự sự có thể sử dụng ở những trường hợp nào và với mức độ ra sao?

a) Các trường hợp có thể sử dụng yếu tố tự sự trong văn nghị luận:

  • Khi mở đầu bài viết: dùng câu chuyện ngắn để thu hút sự chú ý và dẫn dắt vào vấn đề một cách tự nhiên (ví dụ: câu chuyện chú bé sắp xếp đồ đạc trong Yêu và đồng cảm).
  • Khi đưa ra bằng chứng: kể lại một câu chuyện, một sự việc cụ thể từ thực tế hoặc lịch sử để minh chứng cho lí lẽ (ví dụ: chuyện Tôn-xtôi chữa đi chữa lại Chiến tranh và hoà bình, Phlô-be cân nhắc chữ “trên cân tiểu li” trong Chữ bầu lên nhà thơ).
  • Khi cần làm cho lập luận sinh động: kể chuyện giúp các luận điểm trừu tượng trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn.
  • Khi muốn tạo cảm xúc: câu chuyện giàu tính tự sự giúp khơi gợi sự đồng cảm, tin tưởng ở người đọc.

b) Mức độ sử dụng:

  • Yếu tố tự sự chỉ nên sử dụng ở mức độ vừa phải, giữ vai trò bổ trợ chứ không thay thế lí lẽ.
  • Cần đảm bảo các câu chuyện luôn gắn chặt với luận điểm, phục vụ mục đích thuyết phục.
  • Nếu sử dụng quá nhiều, bài viết dễ chuyển sang văn tự sự, làm mất đặc trưng của văn nghị luận.

Câu 3: Lập bảng so sánh ba văn bản theo các tiêu chí: luận đề, cách triển khai luận điểm, cách nêu lí lẽ và bằng chứng, lí do chọn cách triển khai đó

Tiêu chí Hiền tài là nguyên khí của quốc gia Yêu và đồng cảm Chữ bầu lên nhà thơ
Luận đề Khẳng định vai trò của hiền tài đối với quốc gia và ý nghĩa của việc dựng bia ghi danh tiến sĩ. Vai trò của sự đồng cảm trong cuộc sống và trong sáng tạo nghệ thuật. Bản chất của lao động thơ và phẩm chất của người làm thơ chân chính — “chữ bầu lên nhà thơ”.
Cách triển khai luận điểm Triển khai từ nguyên lí chung (“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”) đến việc làm cụ thể (dựng bia tiến sĩ) và trách nhiệm của kẻ sĩ. Lối kết cấu đồng tâm, các luận điểm xoay quanh luận đề chính. Triển khai từ câu chuyện cụ thể (chú bé sắp xếp đồ đạc) đến lí lẽ chung về sự đồng cảm trong nghệ thuật, rồi mở rộng đến trẻ em và bài học giữ tâm hồn thơ trẻ. Triển khai bằng cách đối thoại, tranh luận với các quan niệm khác nhau; đi từ đặc thù của ngôn từ thơ đến vai trò của lao động chữ, kết bằng nhận định “chữ bầu lên nhà thơ”.
Cách nêu lí lẽ và bằng chứng Lí lẽ chặt chẽ, sắc bén; bằng chứng là các việc làm cụ thể của triều đình (khoa danh, tước trật, tháp Nhạn, Long hổ, tiệc Văn hỉ, bia tiến sĩ). Lí lẽ kết hợp với bằng chứng đời thường (chú bé sắp xếp đồ đạc, cái nhìn của các nghề khác nhau về gốc cây) và so sánh nghệ thuật (hoạ sĩ – nhà thơ, vẽ anh hùng – thiếu nữ). Lí lẽ giàu tính trí tuệ và hình ảnh; bằng chứng là các nhà văn, nhà thơ lớn trong và ngoài nước (Tôn-xtôi, Phlô-be, Lý Bạch, Gớt, Ta-go, Huy-gô…).
Lí do chọn cách triển khai Vấn đề mang tính quốc gia, trọng đại; người viết là vâng mệnh vua nên cần lối lập luận trang trọng, từ tổng quát đến cụ thể để khẳng định tính chính danh và tăng sức thuyết phục. Vấn đề thuộc đời sống nội tâm – nghệ thuật, cần đi từ trải nghiệm gần gũi để người đọc dễ tiếp nhận, sau đó nâng dần lên thành tư tưởng triết lí về cái đẹp. Vấn đề bàn về nghề thơ — vốn dễ bị hiểu sai; tác giả chọn cách đối thoại, tranh luận với các định kiến để khẳng định quan điểm mới mẻ, độc đáo của mình.

Câu 4: Thảo luận về cách nhận diện đặc điểm riêng của văn bản nghị luận xã hội

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

Cách 1 — Nhận diện qua đề tài và luận đề:

  • Luận đề thường là một vấn đề xã hội đang được quan tâm: một hiện tượng đời sống (sự vô cảm, lối sống ảo, tinh thần hiếu học…) hoặc một tư tưởng đạo lí (lòng yêu thương, ý chí vươn lên, tinh thần trách nhiệm…).
  • Khác với nghị luận văn học (bàn về tác phẩm, tác giả), nghị luận xã hội gắn liền với thực tiễn đời sống.

Cách 2 — Nhận diện qua luận điểm, lí lẽ, bằng chứng:

  • Luận điểm hướng tới phân tích mặt đúng – sai, lợi – hại của hiện tượng; chỉ ra nguyên nhân, hậu quả, giải pháp.
  • Lí lẽ dựa trên đạo đức, lẽ phải, kinh nghiệm sống chung.
  • Bằng chứng thường lấy từ đời sống thực tế: con người, sự kiện, số liệu, câu chuyện gần gũi mà người đọc dễ kiểm chứng.

Cách 3 — Nhận diện qua mục đích và giọng điệu:

  • Mục đích: không chỉ thuyết phục người đọc đồng tình với quan điểm, mà còn kêu gọi hành động, thay đổi nhận thức.
  • Giọng điệu: thường thân thiện, gần gũi nhưng vẫn nghiêm túc, dứt khoát; có thể kết hợp cảm xúc cá nhân để tăng sức lay động.

Câu 5: Tìm đọc thêm một số văn bản nghị luận có liên quan đến nội dung các văn bản đã học

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

Cách 1 — Nhóm văn bản bàn về việc trọng dụng nhân tài (kết nối với Hiền tài là nguyên khí của quốc gia):

  • Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm — viết theo lệnh vua Quang Trung, kêu gọi người tài ra giúp nước.
  • Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn — bàn về tầm nhìn của người trị nước, trong đó có việc trọng dụng người tài.
  • Các bài phát biểu, diễn văn hiện đại về chính sách giáo dục, đào tạo nhân tài của đất nước.

Cách 2 — Nhóm văn bản bàn về sáng tạo nghệ thuật (kết nối với Yêu và đồng cảmChữ bầu lên nhà thơ):

  • Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh – Hoài Chân (trích Thi nhân Việt Nam) — bàn về phong trào Thơ mới.
  • Các bài tiểu luận, tản văn của Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên về nghề viết, nghề thơ.
  • Các bài phê bình nghệ thuật bàn về vai trò của cảm xúc, kĩ thuật và lao động trong sáng tạo.

Cách 3 — Nhóm văn bản bàn về lòng đồng cảm, tình yêu thương (kết nối với Yêu và đồng cảm):

  • Các bài viết, tản văn về lòng nhân ái, sự sẻ chia trong cuộc sống hiện đại.
  • Các bài luận về giáo dục cảm xúc, vai trò của lòng đồng cảm trong gia đình và xã hội.

→ Khi đọc thêm, em cần chú ý so sánh với các văn bản đã học để thấy được sự đa dạng trong cách triển khai luận đề, lí lẽ và bằng chứng của văn nghị luận.

ThS. Nguyễn Thành Đạt

ThS. Nguyễn Thành Đạt

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THPT

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ CNTT, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 10+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Hoàng Thế Thiện