Giải bài tập SGK: Bài 13: Việt Nam và Biển Đông – Lịch sử 11

Câu hỏi mở đầu trang 80

Đề bài: Biển Việt Nam là một phần của Biển Đông. Việt Nam có 21 tỉnh, thành phố giáp biển, cứ 100 km² lãnh thổ đất liền có 1 km bờ biển, cao gấp sáu lần tỉ lệ trung bình của thế giới. Theo em, biển có vai trò như thế nào đối với sự phát triển của đất nước? Những hình ảnh dưới đây gợi cho em suy nghĩ gì về việc bảo vệ, thực thi chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông?

Lời giải:

Vai trò của biển đối với sự phát triển của đất nước:

  • Biển có vai trò rất quan trọng đối với Việt Nam về quốc phòng – an ninh, kinh tếgiao lưu quốc tế.
  • Cung cấp nguồn tài nguyên dồi dào (hải sản, dầu khí, khoáng sản, du lịch,…) phục vụ phát triển đất nước.
  • “cửa ngõ” để Việt Nam giao lưu kinh tế và hợp tác với các nước trên thế giới.

Suy nghĩ về việc bảo vệ, thực thi chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông:

  • Việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là nhiệm vụ thiêng liêng của mọi công dân Việt Nam.
  • Cần kết hợp đấu tranh bằng biện pháp hoà bình dựa trên luật pháp quốc tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng (như tàu Kiểm ngư, các chiến hạm hải quân,…).
  • Mỗi người dân, đặc biệt là học sinh, cần có trách nhiệm trong việc gìn giữ biển đảo Tổ quốc.

1. Tầm quan trọng của Biển Đông đối với Việt Nam

Câu hỏi trang 81

Đề bài: Trình bày tầm quan trọng của Biển Đông đối với Việt Nam về quốc phòng, an ninh.

Lời giải:

Tầm quan trọng của Biển Đông đối với Việt Nam về quốc phòng, an ninh:

  • Việt Nam giáp Biển Đông ở ba phía (đông, nam và tây nam), với đường bờ biển dài khoảng 3 260 km, từ tỉnh Quảng Ninh đến tỉnh An Giang.
  • Biển Đông là tuyến phòng thủ phía đông của đất nước.
  • Hệ thống các đảo, quần đảo của Việt Nam trên Biển Đông hợp thành tuyến phòng thủ bảo vệ:
    • Vùng trời
    • Vùng biển
    • Vùng đất liền
  • Nhiều vị trí có ý nghĩa chiến lược, ví dụ:
    • Đảo Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị) – “vọng gác tiền tiêu” ở phía nam vịnh Bắc Bộ.
    • Các đảo, quần đảo xa bờ giúp mở rộng phạm vi kiểm soát biển.

Câu 1 trang 82

Đề bài: Nêu tầm quan trọng của Biển Đông đối với Việt Nam về phát triển các ngành kinh tế.

Lời giải:

Tầm quan trọng của Biển Đông đối với Việt Nam về kinh tế:

  • Vị trí địa lí và tài nguyên của Biển Đông tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam phát triển kinh tế biển đa dạng với các ngành mũi nhọn: thương mại biển, khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, khai thác khoáng sản, sửa chữa và đóng tàu, du lịch,…
  • Tài nguyên phong phú:
    • Trữ lượng cá có thể khai thác hằng năm khoảng 2,3 triệu tấn.
    • Trữ lượng dầu mỏ và khí đốt đã xác minh là gần 550 triệu tấn dầutrên 610 tỉ m³ khí.
    • Vùng ven biển có quặng sa khoáng: ti-tan, thiếc, vàng, sắt, man-gan, đất hiếm,… trong đó cát nặng, cát đen là nguồn tài nguyên quý.
  • Du lịch biển: Đường bờ biển dài có nhiều bãi cát, vịnh, hang động tự nhiên đẹp như Hạ Long, Cửa Lò, Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc,… → tạo điều kiện để Việt Nam trở thành “điểm du lịch hấp dẫn”.
  • Cảng biển: Dọc bờ biển có thể xây dựng:
    • Cảng nước sâu: Cái Lân, Nghi Sơn, Dung Quất, Vân Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu,…
    • Cảng trung bình: Hải Phòng, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang,…
  • Biển Đông là “cửa ngõ” để Việt Nam giao lưu kinh tế và hợp tác quốc tế; hàng hoá xuất – nhập khẩu chủ yếu được vận chuyển bằng đường biển qua Biển Đông.

Câu 2 trang 82

Đề bài: Liên hệ với địa phương em hoặc địa phương khác mà em biết (tỉnh/thành phố), chỉ ra một số vai trò của biển đối với việc phát triển kinh tế.

Lời giải:

Ví dụ liên hệ – vai trò của biển đối với phát triển kinh tế ở một số địa phương:

Ví dụ 1: Tỉnh Khánh Hoà

  • Du lịch biển: Nha Trang là một trong những trung tâm du lịch biển lớn của cả nước, thu hút du khách trong và ngoài nước.
  • Cảng biển: Vịnh Cam Ranh là một trong những cảng nước sâu tốt nhất châu Á.
  • Đánh bắt và nuôi trồng hải sản: Nghề cá phát triển mạnh, đặc biệt là nuôi tôm hùm, cá lồng bè.

Ví dụ 2: Thành phố Hải Phòng

  • Cảng biển: Hải Phòng là cảng biển lớn nhất miền Bắc, cửa ngõ giao thương quan trọng.
  • Du lịch: Quần đảo Cát Bà với hơn 300 đảo lớn nhỏ – địa bàn du lịch trọng điểm.
  • Công nghiệp – dịch vụ biển: Đóng tàu, sửa chữa tàu, logistics.

(Các em có thể liên hệ với địa phương mình đang sinh sống để nêu vai trò cụ thể của biển)

2. Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa

a) Quá trình Việt Nam xác lập chủ quyền và quản lí

Câu 1 trang 86

Đề bài: Các tư liệu 1, 2 cung cấp cho em thông tin gì về hoạt động xác lập, thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa?

Lời giải:

Thông tin từ Tư liệu 1 (Phủ biên tạp lục – Lê Quý Đôn):

  • Họ Nguyễn (chúa Nguyễn) đã tổ chức đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào.
  • Mỗi năm cứ tháng Hai nhận giấy sai đi, mang lương ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền nhỏ ra biển, đến kì tháng Tám thì về.
  • Đội thu lượm hoá vật của tàu như gươm, hoa bạc, đồ sứ,… và các loại hải sản quý (vỏ đồi mồi, hải sâm, ốc,…).
  • Ngoài ra, chúa Nguyễn còn đặt đội Bắc Hải hoạt động ở khu vực Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên.
  • → Tư liệu 1 cho thấy các chúa Nguyễn đã tổ chức chính thức, có hệ thống hoạt động khai thác và thực thi chủ quyền tại Hoàng Sa và các đảo phía nam.

Thông tin từ Tư liệu 2 (bản ghi chú của Cố vấn pháp luật Bộ Ngoại giao Pháp):

  • Việc chiếm hữu quần đảo Trường Sa do Pháp tiến hành năm 1930 – 1932nhân danh Hoàng đế An Nam (tức Việt Nam).
  • Đây là việc thực thi chủ quyền có từ trước của Việt Nam.
  • Pháp – với tư cách là nước bảo hộ – chỉ kế thừa và tiếp tục thực hiện chủ quyền của Việt Nam.
  • → Tư liệu 2 khẳng định chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa đã có từ trước khi Pháp đến, được cả các cơ quan pháp lí Pháp thừa nhận.

Câu 2 trang 86

Đề bài: Trình bày khái quát quá trình xác lập chủ quyền và quản lí liên tục của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trong lịch sử.

Lời giải:

Quá trình xác lập và quản lí chủ quyền có thể chia thành 3 giai đoạn:

a) Trước năm 1884:

  • Nhiều tập bản đồ của các triều đại quân chủ Việt Nam như Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1686), Giáp Ngọ niên bình Nam đồ (1774), Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838),… đã thể hiện quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.
  • Các công trình sử học, địa lí (Đại Việt sử ký tục biên, Phủ biên tạp lục, Đại Nam thực lục,…) ghi chép về hoạt động thực thi, bảo vệ chủ quyền.
  • Việc xác lập và quản lí được khẳng định qua hoạt động của đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải (từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XIX).
  • Dưới thời vua Gia Longvua Minh Mạng: tổ chức thuỷ quân chuyên trách; năm 1835, vua Minh Mạng cho dựng miếu, trồng cây ở một số đảo thuộc Hoàng Sa.
  • Thời chúa Nguyễn: quần đảo Hoàng Sa thuộc phủ Quảng Nghĩa (Quảng Ngãi). Thời nhà Nguyễn: quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi.

b) Từ năm 1884 đến năm 1975:

  • Cuối thế kỉ XIX: Pháp (đại diện ngoại giao của Triều Nguyễn) tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam, quản lí và bảo vệ hai quần đảo.
  • Năm 1909: Pháp có thông báo về các cuộc khảo sát trái phép của Trung Quốc tại Hoàng Sa.
  • Năm 1925 – 1927: Pháp tiến hành các cuộc khảo sát khoa học đầu tiên tại Hoàng Sa và Trường Sa.
  • Quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Bà Rịa, quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên.
  • Từ những năm 30 của thế kỉ XX: Pháp xây dựng cột mốc chủ quyền, đèn biển, trạm khí tượng, trạm vô tuyến điện tại các quần đảo.
  • Tháng 9 – 1951: chủ quyền của Việt Nam tiếp tục được tuyên bố tại Hội nghị Hoà bình Xan Phran-xi-xcô mà không bị các quốc gia tham dự phản đối.
  • Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954): hai quần đảo được đặt dưới sự quản lí hành chính của các chính quyền ở miền Nam Việt Nam.
  • Việt Nam Cộng hoà liên tục thực thi chủ quyền (ban hành văn bản, cử quân đồn trú, dựng bia, treo cờ). Quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng), quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Tháng 4 – 1975: Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam triển khai lực lượng thực thi chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.

c) Từ sau năm 1975 đến nay:

  • Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục quản lí và thực thi chủ quyền.
  • Năm 1982: thành lập huyện Hoàng Sa (thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, từ 1997 thuộc thành phố Đà Nẵng) và huyện Trường Sa (thuộc tỉnh Đồng Nai, từ 7-1989 thuộc tỉnh Khánh Hoà).
  • Từ tháng 7 – 2025: huyện Hoàng Sa đổi thành đặc khu Hoàng Sa (thành phố Đà Nẵng), huyện Trường Sa đổi thành đặc khu Trường Sa (tỉnh Khánh Hoà) – là hai trong 13 đặc khu của cả nước.

b) Cuộc đấu tranh bảo vệ, thực thi chủ quyền

Câu hỏi trang 88

Đề bài: Trình bày nét chính về cuộc đấu tranh bảo vệ và thực thi chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông.

Lời giải:

Nét chính về cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông của Nhà nước Việt Nam qua các thời kì:

Giai đoạn Hoạt động chính
Trước năm 1884 Dưới Triều Nguyễn, các đội thuỷ quân chuyên trách công việc bảo vệ, thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa được tổ chức. Từ thời chúa Nguyễn, Vương triều Tây Sơn, các đội Hoàng Sa, Bắc Hải có nhiệm vụ tuần tiễu, giữ gìn vùng biển, ứng chiến với nạn cướp biển và những xâm phạm tại Hoàng Sa
Từ 1884 đến 1954 Năm 1939, chính quyền thực dân Pháp gửi công hàm phản đối việc Nhật Bản tuyên bố kiểm soát một số đảo thuộc Trường Sa. Năm 1946 – 1947, Pháp cho hải quân trú đóng và yêu cầu quân đội Trung Hoa Dân quốc rút khỏi các đảo đã chiếm đóng trái phép
Từ 1954 đến 1975 Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tuyên bố khẳng định chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Tháng 1 – 1974, quân đội Việt Nam Cộng hoà (quân đội Sài Gòn) thất bại trong cuộc chiến đấu ở quần đảo Hoàng Sa trước sự tấn công của quân đội Trung Quốc
Từ sau 1975 đến nay Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiên trì đấu tranh ngoại giao và pháp lí để khẳng định, bảo vệ chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa. Tháng 3 – 1988, nhiều chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đã hi sinh anh dũng khi chiến đấu bảo vệ chủ quyền tại các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao trước cuộc tấn công của quân đội Trung Quốc

3. Chủ trương của Việt Nam trong giải quyết các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông

Câu 1 trang 90

Đề bài: Khai thác Tư liệu 3 (tr. 89) và thông tin trong mục, hãy trình bày chủ trương của Việt Nam khi giải quyết các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Lời giải:

Chủ trương của Việt Nam khi giải quyết các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông:

  • Nhà nước Việt Nam thực hiện các biện pháp toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế và quân sự để bảo vệ quyền, chủ quyền và các lợi ích hợp pháp.
  • Đối với các tranh chấp chủ quyền: Việt Nam chủ trương giải quyết bằng biện pháp hoà bình, trên tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế.
  • Cụ thể:
    • Ban hành các văn bản pháp luật khẳng định chủ quyền: Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (5–1977); các Sách trắng (1979, 1981, 1988); Luật Biên giới quốc gia (2003); Bộ luật Hàng hải Việt Nam (2005, 2015).
    • Tham gia Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
    • Thông qua Luật Biển Việt Nam năm 2012.
    • Thúc đẩy và thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) – kí năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc.
    • Theo Tư liệu 3: Điều 4 của DOC quy định các bên liên quan giải quyết tranh chấp bằng các phương tiện hoà bình, không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực, phù hợp với luật pháp quốc tế, kể cả UNCLOS 1982.
  • Tăng cường tiềm lực quốc gia: phát triển kinh tế biển gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh trên biển; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển.

Câu 2 trang 90

Đề bài: Nêu một số ví dụ thực tiễn về việc thực hiện chủ trương này của Việt Nam mà em biết.

Lời giải:

Một số ví dụ thực tiễn:

  • Về pháp lí:
    • Năm 1994: Việt Nam phê chuẩn tham gia Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
    • Năm 2012: Quốc hội thông qua Luật Biển Việt Nam.
  • Về ngoại giao:
    • Tham gia kí kết Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002.
    • Cùng ASEAN thúc đẩy đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).
    • Kiên trì đấu tranh ngoại giao, gửi công hàm phản đối các hành vi xâm phạm chủ quyền.
  • Về kinh tế – quốc phòng:
    • Xây dựng lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư để bảo vệ chủ quyền và hỗ trợ ngư dân bám biển.
    • Hiện đại hoá lực lượng Hải quân Nhân dân Việt Nam (như tàu hộ vệ tên lửa 016 Quang Trung,…).
    • Phát triển kinh tế biển kết hợp bảo đảm an ninh quốc phòng.
  • Về đối ngoại nhân dân:
    • Tổ chức nhiều triển lãm, hội thảo quốc tế công bố bằng chứng chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.

Luyện tập – Vận dụng

Luyện tập 1 trang 90

Đề bài: Lập sơ đồ tư duy về tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông trên các mặt quốc phòng, an ninh, kinh tế đối với Việt Nam.

Lời giải:

Gợi ý dữ liệu cho sơ đồ tư duy:

Nhánh 1: Về quốc phòng, an ninh

  • Biển Đông là tuyến phòng thủ phía đông của đất nước
  • Hệ thống đảo, quần đảo hợp thành tuyến phòng thủ bảo vệ vùng trời, vùng biển, vùng đất liền
  • Nhiều vị trí chiến lược: đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị), vịnh Cam Ranh (Khánh Hoà),…

Nhánh 2: Về kinh tế

  • Ngành thuỷ sản: trữ lượng cá khai thác 2,3 triệu tấn/năm
  • Dầu khí: 550 triệu tấn dầu, hơn 610 tỉ m³ khí
  • Khoáng sản: ti-tan, thiếc, vàng, sắt, man-gan, đất hiếm,…
  • Du lịch biển: Hạ Long, Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc,…
  • Cảng biển: Cái Lân, Dung Quất, Cam Ranh, Vũng Tàu, Hải Phòng,…
  • Giao thương quốc tế: “cửa ngõ” xuất – nhập khẩu

Luyện tập 2 trang 90

Đề bài: Sử dụng tư liệu lịch sử để chứng minh rằng: Việt Nam là Nhà nước đầu tiên xác lập, quản lí liên tục và thực thi, bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Lời giải:

Chứng minh Việt Nam là Nhà nước đầu tiên xác lập, quản lí liên tục và thực thi, bảo vệ chủ quyền:

Thứ nhất – Bằng chứng khảo cổ học và bản đồ cổ:

  • Ngay từ đầu Công nguyên, người Việt đã có hoạt động kinh tế và văn hoá ở Biển Đông.
  • Nhiều bản đồ cổ của Việt Nam đã thể hiện Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam:
    • Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1686)
    • Giáp Ngọ niên bình Nam đồ (1774)
    • Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838)
  • Bản đồ của người phương Tây cũng thừa nhận: Bộ Át lát thế giới (1827), An Nam đại quốc hoạ đồ (1838).

Thứ hai – Bằng chứng qua các đội Hoàng Sa, Bắc Hải:

  • Từ thế kỉ XVII, các chúa Nguyễn đã tổ chức đội Hoàng Sa (70 suất, lấy người xã An Vĩnh) hoạt động tại quần đảo Hoàng Sa.
  • Đội Bắc Hải hoạt động ở các đảo phía nam (Côn Lôn, Hà Tiên).
  • Các hoạt động này duy trì liên tục qua thời chúa Nguyễn, Tây Sơn đến đầu thế kỉ XIX.

Thứ ba – Bằng chứng dưới Triều Nguyễn:

  • Vua Gia Long, Minh Mạng tổ chức các đội thuỷ quân chuyên trách bảo vệ, thực thi chủ quyền.
  • Năm 1835: vua Minh Mạng cho dựng miếu, trồng cây tại Hoàng Sa.
  • Chú trọng vẽ bản đồ, cắm mốc chủ quyền.

Thứ tư – Bằng chứng thời Pháp thuộc và sau này:

  • Tư liệu 2 cho thấy: chính Cố vấn pháp luật Bộ Ngoại giao Pháp thừa nhận việc Pháp chiếm hữu Trường Sa (1930–1932) là “nhân danh Hoàng đế An Nam” – tức thực thi chủ quyền vốn có của Việt Nam.
  • Năm 1951: tại Hội nghị Xan Phran-xi-xcô, chủ quyền của Việt Nam được tuyên bố mà không có nước nào phản đối.
  • Từ sau năm 1975 đến nay, Nhà nước Việt Nam tiếp tục quản lí và thực thi liên tục chủ quyền.

→ Các bằng chứng lịch sử trên đã khẳng định Việt Nam là Nhà nước đầu tiên xác lập, quản lí liên tục và thực thi, bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Luyện tập 3 trang 90

Đề bài: Giải thích vì sao Việt Nam chủ trương giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hoà bình?

Lời giải:

Việt Nam chủ trương giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình vì:

  • Phù hợp với truyền thống dân tộc: Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hoà bình, luôn giải quyết mâu thuẫn bằng đối thoại, thương lượng.
  • Phù hợp với luật pháp quốc tế: Đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS)Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).
  • Giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định trong khu vực:
    • Biển Đông là tuyến hàng hải quốc tế quan trọng, liên quan đến nhiều quốc gia.
    • Xung đột vũ trang sẽ gây thiệt hại lớn về người, kinh tế cho tất cả các bên.
  • Tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước: Môi trường hoà bình là tiền đề để Việt Nam phát triển kinh tế – xã hội, hội nhập quốc tế.
  • Tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế: Giải quyết bằng biện pháp hoà bình giúp Việt Nam nhận được sự đồng tình, ủng hộ của các nước và tổ chức quốc tế.
  • Bảo vệ vững chắc chủ quyền: Kết hợp đấu tranh ngoại giao, pháp lí với tăng cường tiềm lực quốc phòng là cách bảo vệ chủ quyền hiệu quả và bền vững nhất.

Vận dụng 1 trang 90

Đề bài: Là một học sinh, em cần làm gì để góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc?

Lời giải:

Là học sinh, em có thể làm những việc sau để góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo:

1. Học tập, tìm hiểu:

  • Học tốt các môn học, đặc biệt là Lịch sử, Địa lí để hiểu rõ về chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
  • Chủ động tìm hiểu các bằng chứng lịch sử, pháp lí về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa.

2. Tuyên truyền, chia sẻ:

  • Tuyên truyền cho gia đình, bạn bè hiểu về chủ quyền biển đảo.
  • Chia sẻ những thông tin chính thống, phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc trên mạng xã hội.

3. Tham gia các hoạt động:

  • Tham gia các cuộc thi tìm hiểu về biển đảo, các buổi sinh hoạt ngoại khoá về chủ đề chủ quyền quốc gia.
  • Tham gia các hoạt động thiện nguyện hướng về biển đảo, chiến sĩ Trường Sa (viết thư, gửi quà,…).

4. Rèn luyện bản thân:

  • Rèn luyện sức khoẻ, phẩm chất đạo đức để sau này có thể đóng góp cho đất nước.
  • Có ý thức bảo vệ môi trường, đặc biệt là môi trường biển.

5. Nâng cao ý thức công dân:

  • Nêu cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc.
  • Sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ công dân đối với Tổ quốc khi cần.

Vận dụng 2 trang 90

Đề bài: Sưu tầm tư liệu từ sách, báo và internet, hãy viết bài (khoảng 300 chữ) về hoạt động bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam hiện nay.

Lời giải:

Bài viết tham khảo (khoảng 300 chữ):

Bảo vệ chủ quyền biển đảo là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam. Trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã triển khai nhiều hoạt động toàn diện để thực hiện nhiệm vụ này.

Về mặt pháp lí, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản khẳng định chủ quyền như Luật Biển Việt Nam năm 2012, các Sách trắng về Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam là thành viên tích cực của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), luôn tuân thủ các nguyên tắc của luật pháp quốc tế.

Về mặt ngoại giao, Việt Nam kiên trì đấu tranh bằng con đường hoà bình, thúc đẩy thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Việt Nam cũng thường xuyên gửi công hàm phản đối các hành vi vi phạm chủ quyền.

Về mặt thực địa, Việt Nam duy trì lực lượng đồn trú tại các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ dân sự và quốc phòng. Lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Kiểm ngư được đầu tư, hiện đại hoá (như tàu hộ vệ tên lửa 016 Quang Trung, tàu Kiểm ngư KN-491,…) để bảo vệ ngư dân và chủ quyền.

Về mặt kinh tế, Việt Nam phát triển kinh tế biển bền vững kết hợp với tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển.

Về mặt xã hội, Nhà nước và các đoàn thể tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, giáo dục về chủ quyền biển đảo, khơi dậy lòng yêu nước trong thế hệ trẻ.

Có thể nói, hoạt động bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam hiện nay được thực hiện kiên quyết, kiên trì, đúng luật pháp quốc tế, thể hiện quyết tâm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Cô Ngô Thị Ánh Ngọc

Cô Ngô Thị Ánh Ngọc

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử THPT

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Lịch sử, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 7+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Kim Liên