Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- 1. Phong trào đấu tranh chống thực dân xâm lược ở Đông Nam Á
- a) Đông Nam Á hải đảo
- b) Đông Nam Á lục địa
- 2. Các giai đoạn phát triển của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á
- 3. Thời kì tái thiết và phát triển sau khi giành được độc lập
- a) Những ảnh hưởng của chế độ thực dân
- b) Quá trình tái thiết và phát triển
- Luyện tập và Vận dụng
Câu hỏi mở đầu trang 37
Đề bài: Quốc kì của các quốc gia Đông Nam Á hiện nay rất đa dạng và là biểu tượng cho nền độc lập dân tộc của mỗi quốc gia. Hầu hết các nước trong khu vực đều phải trải qua quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ để giành độc lập dân tộc, sau đó là quá trình tái thiết và phát triển đất nước, đưa Đông Nam Á trở thành khu vực năng động như ngày nay. Hành trình đó diễn ra như thế nào? Hãy chia sẻ một số sự kiện liên quan đến cuộc đấu tranh giành độc lập và quá trình phát triển của các nước ở Đông Nam Á mà em biết.
Lời giải:
Một số sự kiện liên quan đến hành trình đi đến độc lập dân tộc và phát triển của các nước Đông Nam Á:
- Phong trào đấu tranh chống thực dân: Diễn ra sôi nổi ở nhiều nước như In-đô-nê-xi-a (khởi nghĩa của Hoàng tử Đi-pô-nê-gô-rô 1825 – 1830), Phi-líp-pin, Việt Nam (kháng chiến chống Pháp từ năm 1858), Cam-pu-chia,…
- Các mốc giành độc lập tiêu biểu: In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Lào tuyên bố độc lập năm 1945; Phi-líp-pin (1946); Miến Điện (1948); Bru-nây (1984).
- Quá trình tái thiết và phát triển: Sau khi giành độc lập, các nước Đông Nam Á tiến hành công nghiệp hoá, phát triển kinh tế và thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1967 → trở thành khu vực năng động, phát triển.
1. Phong trào đấu tranh chống thực dân xâm lược ở Đông Nam Á
a) Đông Nam Á hải đảo
Câu hỏi trang 38
Đề bài: Nêu những nét chính về phong trào đấu tranh chống thực dân xâm lược ở In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin.
Lời giải:
Đặc điểm chung: Phong trào chống thực dân xâm lược ở các nước Đông Nam Á hải đảo bùng nổ từ rất sớm, tiêu biểu là ở In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin.
Ở In-đô-nê-xi-a:
- Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX, phong trào đấu tranh chống thực dân Hà Lan đã bùng nổ mạnh mẽ.
- Nổi bật là cuộc khởi nghĩa của Hoàng tử Đi-pô-nê-gô-rô (1825 – 1830) với sự hưởng ứng của các lãnh chúa và đông đảo người dân trên đảo Gia-va và các đảo khác.
- Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng đã gây tổn thất nặng nề cho chính quyền thực dân.
- Sau đó, phong trào đấu tranh vẫn tiếp tục lan rộng khắp các đảo, kéo dài đến cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX.
Ở Phi-líp-pin:
- Cuộc đấu tranh chống thực dân Tây Ban Nha bùng nổ từ năm 1521, lan rộng ra các đảo khác và kéo dài hơn 3 thế kỉ.
- Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Đa-ga-hô ở Bô-hô (1744 – 1829) – là cuộc khởi nghĩa kéo dài nhất.
b) Đông Nam Á lục địa
Câu hỏi trang 39
Đề bài: Trình bày những nét chính về phong trào đấu tranh chống thực dân xâm lược ở Đông Nam Á lục địa.
Lời giải:
Ở Miến Điện (chống thực dân Anh):
- Thực dân Anh phải trải qua 3 cuộc chiến tranh kéo dài hơn 60 năm (1824 – 1885) mới chiếm được Miến Điện.
- Phong trào chiến tranh du kích lan rộng trong cả nước, khiến thực dân Anh bị tổn thất nặng nề.
- Sau khi hoàn thành xâm lược, thực dân Anh vẫn phải đối phó với cuộc chiến tranh du kích kéo dài hơn 10 năm sau.
Ở bán đảo Đông Dương (chống thực dân Pháp):
- Việt Nam:
- Từ năm 1858, cuộc chiến đấu chống xâm lược của nhân dân Việt Nam đã làm thất bại kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp.
- Phong trào kháng chiến lan rộng ra các tỉnh Nam Kì và Bắc Kì, thu hút sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân.
- Thực dân Pháp phải mất 26 năm (1858 – 1884) mới đặt được ách đô hộ trên toàn bộ đất nước Việt Nam.
- Cam-pu-chia:
- Mở đầu là cuộc khởi nghĩa của Hoàng thân Si-vô-tha (1861 – 1892).
- Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu khác: A-cha Xoa (1863 – 1866), Pu-côm-bô (1866 – 1867) có quy mô lớn, gây nhiều tổn thất cho thực dân Pháp.
2. Các giai đoạn phát triển của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á
Câu hỏi trang 40
Đề bài: Trình bày các giai đoạn phát triển của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á.
Lời giải:
Từ cuối thế kỉ XIX, sau khi thực dân phương Tây áp đặt ách thống trị, cuộc đấu tranh của nhân dân các nước Đông Nam Á chuyển sang thời kì đấu tranh giành lại độc lập dân tộc và trải qua 3 giai đoạn phát triển chính:
| Giai đoạn | Nét chính |
|---|---|
| Từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1920: Khởi đầu cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc | Sự ra đời và phát triển của giai cấp vô sản ở các nước Đông Nam Á đã tạo nền tảng cho sự hình thành xu hướng mới trong phong trào đấu tranh. Giai đoạn chuyển tiếp từ đấu tranh chống xâm lược sang đấu tranh giành độc lập dân tộc. Phong trào theo ý thức hệ phong kiến dần được thay thế bằng phong trào theo xu hướng tư sản, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa chống thực dân Tây Ban Nha của nhân dân Phi-líp-pin (1896 – 1898) |
| Từ 1920 đến 1945: Xuất hiện xu hướng mới trong phong trào đấu tranh | Giai cấp vô sản bắt đầu bước lên vũ đài chính trị trong khu vực. Các Đảng Cộng sản được thành lập ở một số nước như: In-đô-nê-xi-a (1920); Việt Nam, Mã Lai, Xiêm và Phi-líp-pin (trong những năm 30 của thế kỉ XX) → mở ra xu hướng vô sản trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc |
| Từ 1945 đến 1975: Hoàn thành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc | Từ 1945 đến 1954: làn sóng đấu tranh dâng cao. Năm 1945, In-đô-nê-xi-a tuyên bố độc lập; Việt Nam và Lào giành chính quyền và tuyên bố độc lập cùng trong năm đó. Một số nước được trao trả độc lập: Phi-líp-pin (1946), Miến Điện (1948). Từ 1954 đến 1975: các nước Đông Nam Á đã lần lượt hoàn thành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc (riêng Bru-nây được trao trả độc lập vào năm 1984) |
3. Thời kì tái thiết và phát triển sau khi giành được độc lập
a) Những ảnh hưởng của chế độ thực dân
Câu hỏi trang 41
Đề bài: Khai thác các tư liệu 1, 2 (tr. 40) và thông tin trong mục, nêu những ảnh hưởng của chế độ thực dân đối với các nước Đông Nam Á.
Lời giải:
Ảnh hưởng tiêu cực (chủ yếu):
- Về kinh tế:
- Phần lớn các nước Đông Nam Á vẫn là những nước nông nghiệp lạc hậu, lệ thuộc nặng nề vào nước ngoài.
- Một số nước được coi là “vựa lúa” của thế giới nhưng lại rơi vào tình trạng thiếu lương thực, đói kém triền miên.
- Theo Tư liệu 1: Xin-ga-po sau gần 150 năm là thuộc địa của Anh chỉ là một hải cảng trung chuyển hàng hoá, nền kinh tế phụ thuộc vào thị trường bên ngoài, tỉ lệ thất nghiệp cao.
- Về chính trị:
- Việc áp đặt bộ máy cai trị, thực hiện chính sách “chia để trị”, chính sách “ngu dân” đã để lại hậu quả nặng nề và lâu dài.
- Gây ra chia rẽ sâu sắc giữa các cộng đồng dân cư; tình trạng xung đột sắc tộc, tôn giáo kéo dài nhiều năm sau khi giành độc lập ở Mi-an-ma, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin,…
- Về văn hoá:
- Chính sách nô dịch, áp đặt văn hoá ngoại lai đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo vệ và phát huy giá trị truyền thống của các dân tộc.
- Theo Tư liệu 2 (Nguyễn Ái Quốc – Bản án chế độ thực dân Pháp): “Làm cho dân ngu để dễ trị” là chính sách mà các nhà cầm quyền thực dân ưa dùng nhất → gây ra tình trạng mù chữ, dốt nát phổ biến.
Ảnh hưởng tích cực (không mong muốn):
- Tạo ra những chuyển biến nhất định về hạ tầng cơ sở: mở mang đường giao thông, xây dựng thành phố, hải cảng mới,…
b) Quá trình tái thiết và phát triển
Câu hỏi trang 42
Đề bài: Tóm tắt những nét chính về quá trình tái thiết và phát triển của các nước Đông Nam Á sau khi giành được độc lập.
Lời giải:
Bối cảnh: Sau khi giành độc lập, các nước Đông Nam Á phải khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu để phát triển đất nước.
Quá trình tái thiết và phát triển:
- Nhóm 1 – Các nước công nghiệp hoá sớm (In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Xin-ga-po):
- Tiến hành chiến lược công nghiệp hoá từ giữa những năm 50 của thế kỉ XX, sớm hơn so với các nước còn lại trong khu vực.
- Giai đoạn đầu: thực hiện chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.
- Giai đoạn tiếp theo: chuyển sang chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, lấy sản xuất hàng hoá xuất khẩu làm động lực chính để phát triển kinh tế.
- Nhóm 2 – Các nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia): Từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, tiến hành công nghiệp hoá từ cuối thập kỉ 80 – 90 của thế kỉ XX.
- Bru-nây: Sau khi giành độc lập năm 1984, tiến hành điều chỉnh chính sách nhằm đa dạng hoá nền kinh tế.
- Mi-an-ma: Bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế từ cuối năm 1998.
Thành tựu:
- Đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng hằng năm cao. Đời sống xã hội có chuyển biến căn bản.
- Từ năm 1967, tốc độ tăng trưởng GDP của các nước Đông Nam Á luôn đạt mức cao (trừ năm 1998).
- Từ năm 1999, tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn so với mức trung bình của thế giới.
- Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trở thành nền kinh tế lớn thứ năm thế giới, với GDP đạt khoảng 3 000 tỉ USD từ năm 2018.
Luyện tập và Vận dụng
Luyện tập 1 trang 42
Đề bài: Nêu nhận xét của em về phong trào đấu tranh chống thực dân xâm lược ở khu vực Đông Nam Á.
Lời giải:
Nhận xét về phong trào đấu tranh chống thực dân xâm lược ở Đông Nam Á:
- Về thời gian: Phong trào bùng nổ từ rất sớm (ngay khi thực dân phương Tây bắt đầu xâm lược), kéo dài liên tục qua nhiều thế kỉ (từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XX).
- Về quy mô: Phong trào diễn ra rộng khắp ở hầu hết các nước Đông Nam Á (cả hải đảo và lục địa).
- Về lực lượng tham gia: Đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia (nông dân, thợ thủ công, quý tộc, hoàng thân,…).
- Về lãnh đạo: Ban đầu chủ yếu do các giai cấp phong kiến lãnh đạo (hoàng thân, hoàng tử, quý tộc,…).
- Về hình thức: Chủ yếu là khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh du kích.
- Về kết quả: Hầu hết các phong trào đều thất bại, nhưng đã gây tổn thất nặng nề cho thực dân, thể hiện tinh thần yêu nước, bất khuất của nhân dân các nước Đông Nam Á.
Luyện tập 2 trang 42
Đề bài: Xây dựng trục thời gian tóm tắt các giai đoạn đấu tranh giành độc lập dân tộc ở khu vực Đông Nam Á.
Lời giải:

Dữ liệu cho trục thời gian:
| Giai đoạn | Sự kiện chính |
|---|---|
| Từ cuối thế kỉ XIX đến 1920 | Khởi đầu cuộc đấu tranh giành độc lập. Phong trào theo ý thức hệ phong kiến dần được thay thế bằng phong trào theo xu hướng tư sản. Tiêu biểu: khởi nghĩa của nhân dân Phi-líp-pin chống Tây Ban Nha (1896 – 1898) |
| Từ 1920 đến 1945 | Xuất hiện xu hướng mới. Giai cấp vô sản bước lên vũ đài chính trị. Các Đảng Cộng sản thành lập ở In-đô-nê-xi-a (1920), Việt Nam, Mã Lai, Xiêm, Phi-líp-pin (những năm 30 của thế kỉ XX) |
| Từ 1945 đến 1954 | Làn sóng đấu tranh dâng cao. 1945: In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Lào tuyên bố độc lập. 1946: Phi-líp-pin được trao trả độc lập. 1948: Miến Điện được trao trả độc lập |
| Từ 1954 đến 1975 | Các nước Đông Nam Á lần lượt hoàn thành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc |
| Năm 1984 | Bru-nây được trao trả độc lập – hoàn tất quá trình giành độc lập ở khu vực |
Vận dụng 1 trang 42
Đề bài: Sưu tầm tài liệu từ sách, báo và internet, viết một bài (khoảng 300 chữ) về quá trình tái thiết và phát triển của một quốc gia Đông Nam Á mà em ấn tượng nhất.
Lời giải:
Bài viết tham khảo (khoảng 300 chữ):
Xin-ga-po là quốc gia để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất về quá trình tái thiết và phát triển ở Đông Nam Á. Sau gần 150 năm là thuộc địa của Anh, đến năm 1965, Xin-ga-po tách khỏi Liên bang Ma-lai-xi-a và trở thành một quốc gia độc lập. Lúc bấy giờ, đất nước này chỉ là một hải cảng trung chuyển hàng hoá, nền kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường bên ngoài, tỉ lệ thất nghiệp rất cao.
Dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Lý Quang Diệu, Xin-ga-po đã lựa chọn con đường phát triển đầy sáng suốt: “Chúng ta không thể sống bằng cái bát đi ăn xin”. Chính phủ Xin-ga-po tập trung vào việc tạo công ăn việc làm cho người lao động thông qua phát triển các ngành công nghiệp sản xuất, thay vì phụ thuộc vào các nguồn viện trợ.
Xin-ga-po tiến hành chiến lược công nghiệp hoá từ giữa những năm 50 của thế kỉ XX. Ban đầu là công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, sau đó chuyển sang công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. Chính phủ đầu tư mạnh vào giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại; tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài.
Nhờ những chính sách đúng đắn, chỉ sau vài thập kỉ, Xin-ga-po đã có bước phát triển thần kì: từ một đảo quốc nhỏ bé, nghèo nàn trở thành một trong những trung tâm tài chính, thương mại, công nghệ hàng đầu thế giới, được mệnh danh là “con rồng châu Á”. Ngày nay, Xin-ga-po có mức thu nhập bình quân đầu người thuộc hàng cao nhất thế giới, là quốc gia đáng sống với môi trường sạch đẹp, an ninh tốt.
Câu chuyện phát triển của Xin-ga-po là bài học quý báu về tầm nhìn chiến lược và quyết tâm tự lực tự cường cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Vận dụng 2 trang 42
Đề bài: Tìm hiểu và nêu ví dụ về những ảnh hưởng tiêu cực của chế độ thực dân Pháp đối với Việt Nam.
Lời giải:
Những ảnh hưởng tiêu cực của chế độ thực dân Pháp đối với Việt Nam:
Về chính trị:
- Pháp thi hành chính sách “chia để trị”: chia Việt Nam thành 3 xứ (Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì) với các chế độ cai trị khác nhau → gây chia rẽ giữa các vùng miền.
- Duy trì triều đình nhà Nguyễn như một bù nhìn để dễ bề cai trị.
- Đàn áp dã man các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam.
Về kinh tế:
- Tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa: cướp đoạt ruộng đất của nông dân để lập đồn điền cao su, cà phê; khai thác tài nguyên khoáng sản (than, thiếc,…).
- Bóc lột nặng nề sức lao động của công nhân và nông dân qua thuế khoá, phu phen, tạp dịch.
- Biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ hàng hoá ế thừa và nơi cung cấp nguyên liệu cho Pháp.
- Kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, khiến kinh tế què quặt, phụ thuộc vào Pháp.
Về văn hoá – xã hội:
- Thi hành chính sách ngu dân: hạn chế mở trường học → hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ (năm 1926).
- Đầu độc người dân bằng rượu, thuốc phiện để dễ bề cai trị.
- Xói mòn các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc.
- Đời sống nhân dân cực khổ: bần cùng, đói kém xảy ra thường xuyên, đặc biệt là nạn đói năm 1945 làm hơn 2 triệu đồng bào chết đói.
→ Chính sách cai trị của thực dân Pháp đã để lại những hậu quả nặng nề, lâu dài cho đất nước và con người Việt Nam.

Cô Ngô Thị Ánh Ngọc
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử THPT
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Lịch sử, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 7+ năm kinh nghiệm tại Trường THPT Kim Liên
