Cô Tô (Nguyễn Tuân) – Tóm tắt, tác giả, tác phẩm, phân tích

“Cô Tô” là bài kí nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Tuân, được viết nhân một chuyến ra thăm quần đảo Cô Tô. Bằng ngòi bút tài hoa, điêu luyện, Nguyễn Tuân đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên Cô Tô vừa dữ dội trong bão, vừa trong sáng tươi đẹp sau bão, cùng cảnh mặt trời mọc trên biển rực rỡ tráng lệ và cuộc sống lao động bình dị của con người trên đảo. Bài viết dưới đây sẽ giúp các em tìm hiểu tác giả, tác phẩm, tóm tắt nội dung và phân tích chi tiết văn bản “Cô Tô” theo chương trình Ngữ văn lớp 6.

I. Tìm hiểu chung về kí và du kí

Trước khi đi vào văn bản, các em cần nắm được hai khái niệm quan trọng:

là tác phẩm văn học chú trọng ghi chép sự thật. Trong kí có kể sự việc, tả người, tả cảnh, cung cấp thông tin và thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của người viết. Với một số thể loại kí, tác giả thường là người trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến sự việc.

Du kí là thể loại ghi chép về những chuyến đi tới các vùng đất, các xứ sở nào đó. Người viết kể lại hoặc miêu tả những điều mắt thấy tai nghe trên hành trình của mình.

II. Tác giả Nguyễn Tuân

Nguyễn Tuân (1910 – 1987) quê ở Hà Nội. Ông là nhà văn có phong cách độc đáo, lối viết tài hoa, cách dùng từ ngữ đặc sắc. Thể loại sở trường của ông là kí và truyện ngắn. Kí của Nguyễn Tuân cho thấy tác giả có vốn kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực đời sống, từ hội họa, âm nhạc đến quân sự, địa lí.

Một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Tuân: “Vang bóng một thời” (tập truyện ngắn), “Sông Đà” (tùy bút)…

Nguyễn Tuân (1910 – 1987)
Nguyễn Tuân (1910 – 1987)

III. Tác phẩm “Cô Tô”

“Cô Tô” được viết nhân một chuyến ra thăm đảo của nhà văn Nguyễn Tuân. Bài kí được in trong tập “Kí”, xuất bản lần đầu năm 1976.

Cô Tô là một quần đảo gồm hơn 50 đảo nhỏ, thuộc tỉnh Quảng Ninh, diện tích trên 47,3 km². Cô Tô nổi tiếng với cảnh biển đẹp và những đặc sản biển như ngọc trai, san hô, hải sâm.

Đặc điểm tác phẩm:

  • Thể loại: Kí (du kí).
  • Ngôi kể: Ngôi thứ nhất (tác giả xưng “tôi”, trực tiếp chứng kiến và kể lại).
  • Phương thức biểu đạt: Tự sự kết hợp miêu tả, biểu cảm.
  • Bố cục: Đoạn trích kể theo trình tự thời gian, chia làm 4 phần:
    • Phần 1: Cảnh bão biển trên đảo Cô Tô (ngày thứ tư).
    • Phần 2: Cảnh Cô Tô sau cơn bão (ngày thứ năm).
    • Phần 3: Cảnh mặt trời mọc trên biển (sáng sớm ngày thứ sáu).
    • Phần 4: Cảnh giếng nước ngọt và hoạt động của con người trên đảo.

IV. Tóm tắt văn bản “Cô Tô”

Trong chuyến ra thăm quần đảo Cô Tô, nhà văn Nguyễn Tuân đã chứng kiến và ghi lại cảnh thiên nhiên cùng con người nơi đây qua nhiều thời điểm khác nhau.

Ngày thứ tư, một trận bão biển dữ dội ập đến. Gió cấp 11 gào rú, cát bắn buốt như đạn, sóng biển gầm gào, cửa kính gác đảo ủy bị vỡ tung. Trận bão được tác giả miêu tả như một trận chiến ác liệt.

Ngày thứ năm, sau bão, Cô Tô hiện lên trong trẻo, sáng sủa. Bầu trời xanh, cây cối xanh mượt, nước biển lam biếc đậm đà, cát vàng giòn, lưới cá nặng trĩu. Tác giả trèo lên đồn cao, ngắm toàn cảnh đảo và càng thấy yêu mến hòn đảo.

Sáng sớm ngày thứ sáu, tác giả dậy từ canh tư ra tận đầu mũi đảo Thanh Luân ngồi rình mặt trời lên. Cảnh mặt trời mọc trên biển hiện ra tráng lệ, rực rỡ: mặt trời tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên, đặt trên mâm bạc rộng bằng cả chân trời màu ngọc trai.

Khi mặt trời đã lên cao, tác giả đến bên giếng nước ngọt trên đảo – nơi đông vui nhất, gợi sức sống nhất. Người dân tấp nập gánh nước, múc nước chuẩn bị cho chuyến ra khơi đánh cá. Hình ảnh chị Châu Hòa Mãn địu con bên bờ giếng gợi nên vẻ đẹp bình dị, dịu dàng của cuộc sống trên đảo.

V. Phân tích chi tiết văn bản “Cô Tô”

1. Cảnh bão biển trên đảo Cô Tô

Đoạn mở đầu văn bản, Nguyễn Tuân miêu tả trận bão biển trên đảo Cô Tô với cái nhìn rất độc đáo: ông miêu tả cơn bão như một trận chiến dữ dội.

Về từ ngữ: Tác giả sử dụng hàng loạt động từ mạnh để diễn tả sức gió: “liên thanh quạt lia lịa”, “thúc”, “vây”, “dồn”, “bung hết”, “ép”, “vỡ tung”, “rít lên”, “rú lên”. Bên cạnh đó là các tính từ gợi cảm giác mạnh: “buốt”, “rát”, “trắng mù mù”, “ghê rợn”.

Đặc biệt, tác giả tập hợp các từ ngữ thuộc trường nghĩa chiến trận: “trận địa”, “hỏa lực”, “viên đạn”, “băng đạn”, “liên thanh”, “thả hơi ngạt”. Cách dùng từ này khiến cơn bão hiện lên không đơn thuần là thiên tai mà như một cuộc tấn công quân sự, có tổ chức, có sức mạnh hủy diệt.

Về nghệ thuật so sánh: Tác giả sử dụng nhiều hình ảnh so sánh độc đáo: mỗi viên cát bắn vào má vào gáy buốt “như một viên đạn mũi kim”; gió ngừng trong tích tắc “như để thay băng đạn”; trời đất trắng mù mù “như kẻ thù đã bắt đầu thả hơi ngạt”; sóng thúc lẫn nhau rền rền “như vua thủy cho các loài thủy tộc rung thêm trống trận”; gió rít rú “như quỷ khốc thần linh”. Những hình ảnh so sánh này làm nổi bật sự kì quái, rùng rợn của trận bão.

Về thủ pháp tăng tiến: Tác giả miêu tả sức mạnh của gió theo cấp độ tăng dần: gió “vây” rồi “dồn” rồi “bung hết”, kính bị “ép” rồi “vỡ tung”, tiếng gió “càng ghê rợn” rồi “như quỷ khốc thần linh”. Thủ pháp tăng tiến khiến sức mạnh hủy diệt của cơn bão hiện lên sống động, ấn tượng.

Trận bão diễn ra vào buổi tối, đêm khuya – thời điểm tối tăm càng tô đậm thêm sự nguy hiểm, khó lường. Qua cách miêu tả này, ta thấy rõ phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân: cái nhìn độc đáo, ngôn ngữ giàu hình ảnh, đầy ấn tượng.

2. Cảnh Cô Tô sau cơn bão

Nếu cảnh bão biển được miêu tả bằng những từ ngữ tạo cảm giác mạnh, kịch tính thì cảnh Cô Tô sau bão lại được miêu tả bằng những từ ngữ, hình ảnh giàu màu sắc, gợi sự tươi sáng, khoáng đạt.

Về hình ảnh: Ngày thứ năm trên đảo là “một ngày trong trẻo sáng sủa”. Bầu trời trong sáng, cây trên núi đảo “xanh mượt”, nước biển “lam biếc đậm đà hơn hết cả mọi khi”, cát “vàng giòn”. Lưới cá “càng thêm nặng mẻ cá giã đôi” – biển cả như hào phóng ban tặng cho con người sau những ngày bão tố.

Về nghệ thuật: Tác giả sử dụng hàng loạt tính từ, từ láy chỉ màu sắc và trạng thái: “trong trẻo”, “sáng sủa”, “xanh mượt”, “lam biếc”, “đậm đà”, “vàng giòn”. Đặc biệt, các từ ngữ chỉ mức độ ngày càng tăng: “thêm”, “hơn”, “càng”, “lại” cho thấy cảnh Cô Tô trước bão đã đẹp nhưng sau bão lại càng đẹp hơn, tinh khôi hơn.

Về cảm xúc của tác giả: Trèo lên nóc đồn, nhìn ra bốn phương tám hướng, ngắm toàn cảnh đảo Cô Tô, tác giả “càng thấy yêu mến hòn đảo như bất cứ người chài nào đã từng đẻ ra và lớn lên theo mùa sóng ở đây”. Câu văn cho thấy tác giả yêu mến, gần gũi và coi Cô Tô như quê hương của mình – tình cảm ấy chân thành, sâu đậm.

Bức tranh thiên nhiên Cô Tô sau bão hiện lên tươi sáng, phong phú, độc đáo – vừa toát lên vẻ đẹp bao la, hùng vĩ khi nhìn từ trên cao, vừa tràn đầy sức sống.

3. Cảnh mặt trời mọc trên biển Cô Tô

Đây là đoạn văn hay nhất, đặc sắc nhất của bài kí, thể hiện rõ nhất tài năng miêu tả của Nguyễn Tuân.

Cách đón mặt trời: Tác giả dậy từ canh tư (khoảng 1–3 giờ sáng), khi trời còn tối đất, đi mãi trên đá đầu sư ra tận đầu mũi đảo Thanh Luân, ngồi rình mặt trời lên. Cách đón nhận thật công phu và trang trọng, cho thấy tình yêu tha thiết của tác giả đối với thiên nhiên.

Trước khi mặt trời mọc: Sau trận bão, “chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi” – một không gian trong trẻo, tinh khiết, sẵn sàng cho khoảnh khắc mặt trời xuất hiện.

Khi mặt trời mọc: Mặt trời “nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết”. Tác giả so sánh mặt trời “tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn”. Hình ảnh so sánh thật mới lạ, độc đáo: mặt trời được ví với lòng đỏ quả trứng – tròn đầy, hồng hào, gợi sự ấm áp và sức sống. Tiếp đó, “quả trứng hồng hào thăm thẳm và đường bệ đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển hửng hồng”. Tác giả lại so sánh toàn bộ cảnh tượng ấy “y như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở Biển Đông”.

Hình ảnh so sánh chồng lên nhau, mỗi lớp một rực rỡ hơn: mặt trời – lòng đỏ quả trứng, biển – mâm bạc, toàn cảnh – mâm lễ phẩm. Qua đó, cảnh bình minh hiện lên tráng lệ, rực rỡ, đầy chất thơ và tràn ngập lòng biết ơn đối với biển cả.

Sau khi mặt trời mọc: Vài chiếc nhạn mùa thu chao đi chao lại, một con hải âu bay ngang là là nhịp cánh – những nét vẽ nhẹ nhàng, thanh thoát, hoàn thiện bức tranh bình minh trên biển.

Về nghệ thuật: Tác giả quan sát cảnh thiên nhiên từ nhiều vị trí (toàn cảnh từ nóc đồn, cận cảnh từ đầu mũi đảo) và nhiều thời điểm (trước, trong, sau khi mặt trời mọc). Cách quan sát tỉ mỉ, công phu kết hợp với ngôn ngữ giàu hình ảnh, hình ảnh so sánh độc đáo, mới lạ đã tạo nên một đoạn văn miêu tả cảnh bình minh trên biển thuộc hàng đẹp nhất trong văn học Việt Nam.

4. Cảnh giếng nước ngọt và hoạt động của con người trên đảo Cô Tô

Khi mặt trời đã lên cao, tác giả chuyển sang miêu tả cảnh sinh hoạt quanh giếng nước ngọt trên đảo Thanh Luân – nơi đông vui và gợi sức sống nhất trên đảo.

Cảnh giếng nước ngọt: Giếng nằm ở rìa hòn đảo giữa biển. Sáng sớm, không biết bao nhiêu người đến gánh và múc nước. Người ta múc nước vào thùng gỗ, vào những cong, những ang gốm màu da lươn. Lòng giếng vẫn còn rớt lại vài cái lá cam lá quýt mà trận bão vừa rồi quăng vào. Tác giả nhận xét: “Cái giếng nước ngọt ở ria một hòn đảo giữa biển, cái sinh hoạt của nó vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền.”

Cảnh sinh hoạt quanh giếng nước diễn ra tấp nập, đông vui, thanh bình. Nếu thiếu đi giếng nước ngọt và hoạt động của con người quanh giếng, bức tranh Cô Tô sẽ thiếu đi sức sống, thiếu đi hơi thở đời thường ấm áp.

Hoạt động chuẩn bị ra khơi: Sau trận bão, hợp tác xã Bắc Loan Đầu cho 18 thuyền lớn nhỏ cùng ra khơi đánh cá hồng. Anh hùng Châu Hòa Mãn cùng bốn bạn xã viên đi chung một thuyền, quẩy 15 gánh nước ngọt cho chuyến đi xa mười ngày. Những chi tiết cụ thể, chân thực này cho thấy cuộc sống lao động bền bỉ, lặng lẽ của những người dân bám biển.

Hình ảnh kết thúc bài kí: “Trông chị Châu Hòa Mãn địu con, thấy nó dịu dàng yên tâm như cái hình ảnh biển cả là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành.” Đây là hình ảnh so sánh nhiều tầng bậc, rất đẹp và giàu ý nghĩa: biển cả được ví như người mẹ hiền, biển cho tôm cá như mẹ mớm thức ăn cho con, và người dân trên đảo như những đứa con lành của biển. Hình ảnh kết thúc cho thấy tình yêu sâu sắc của tác giả với biển đảo quê hương và sự tôn vinh những người lao động bình dị trên đảo, tạo cho người đọc ấn tượng khó quên về vẻ đẹp của Cô Tô.

VI. Tổng kết

1. Nghệ thuật

  • Ngôn ngữ điêu luyện, miêu tả tinh tế, chính xác, giàu hình ảnh và cảm xúc.
  • Hình ảnh so sánh độc đáo, mới lạ, giàu sức gợi.
  • Sử dụng thủ pháp tăng tiến, trường nghĩa chiến trận khi miêu tả bão.
  • Quan sát tỉ mỉ từ nhiều vị trí (toàn cảnh, cận cảnh) và nhiều thời điểm (trước, trong, sau bão; trước, trong, sau khi mặt trời mọc).
  • Kể theo trình tự thời gian, ngôi thứ nhất – đặc trưng của thể kí.

2. Nội dung

  • Cảnh thiên nhiên và sinh hoạt của con người trên vùng đảo Cô Tô hiện lên thật trong sáng và tươi đẹp: dữ dội trong bão, tinh khôi sau bão, rực rỡ tráng lệ lúc bình minh và bình dị, đông vui trong sinh hoạt đời thường.
  • Bài kí cho ta thấy tình cảm yêu mến, tự hào của tác giả đối với vẻ đẹp của biển đảo quê hương và những con người lao động bình dị trên đảo Cô Tô.

Sơ đồ tư duy

CÔ TÔ
(Nguyễn Tuân – Trích tập "Kí", 1976)
│
├── 1. TÁC GIẢ – TÁC PHẨM
│   ├── Nguyễn Tuân (1910–1987), quê Hà Nội
│   ├── Phong cách: độc đáo, tài hoa, dùng từ đặc sắc
│   ├── Sở trường: kí, truyện ngắn
│   ├── Thể loại: Kí (du kí), ngôi thứ nhất
│   └── Kể theo trình tự thời gian: ngày thứ 4 → 5 → 6
│
├── 2. CẢNH BÃO BIỂN (Ngày thứ 4)
│   ├── Từ ngữ trường nghĩa chiến trận: trận địa, hỏa lực, viên đạn, băng đạn, liên thanh
│   ├── Động từ mạnh: vây, dồn, bung, ép, vỡ tung, rít, rú
│   ├── So sánh: cát như đạn, gió ngừng như thay băng đạn, quỷ khốc thần linh
│   ├── Thủ pháp tăng tiến: vây → dồn → bung hết → ép → vỡ tung
│   └── → Cơn bão như trận chiến dữ dội, sức mạnh hủy diệt
│
├── 3. CẢNH SAU BÃO (Ngày thứ 5)
│   ├── Bầu trời: trong trẻo, sáng sủa
│   ├── Cây: xanh mượt | Nước biển: lam biếc đậm đà
│   ├── Cát: vàng giòn | Cá: nặng mẻ lưới giã đôi
│   ├── NT: tính từ chỉ màu sắc, từ chỉ mức độ tăng (thêm, hơn, càng)
│   ├── → Tươi sáng, khoáng đạt, tinh khôi, giàu tiềm năng
│   └── Tác giả: yêu mến hòn đảo như quê hương mình
│
├── 4. CẢNH MẶT TRỜI MỌC (Sáng sớm ngày thứ 6)
│   ├── Cách đón: dậy từ canh tư, ra tận mũi đảo ngồi rình → công phu, trang trọng
│   ├── Trước khi mọc: chân trời sạch như tấm kính
│   ├── Khi mọc: tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ quả trứng thiên nhiên
│   │   ├── Đặt trên mâm bạc rộng bằng chân trời màu ngọc trai
│   │   └── Y như mâm lễ phẩm mừng trường thọ người chài lưới
│   ├── Sau khi mọc: nhạn chao, hải âu bay ngang
│   └── → Rực rỡ, tráng lệ, giàu chất thơ
│
├── 5. CẢNH GIẾNG NƯỚC NGỌT VÀ CON NGƯỜI (Ngày thứ 6)
│   ├── Giếng nước ngọt: đông vui nhất, gợi sức sống nhất trên đảo
│   ├── Sinh hoạt: tấp nập gánh nước, múc nước, chuẩn bị ra khơi
│   ├── Anh hùng Châu Hòa Mãn: quẩy 15 gánh nước cho chuyến đi xa 10 ngày
│   ├── Chị Châu Hòa Mãn địu con: biển cả – mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành
│   └── → Tình yêu biển đảo, tôn vinh người lao động bình dị
│
├── 6. NGHỆ THUẬT
│   ├── Ngôn ngữ điêu luyện, miêu tả tinh tế, giàu hình ảnh
│   ├── So sánh độc đáo, mới lạ
│   ├── Thủ pháp tăng tiến, trường nghĩa chiến trận
│   └── Quan sát từ nhiều vị trí, nhiều thời điểm
│
└── 7. Ý NGHĨA
    ├── Vẻ đẹp thiên nhiên Cô Tô: dữ dội, tinh khôi, tráng lệ
    ├── Vẻ đẹp con người: bền bỉ, bình dị, gắn bó với biển
    └── Tình yêu, tự hào của tác giả đối với biển đảo quê hương
Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng