Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- I. Mục đích và đối tượng
- II. Trước khi nói – Chuẩn bị nội dung
- 1. Chọn truyền thuyết và ngôi kể
- 2. Tóm tắt câu chuyện
- 3. Xác định từ ngữ then chốt và giọng kể
- 4. Lập dàn ý bài nói
- 5. Tập luyện
- III. Trình bày bài nói – Những lưu ý quan trọng
- IV. Sau khi nói – Trao đổi, đánh giá
- Đối với người nghe
- Đối với người nói
- V. Bảng kiểm đánh giá bài nói
- VI. Bài nói mẫu
- Bài mẫu 1: Kể lại truyền thuyết Thánh Gióng
- Bài mẫu 2: Kể lại truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh
- VII. Một số lưu ý khi kể truyền thuyết
Truyền thuyết cũng như các truyện dân gian khác được lưu truyền nhờ lời kể, bằng lời kể. Trong chương trình Ngữ văn lớp 6, các em được thực hành kĩ năng nói và nghe qua hoạt động kể lại một truyền thuyết. Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn các em cách chuẩn bị, trình bày bài nói và tham khảo 2 bài nói mẫu để kể lại truyền thuyết một cách hấp dẫn, đầy đủ.
I. Mục đích và đối tượng
Mục đích nói: Kể lại một truyền thuyết, giúp người nghe hiểu được cốt truyện và ý nghĩa của truyện.
Người nghe: Thầy cô, các bạn, người thân và những người quan tâm đến truyền thuyết em kể.
II. Trước khi nói – Chuẩn bị nội dung
1. Chọn truyền thuyết và ngôi kể
Các em nên chọn truyền thuyết mà mình yêu thích, có nội dung hấp dẫn, giàu ý nghĩa và có độ dài vừa phải. Nếu được chỉ định kể lại một truyền thuyết cụ thể, hãy đọc kĩ để nắm được các sự kiện và chi tiết tiêu biểu.
Ngôi kể phù hợp là ngôi thứ ba (giống như trong truyền thuyết mà em đã đọc hoặc đã nghe). Đây là ngôi kể truyền thống của truyền thuyết, giúp câu chuyện mang sắc thái trang trọng, khách quan.
2. Tóm tắt câu chuyện
Ghi lại các sự việc chính của câu chuyện theo một trật tự hợp lí – thường theo trình tự thời gian trước – sau, hoặc quan hệ nguyên nhân – kết quả – để dễ dàng ghi nhớ và kể lại. Không cần học thuộc lòng từng câu từng chữ, chỉ cần nhớ rõ các sự việc chính và mối liên hệ giữa chúng.
3. Xác định từ ngữ then chốt và giọng kể
Nhớ chính xác các từ ngữ chỉ thời gian, địa điểm diễn ra câu chuyện. Xác định đúng những lời nói quan trọng của nhân vật để không bỏ qua khi kể lại. Chọn giọng kể phù hợp với nội dung câu chuyện: sôi nổi, hào hứng khi kể cảnh đánh giặc; trầm lắng khi kể đoạn kết; trang nghiêm khi giới thiệu nguồn gốc nhân vật.
4. Lập dàn ý bài nói
Viết ra giấy các ý chính theo bố cục:
- Mở bài: Giới thiệu tên truyền thuyết và nêu khái quát ấn tượng của người nói.
- Thân bài: Kể lại nội dung truyền thuyết từ sự việc mở đầu đến sự việc kết thúc.
- Kết bài: Nêu ý nghĩa của truyền thuyết.
5. Tập luyện
Tập luyện một mình hoặc cùng bạn bè, người thân. Thử nhiều cách khác nhau để tìm ra cách kể tốt nhất. Có thể lựa chọn và sử dụng thêm các phương tiện hỗ trợ nếu thấy cần thiết như tranh ảnh, bản trình chiếu, đạo cụ…
III. Trình bày bài nói – Những lưu ý quan trọng
Khi trình bày bài nói, các em cần chú ý những điều sau:
Về giọng kể: Với truyền thuyết, giọng kể phù hợp nhất là trang nghiêm, nhưng cũng có lúc cần thay đổi linh hoạt cho phù hợp với nội dung câu chuyện. Ví dụ: giọng tình cảm khi kể về sự ra đời kì lạ của nhân vật, giọng hào sảng khi kể cảnh đánh giặc, giọng trầm lắng khi kể đoạn kết.
Về ngôn ngữ cơ thể: Khi kể, sử dụng hợp lí động tác, điệu bộ, khẩu hình, nét mặt để tăng thêm tính sinh động, hấp dẫn. Tự tin, thoải mái, mắt nhìn vào người nghe.
Về nội dung: Không nên kể dàn trải mà nên tập trung vào những sự việc quan trọng. Chú ý cách chuyển tiếp giữa các sự việc để tạo sự kết nối liền mạch.
Về hình ảnh minh họa: Ở một số truyền thuyết, kết thúc câu chuyện có thể chỉ dẫn đến một địa danh, sự vật, hiện tượng vẫn tồn tại trong cuộc sống hôm nay. Nên chuẩn bị tranh ảnh, đoạn phim ngắn về những địa danh đó để bài nói thêm hấp dẫn.
Về phong cách: Chào hỏi khi bắt đầu và cảm ơn khi kết thúc bài nói. Bám sát mục đích nói, điều chỉnh tốc độ nói cho phù hợp. Có thể sử dụng các ghi chú ngắn gọn để nhắc nhở bản thân.
IV. Sau khi nói – Trao đổi, đánh giá
Đối với người nghe
- Yêu cầu người nói kể lại hay làm rõ những chi tiết liên quan đến các sự việc được kể.
- Nêu nhận xét về bài kể: từ ngữ, giọng kể, độ chính xác về nội dung.
- Bày tỏ đồng cảm với suy nghĩ, cảm xúc của người nói.
Đối với người nói
- Bổ sung, làm rõ các chi tiết hoặc diễn biến câu chuyện khi được hỏi.
- Trao đổi lại các ý kiến nhận xét của người nghe.
- Cảm ơn và tiếp thu những góp ý, nhận xét xác đáng.
V. Bảng kiểm đánh giá bài nói
Các em có thể dùng bảng kiểm sau để tự đánh giá hoặc đánh giá bài nói của bạn:
| STT | Nội dung kiểm tra | Đạt / Chưa đạt |
|---|---|---|
| 1 | Bài nói có đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài | |
| 2 | Bài nói thể hiện được tính hấp dẫn, đầy đủ, chính xác của truyền thuyết | |
| 3 | Bài nói làm rõ những chi tiết liên quan đến sự việc được kể | |
| 4 | Các sự việc được kể theo trình tự hợp lí | |
| 5 | Giọng kể to, rõ, mạch lạc, thể hiện cảm xúc phù hợp với nội dung | |
| 6 | Người nói tự tin, nhìn vào người nghe, sử dụng nét mặt, cử chỉ hợp lí | |
| 7 | Sử dụng các phương tiện hỗ trợ như tranh ảnh, video… |
VI. Bài nói mẫu
Bài mẫu 1: Kể lại truyền thuyết Thánh Gióng
Xin chào thầy cô và các bạn! Hôm nay, em xin kể lại truyền thuyết Thánh Gióng – câu chuyện về người anh hùng làng Phù Đổng đánh đuổi giặc Ân, bảo vệ bờ cõi đất nước. Đây là một trong những truyền thuyết mà em yêu thích nhất.
Tục truyền, đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Phù Đổng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ, phúc đức nhưng chưa có con. Một hôm, bà ra đồng trông thấy một vết chân to lớn khác thường. Thấy hay hay, bà đặt bàn chân mình vào ướm thử. Không ngờ về nhà bà thụ thai, rồi sau mười hai tháng thai nghén, bà sinh ra một cậu bé mặt mũi khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng kì lạ thay, cậu bé lên ba tuổi mà vẫn không biết nói, không biết cười, đặt đâu nằm đấy.
Bấy giờ, giặc Ân kéo đến xâm phạm bờ cõi nước ta, thế giặc rất mạnh. Vua lo sợ, sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Nghe tin sứ giả đến làng, cậu bé bỗng cất tiếng nói đầu tiên, nhờ mẹ mời sứ giả vào. Cậu bảo sứ giả về tâu với vua, đúc cho một con ngựa sắt, một bộ áo giáp sắt và một cái roi sắt để đi đánh giặc. Sứ giả vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. Vua lập tức sai thợ làm đầy đủ.
Từ đó, cậu bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa may xong đã chật. Bà con hàng xóm vui lòng gom góp gạo thóc để nuôi cậu bé, vì ai cũng mong cậu giết giặc cứu nước.
Giặc đã kéo đến chân núi Trâu Sơn, thế rất nguy. Vừa lúc đó, sứ giả mang ngựa sắt, áo giáp sắt, roi sắt đến. Cậu bé vùng dậy, vươn vai một cái, bỗng biến thành một tráng sĩ oai phong lẫm liệt. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, phi thẳng đến chỗ quân giặc. Tráng sĩ xông vào trận, giặc chết như ngả rạ. Bỗng roi sắt gãy, tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre bên đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ, đám tàn quân giẫm đạp nhau mà chạy trốn.
Tráng sĩ đuổi giặc đến núi Ninh Sóc, rồi cởi bỏ giáp sắt, cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời, biến mất. Vua nhớ công ơn, phong là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà. Hiện nay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Đổng, hằng năm mở hội lớn vào tháng Tư. Người ta kể rằng những bụi tre đằng ngà ở huyện Gia Bình ngả màu vàng óng vì ngựa phun lửa cháy, những vết chân ngựa nay thành ao hồ liên tiếp, và có một làng bị cháy nay gọi là làng Cháy.
Truyền thuyết Thánh Gióng ca ngợi người anh hùng đánh giặc, tiêu biểu cho sự trỗi dậy của truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết và anh dũng kiên cường của dân tộc ta. Hình tượng Thánh Gióng được nuôi dưỡng bằng gạo thóc của nhân dân, chiến đấu bằng cả vũ khí sắt lẫn cỏ cây đất nước, và ra đi không màng công danh – đó là biểu tượng đẹp đẽ nhất về người anh hùng trong tâm thức dân gian Việt Nam.
Em xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe!
Bài mẫu 2: Kể lại truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh
Xin chào thầy cô và các bạn! Em xin kể lại truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh – câu chuyện về cuộc giao tranh giữa Thần Núi và Thần Nước. Đây là truyền thuyết để lại cho em rất nhiều ấn tượng.
Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái là Mị Nương, người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu. Vua cha yêu thương nàng rất mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng.
Một hôm, có hai chàng trai đến cầu hôn. Một người ở vùng núi Tản Viên, có tài lạ: vẫy tay về phía đông thì phía đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía tây thì phía tây mọc lên từng dãy núi đồi. Người ta gọi chàng là Sơn Tinh. Một người ở miền biển, tài năng cũng không kém: gọi gió gió đến, hô mưa mưa về. Người ta gọi chàng là Thủy Tinh. Cả hai đều là bậc anh tài, đều xứng đáng làm rể vua Hùng.
Vua Hùng rất băn khoăn, không biết chọn ai, bèn bàn với các Lạc hầu rồi phán rằng: ngày mai ai mang sính lễ đến trước thì được cưới Mị Nương. Sính lễ gồm: một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi. Đây toàn là sản vật của rừng núi, cho thấy vua Hùng đã nghiêng về phía Sơn Tinh.
Hôm sau, mới tờ mờ sáng, Sơn Tinh đã mang đầy đủ lễ vật đến rước Mị Nương về núi. Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đòi cướp Mị Nương. Thần hô mưa gọi gió, làm thành giông bão rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn. Nước ngập ruộng đồng, nước tràn nhà cửa, thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước.
Nhưng Sơn Tinh không hề nao núng. Thần dùng phép lạ bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi, dựng thành lũy đất ngăn chặn dòng nước lũ. Nước sông dâng lên bao nhiêu, đồi núi cao lên bấy nhiêu. Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng trời. Cuối cùng, Sơn Tinh vẫn vững vàng mà sức Thủy Tinh đã kiệt. Thần Nước đành rút quân về.
Từ đó, oán nặng thù sâu, hằng năm Thủy Tinh vẫn làm mưa gió bão lụt, dâng nước đánh Sơn Tinh. Nhưng năm nào cũng vậy, Thần Nước đánh mỏi mệt, chán chê vẫn không thắng nổi Thần Núi, đành rút quân về.
Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh nhằm giải thích hiện tượng mưa gió, bão lụt hằng năm ở vùng đồng bằng sông Hồng. Sơn Tinh tượng trưng cho sức mạnh trị thủy của nhân dân, Thủy Tinh tượng trưng cho thiên tai bão lụt. Kết quả Sơn Tinh luôn chiến thắng thể hiện ước mơ của nhân dân ta: con người nhất định sẽ chiến thắng thiên nhiên, bảo vệ cuộc sống bình yên. Câu chuyện cũng ca ngợi công lao trị thủy, dựng nước vĩ đại của cha ông ta.
Em xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe!
VII. Một số lưu ý khi kể truyền thuyết
Để bài kể thêm hấp dẫn, các em nên nhớ một số điểm sau:
Truyền thuyết là thể loại mang tính trang trọng, thiêng liêng, nên giọng kể chủ đạo cần trang nghiêm, không nên kể bằng giọng quá suồng sã hay hài hước. Tuy nhiên, ở những đoạn hành động dồn dập (như cảnh đánh giặc), giọng kể có thể sôi nổi, hào sảng hơn.
Khi kể, không nên đọc nguyên văn từ sách mà hãy dùng lời của mình để kể lại. Điều này giúp bài nói tự nhiên hơn, thể hiện sự hiểu biết thật sự của em về câu chuyện.
Nên chú ý đến những lời nói trực tiếp của nhân vật – đây thường là những câu nói quan trọng, mang ý nghĩa sâu sắc. Khi kể đến những lời nói này, có thể thay đổi giọng cho phù hợp với nhân vật.
Phần kết bài rất quan trọng: ngoài việc nêu ý nghĩa của truyền thuyết, các em có thể liên hệ với những dấu tích, di tích, lễ hội còn tồn tại đến ngày nay để câu chuyện thêm gần gũi và thuyết phục. Ví dụ: khi kể truyện Thánh Gióng, có thể nhắc đến hội Gióng ở làng Phù Đổng, hay Hội khỏe Phù Đổng trong nhà trường.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
