Đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích – Cách viết & bài mẫu

Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích là một dạng bài tập làm văn thú vị trong chương trình Ngữ văn lớp 6. Thay vì kể lại câu chuyện từ ngôi thứ ba như truyện gốc, các em sẽ nhập vai một nhân vật trong truyện, xưng “tôi” hoặc “ta” để kể lại câu chuyện theo góc nhìn của chính nhân vật đó. Điều này giúp câu chuyện trở nên khác lạ, hấp dẫn và tạo ra hiệu quả bất ngờ. Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn các em cách viết và cung cấp 2 bài văn mẫu để tham khảo.

I. Yêu cầu đối với bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích

Khi viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích, các em cần đáp ứng các yêu cầu sau:

Thứ nhất, bài văn được kể từ ngôi thứ nhất. Người kể chuyện đóng vai một nhân vật trong truyện, có thể xưng “tôi”, “ta”, “mình”, “tớ”… tùy theo địa vị, giới tính và bối cảnh của nhân vật. Ví dụ: nếu đóng vai một vị vua thì xưng “ta”; đóng vai một cô gái bình thường thì có thể xưng “tôi”.

Thứ hai, khi kể có thể tưởng tượng, sáng tạo thêm nhưng không được thoát li truyện gốc. Các em cần tôn trọng cốt truyện gốc, không làm thay đổi hay biến dạng các sự việc, chi tiết cơ bản. Sáng tạo ở đây có nghĩa là thêm lời kể, thêm cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật, chi tiết hóa những chỗ truyện gốc còn chung chung.

Thứ ba, cần sắp xếp hợp lí các chi tiết và bảo đảm có sự kết nối giữa các phần. Nên nhấn mạnh, khai thác nhiều hơn các chi tiết tưởng tượng, hư cấu, kì ảo.

Thứ tư, có thể bổ sung các yếu tố miêu tả và biểu cảm để tả người, tả vật hay thể hiện cảm xúc của nhân vật, giúp bài viết sinh động hơn.

II. Các bước viết bài

Bước 1: Trước khi viết

a. Chọn ngôi kể và đại từ tương ứng

Khi đóng vai nhân vật, ngôi kể sẽ là ngôi thứ nhất. Các em cần chọn từ xưng hô phù hợp với địa vị, giới tính của nhân vật và bối cảnh kể. Ví dụ: vua xưng “ta”, người bình thường xưng “tôi”, bạn bè thân mật xưng “mình” hoặc “tớ”.

b. Chọn lời kể phù hợp

Xác định giới tính, tuổi tác, địa vị của nhân vật để lựa chọn lời kể phù hợp (cách xưng hô, dùng từ ngữ). Tính chất lời kể (vui, buồn, thân mật, nghiêm trang…) cũng cần phù hợp với nội dung câu chuyện và bối cảnh kể.

c. Ghi những nội dung chính của câu chuyện

Ghi nhớ và tôn trọng những chi tiết đã biết về nhân vật cũng như cốt truyện gốc. Dự kiến những yếu tố, chi tiết sẽ được sáng tạo thêm. Có thể tóm tắt các sự kiện theo thứ tự trước sau để dễ nhớ và kể lại.

d. Lập dàn ý

  • Mở bài: Đóng vai nhân vật để tự giới thiệu sơ lược về mình và câu chuyện định kể.
  • Thân bài: Kể lại diễn biến của câu chuyện: xuất thân của các nhân vật, hoàn cảnh diễn ra câu chuyện, diễn biến chính (sự việc 1, sự việc 2, sự việc 3…).
  • Kết bài: Nêu kết thúc câu chuyện và bài học được rút ra.

Bước 2: Viết bài

Khi viết bài, các em cần lưu ý:

  • Nhất quán về ngôi kể: xưng hô thống nhất từ đầu đến cuối.
  • Dựa vào truyện gốc nhưng cố gắng sáng tạo ở những chỗ cho phép: chi tiết hóa, cụ thể hóa những chỗ truyện gốc còn chung chung; gia tăng yếu tố kì ảo, tưởng tượng; bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc, đánh giá của người kể chuyện; tăng cường miêu tả, liên tưởng.

Bước 3: Chỉnh sửa bài viết

Sau khi viết xong, các em cần rà soát lại bài theo các tiêu chí:

  • Ngôi kể, từ ngữ xưng hô có chính xác và thống nhất chưa?
  • Các diễn biến chính có phù hợp với truyện gốc không?
  • Các chi tiết sáng tạo thêm có hợp lí không?
  • Trình tự sự việc và sự kết nối giữa các đoạn có logic không?
  • Đã có đủ yếu tố miêu tả, biểu cảm chưa?
  • Có lỗi chính tả và diễn đạt không?

III. Dàn ý chung

Dưới đây là dàn ý khái quát để các em có thể áp dụng cho bất kì truyện cổ tích nào:

Mở bài:

  • Nhân vật tự giới thiệu mình là ai (tên, thân phận, hoàn cảnh hiện tại).
  • Dẫn dắt vào câu chuyện định kể (lí do kể, bối cảnh kể).

Thân bài:

  • Giới thiệu hoàn cảnh, xuất thân của các nhân vật liên quan.
  • Kể lại các sự việc chính theo trình tự thời gian:
    • Sự việc mở đầu (nguyên nhân, hoàn cảnh).
    • Các sự việc phát triển (diễn biến chính, các thử thách, xung đột).
    • Sự việc cao trào (bước ngoặt quan trọng).
    • Sự việc kết thúc (kết cục).
  • Xen kẽ cảm xúc, suy nghĩ, đánh giá của nhân vật ở từng sự việc.
  • Bổ sung miêu tả cảnh vật, con người để bài viết sinh động.

Kết bài:

  • Nêu kết thúc câu chuyện.
  • Bài học, cảm nghĩ của nhân vật sau tất cả những gì đã trải qua.

IV. Bài văn mẫu

Bài mẫu 1: Đóng vai chim thần kể lại truyện “Cây khế

Ta là một con chim thần sống trên núi cao, ngày ngày bay lượn giữa trời xanh biển rộng. Ta biết một hòn đảo giữa biển khơi, nơi có đầy vàng bạc, kim cương lấp lánh. Ta cũng biết nhìn thấu lòng người – ai lương thiện, ai tham lam. Và câu chuyện ta sắp kể đây chính là câu chuyện về hai anh em nhà nọ, một câu chuyện mà ta nhớ mãi không quên.

Ngày xửa ngày xưa, ở một vùng quê nọ có hai anh em mồ côi cha mẹ. Thuở nhỏ, hai anh em chăm lo làm lụng nên cuộc sống cũng đủ ăn. Nhưng từ khi lấy vợ, người anh sinh ra lười biếng, lại sợ em tranh công nên chia cho vợ chồng người em chỉ được một gian nhà lụp xụp với cây khế ngọt trước cửa. Ruộng vườn, của cải, người anh giữ hết cho mình.

Vợ chồng người em không hề ta thán một lời. Họ chăm chỉ làm lụng, thức khuya dậy sớm, quanh năm chăm sóc cây khế. Cây khế xanh mơn mởn, quả lúc lỉu sát đất, đẹp đẽ lắm. Ta bay ngang qua đó, thấy khế chín thơm ngào ngạt bèn sà xuống ăn. Quả khế ngọt lịm, ta ăn mãi, ngày nào cũng đến.

Suốt ròng rã cả tháng trời, ta cứ đến ăn khế vào mỗi buổi sáng. Hai vợ chồng người em chẳng hề xua đuổi, chỉ kiên nhẫn đợi ta ăn xong mới lên cây hái. Một hôm, người vợ nhẹ nhàng nói với ta: “Ông chim ơi, ông ăn như thế còn gì là khế của nhà cháu nữa! Cây khế nhà cháu cũng sắp hết quả rồi đấy, ông ạ!” Giọng nàng không hề giận dữ, chỉ buồn buồn lo lắng. Ta cảm động lắm. Những con người lương thiện, hiền lành như thế xứng đáng được đền đáp.

Ta liền đáp: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng!” Ta nói đi nói lại ba lần cho họ nhớ kĩ rồi mới vỗ cánh bay đi. Hai vợ chồng nghe lời ta, may một chiếc túi vải vừa đúng ba gang – không hơn, không kém. Chỉ riêng điều đó thôi cũng đủ cho ta thấy họ là những người thật thà, biết giữ lời hứa.

Sáng hôm sau, ta bay đến, hạ cánh giữa sân nhà họ, kêu mấy tiếng như chào hỏi. Người chồng xách túi ra, ta rạp mình xuống cho anh trèo lên lưng rồi vỗ cánh bay lên. Ta chở anh bay mãi, bay mãi, qua hết đồng ruộng đến rừng xanh, hết rừng xanh đến biển cả mênh mông. Ra tới giữa biển, ta rẽ vào hòn đảo thân thuộc của mình – nơi có toàn đá trắng, đá xanh, đá đỏ, đá ngũ sắc lấp lánh dưới ánh mặt trời.

Ta ra hiệu cho anh vào hang lấy vàng. Anh nhìn thấy hang sâu rộng, đầy vàng bạc châu báu nhưng không hề tham lam. Anh chỉ dám nhặt ít vàng và kim cương ở ngoài cửa hang cho vừa đầy chiếc túi ba gang rồi ra hiệu cho ta bay về. Ta mừng lắm, vỗ cánh chở anh trở về nhà an toàn. Từ đó, vợ chồng người em trở nên giàu có, sống sung túc.

Nhưng rồi chuyện đến tai người anh. Hắn vội vàng tìm đến, nghe em kể đầu đuôi rồi gạ đổi hết gia tài lấy cây khế. Người em thật thà ưng thuận. Vợ chồng người anh dọn đến ở, chẳng làm gì, chỉ ngồi chờ ta đến.

Ta vẫn đến ăn khế như mọi khi. Nhưng lần này, vợ chồng người anh hớt hải chạy ra, tru tréo ầm ĩ, la hét om sòm. Thái độ của họ khác hẳn vợ chồng người em – không nhẹ nhàng, không lễ phép. Ta vẫn giữ lời, đáp: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng!” rồi bay đi.

Nhưng vợ chồng người anh không nghe lời ta. Họ may chiếc túi to gấp ba lần – như một cái tay nải khổng lồ. Ta đã thấy chẳng lành nhưng vẫn chở hắn đi, bởi ta muốn cho hắn một cơ hội. Đến đảo, hắn hoa mắt vì của quý, lao vào hang vơ vét vàng bạc nhồi nhét đầy tay nải. Chưa đủ, hắn còn dồn vàng vào cả ống tay áo, ống quần. Nặng đến nỗi phải lê từng bước mới ra khỏi hang. Ta chờ lâu lắm, chốc chốc lại kêu lên thúc giục mà mãi gần chiều hắn mới lê được ra.

Ta gắng sức cất cánh nhưng nặng quá, phải lấy đà mãi mới bay nổi. Trời đã về chiều, ta còn đang bay trên biển thì bỗng nổi cơn gió mạnh. Mang nặng, bay ngược gió, ta yếu dần. Tay nải vàng bị gió bật mạnh vào cánh ta. Ta không chịu nổi nữa, buông xuôi hai cánh đâm bổ xuống biển. Trong chớp mắt, người anh đã bị sóng cuốn đi cùng với tay nải vàng và châu báu đầy người. Còn ta chỉ bị ướt lông ướt cánh, vùng lên bay về núi rừng.

Ta bay đi mà lòng không hề hối hận. Với người lương thiện, ta sẵn lòng đền đáp. Nhưng kẻ tham lam, bội bạc thì sớm muộn cũng phải trả giá. Đó là lẽ công bằng ở đời mà ta đã chứng kiến biết bao lần trên những chặng bay dài qua rừng xanh, biển rộng. Ở hiền thì gặp lành, tham thì thâm – câu chuyện của hai anh em nhà ấy chính là minh chứng rõ ràng nhất.

Bài mẫu 2: Đóng vai Vua chích choè kể lại truyện cùng tên

Tôi là người mà thiên hạ vẫn gọi là Vua chích choè. Cái tên ấy do một nàng công chúa kiêu ngạo đặt cho tôi chỉ vì chiếc cằm của tôi hơi cong. Nhưng chính nàng công chúa ấy bây giờ lại là vợ tôi – người phụ nữ mà tôi yêu thương nhất trên đời. Câu chuyện của chúng tôi khá dài, nhưng tôi tin rằng mọi người sẽ thấy thú vị. Hãy để tôi kể lại từ đầu.

Ngày ấy, tôi nghe tin nhà vua nước láng giềng mở tiệc linh đình để kén phò mã cho công chúa. Công chúa nổi tiếng đẹp tuyệt trần, vua các nước, công tước, ông hoàng, bá tước, nam tước đều kéo đến. Tôi cũng có mặt trong hàng ngũ những người đứng chờ. Chúng tôi xếp thành hàng dài theo ngôi thứ, ai cũng tự tin và hi vọng.

Nhưng thật thất vọng! Công chúa được dẫn đi xem mặt, chẳng ai được nàng tha. Người mập bị gọi là “Thùng tô-nô”, người gầy thì “gió thổi bay”, người lùn bị chê “vụng về”, người xanh xao bị đặt tên “Nhợt nhạt như chết đuối”. Đến lượt tôi, nàng nhìn chiếc cằm tôi rồi phá lên cười: “Chà, anh ta có cái cằm chẳng khác gì chim chích choè có mỏ!” Cả hội trường cười ồ lên. Từ đó, người ta gọi tôi là Vua chích choè.

Nói thật, lúc ấy tôi rất tức giận và xấu hổ. Nhưng kì lạ thay, tôi lại không ghét nàng. Tôi nhìn thấy đằng sau vẻ kiêu ngạo ấy là một cô gái thông minh, sắc sảo. Tôi nghĩ: nếu bỏ được thói kiêu căng, nàng sẽ là một người tuyệt vời. Và tôi quyết định sẽ tự mình dạy cho nàng bài học ấy.

Không lâu sau, tôi nghe tin vua cha nổi giận vì thái độ ngông cuồng của công chúa và ban truyền sẽ gả nàng cho người ăn mày đầu tiên đi qua hoàng cung. Cơ hội đã đến! Tôi lập tức cải trang thành một người hát rong nghèo khổ, mặc bộ quần áo rách bẩn, đến đứng dưới cửa sổ cung vua cất tiếng hát. Nhà vua nghe thấy, cho gọi tôi vào cung rồi giữ đúng lời thề, gả công chúa cho tôi.

Công chúa sợ hãi, van xin nhưng vua cha không đổi ý. Hôn lễ cử hành xong, tôi cầm tay nàng ra khỏi cung. Trên đường đi, chúng tôi đi qua khu rừng đẹp – đó là rừng của tôi. Nàng hỏi rừng của ai, tôi đáp: “Rừng của Vua chích choè.” Nàng thở dài: “Tôi cô gái dịu hiền đáng thương, đáng ra nên lấy ông Vua chích choè.” Rồi qua thảo nguyên xanh, qua thành phố mĩ lệ, lần nào nàng cũng tiếc nuối như vậy. Nghe nàng nói thế, lòng tôi vừa vui vừa buồn – vui vì biết nàng đã bắt đầu hối hận, buồn vì biết nàng đang rất khổ sở.

Tôi đưa nàng về một túp lều nhỏ xíu. Nàng phải cúi gập người mới lọt qua cánh cửa thấp lè tè. Nàng hỏi người hầu đâu, tôi bảo: muốn gì thì tự tay làm lấy. Tôi bảo nàng nhóm bếp nấu ăn nhưng nàng có biết gì đâu, tôi đành phải tự làm. Nhìn nàng loay hoay, lóng ngóng với những việc nhà đơn giản nhất, tôi vừa thương vừa buồn cười, nhưng tôi biết nàng cần phải học.

Lương ăn hết, tôi bảo nàng chẻ lạt đan sọt bán. Nhưng bàn tay mềm mại của nàng bị cạnh tre cứa rỉ máu. Tôi lại bảo nàng dệt vải, nhưng ngón tay nàng bị sợi cứa chảy máu. Nhìn nàng đau đớn, lòng tôi xót xa lắm. Nhưng tôi tự nhủ: phải kiên nhẫn, bài học chưa đủ sâu thì nàng sẽ không thay đổi được.

Cuối cùng, tôi bảo nàng đi bán nồi và bát đĩa ở chợ. Lần đầu mọi chuyện khá suôn sẻ, khách thấy nàng hiền lành dễ thương nên mua đông. Nhưng rồi tôi cải trang thành một hiệp sĩ, cho ngựa phi thẳng vào chợ làm đổ vỡ hết đống hàng sành sứ. Nàng ngồi ôm mặt khóc nức nở giữa chợ. Nhìn cảnh ấy, tim tôi đau nhói, nhưng tôi biết mình phải tiếp tục.

Tôi về nhà bảo nàng xin vào cung vua làm phụ bếp. Giờ đây, cô công chúa ngày xưa phải làm đủ mọi việc nặng nhọc trong nhà bếp, từ rửa bát đến dọn dẹp. Hai bên tạp dề nàng buộc hai chiếc nồi con để bỏ phần cơm mang về. Nhìn nàng như vậy, tôi hiểu nàng đã thấm thía lắm rồi.

Đến lúc tôi tổ chức lễ cưới tại cung vua – đám cưới thật sự của chúng tôi. Nàng tò mò len vào đứng xem trước cửa. Tôi bước ra, nắm tay nàng kéo vào giữa phòng tiệc. Dây buộc nồi đứt, hai chiếc nồi rơi xuống đất, cơm canh vung khắp nền nhà. Mọi người cười ồ, nhạo báng. Nàng xấu hổ muốn chui xuống đất, giật tay định chạy trốn.

Tôi giữ nàng lại và nói nhỏ vào tai: “Em đừng sợ. Người hát rong sống chung với em trong căn lều lụp xụp chính là anh. Vì yêu em nên anh đóng giả người hát rong. Chính anh cũng là hiệp sĩ cho ngựa chạy đổ vỡ hàng sành sứ của em. Tất cả chỉ nhằm uốn nắn tính kiêu ngạo và trừng phạt tính ngông cuồng thích nhạo báng người khác của em.”

Nàng bật khóc nức nở: “Em đã làm những điều sai trái, thật không xứng đáng là vợ của anh.” Tôi ôm nàng và nói: “Em đừng buồn nữa, những ngày cay đắng đã qua, giờ chúng ta hãy làm đám cưới.”

Nàng vào thay quần áo đẹp. Toàn thể triều đình đều có mặt chúc mừng. Nhìn nàng rạng rỡ trong bộ váy cưới, tôi biết mình đã làm đúng. Nàng không còn kiêu ngạo nữa mà đã trở thành một người biết tôn trọng người khác, biết trân quý những gì mình có. Nỗi vui mừng thật sự bắt đầu từ đây.

Nhìn lại hành trình ấy, tôi rút ra một điều: mỗi người đều có giá trị riêng, đừng bao giờ đánh giá ai chỉ qua vẻ bề ngoài. Và tình yêu đích thực không chỉ là yêu thương mà còn là dám giúp người mình yêu trở nên tốt đẹp hơn, dù con đường ấy có gian nan đến đâu.

V. Một số lưu ý khi viết

Dưới đây là những lưu ý quan trọng giúp các em viết bài tốt hơn:

  • Đọc kĩ truyện gốc trước khi viết, ghi nhớ các sự việc chính để không kể sai hoặc thiếu sót.
  • Chọn nhân vật mà em yêu thích hoặc cảm thấy dễ nhập vai nhất. Không nhất thiết phải đóng vai nhân vật chính – đôi khi đóng vai nhân vật phụ (như chim thần, cây đàn, con cáo…) sẽ tạo ra góc nhìn mới lạ và thú vị hơn.
  • Giữ ngôi kể thống nhất từ đầu đến cuối. Nếu xưng “tôi” thì phải xưng “tôi” xuyên suốt, không được chuyển sang “ta” hay “mình” giữa chừng.
  • Thêm cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật ở những thời điểm quan trọng. Đây chính là điểm khác biệt lớn nhất so với truyện gốc và là yếu tố giúp bài viết hấp dẫn.
  • Phần mở bài nên thu hút bằng cách nhân vật tự giới thiệu, đặt câu hỏi, hoặc nói lí do kể chuyện. Phần kết bài nên nêu bài học hoặc cảm nghĩ sâu sắc.
Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng