Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- I. Yêu cầu đối với bài văn tả cảnh sinh hoạt
- II. Dàn ý bài văn tả cảnh sinh hoạt
- III. Các bước viết bài văn tả cảnh sinh hoạt
- Bước 1: Trước khi viết
- Bước 2: Viết bài
- Bước 3: Chỉnh sửa bài viết
- IV. Phân tích bài viết tham khảo trong SGK
- V. Bài văn mẫu
- Bài văn mẫu 1: Tả cảnh gói bánh chưng ngày Tết
- Bài văn mẫu 2: Tả cảnh chợ quê buổi sáng
Viết bài văn tả cảnh sinh hoạt là một trong những nội dung quan trọng thuộc chương trình Ngữ văn lớp 6. Qua bài viết này, các em sẽ được rèn luyện khả năng quan sát, sáng tạo và diễn đạt để miêu tả những cảnh sinh hoạt quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn các em nắm vững yêu cầu, cách viết, dàn ý chi tiết và tham khảo 2 bài văn mẫu hay.
I. Yêu cầu đối với bài văn tả cảnh sinh hoạt
Theo sách giáo khoa Ngữ văn 6, một bài văn tả cảnh sinh hoạt cần đáp ứng đầy đủ 5 yêu cầu sau:
Thứ nhất, giới thiệu được cảnh sinh hoạt. Ngay phần mở bài, các em cần cho người đọc biết mình sẽ tả cảnh sinh hoạt gì, ở đâu, vào thời gian nào.
Thứ hai, tả bao quát quang cảnh. Trước khi đi vào chi tiết, cần miêu tả tổng thể không gian, thời gian và hoạt động chính của cảnh sinh hoạt. Có thể đi từ xa đến gần, từ bao quát đến cụ thể.
Thứ ba, tả hoạt động cụ thể của con người. Đây là phần quan trọng nhất. Cần miêu tả chi tiết hành động, lời nói, cử chỉ, biểu cảm của những người tham gia cảnh sinh hoạt.
Thứ tư, sử dụng từ ngữ phù hợp. Cần dùng từ ngữ gợi hình, gợi cảm, vận dụng các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, từ láy tượng hình, tượng thanh để miêu tả cảnh sinh hoạt một cách rõ nét, sinh động.
Thứ năm, nêu được cảm nghĩ về cảnh sinh hoạt. Ở phần kết bài, các em cần bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc, đánh giá của bản thân về cảnh sinh hoạt đó.
II. Dàn ý bài văn tả cảnh sinh hoạt
Mở bài: Giới thiệu cảnh sinh hoạt (cảnh gì, ở đâu, khi nào, trong hoàn cảnh nào).
Thân bài: Miêu tả cảnh sinh hoạt.
- Tả bao quát khung cảnh và ấn tượng chung về cảnh sinh hoạt (không gian, thời gian, quang cảnh nhìn từ xa).
- Tả cụ thể cảnh sinh hoạt theo trình tự thời gian hoặc không gian:
- Hoạt động cụ thể của những người tham gia (hành động, lời nói, cử chỉ, nét mặt).
- Âm thanh, màu sắc, mùi vị đặc trưng của cảnh sinh hoạt.
- Thể hiện cảm xúc khi quan sát, chứng kiến hoặc tham gia cảnh sinh hoạt.
Kết bài: Nêu suy nghĩ, đánh giá của người viết về cảnh sinh hoạt. Có thể nêu ý nghĩa của cảnh sinh hoạt đối với bản thân hoặc cộng đồng.
III. Các bước viết bài văn tả cảnh sinh hoạt
Bước 1: Trước khi viết
Lựa chọn đề tài: Hãy nhớ lại những cảnh sinh hoạt để lại cho em ấn tượng sâu sắc. Một số đề tài gợi ý: cảnh chợ cá bên bờ biển, ngày Tết Trung thu ở quê, cảnh thu hoạch mùa màng, cảnh gói bánh chưng ngày Tết, cảnh một lễ hội của địa phương, giờ ra chơi ở trường, bữa cơm gia đình…
Tìm ý: Hình dung các chi tiết về cảnh sinh hoạt theo trí nhớ: thời gian, địa điểm; quang cảnh chung và những hoạt động cụ thể; những người tham gia và hành động, lời nói của họ.
Lập dàn ý: Sắp xếp các ý đã tìm được theo trình tự hợp lý (mở bài – thân bài – kết bài).
Bước 2: Viết bài
Khi viết bài, các em cần lưu ý:
- Tả những gì em đã quan sát hoặc trải nghiệm thực tế.
- Tả cụ thể hình dáng, màu sắc, âm thanh, mùi vị để cảnh sinh hoạt hiện lên rõ nét.
- Sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, từ láy tượng hình, tượng thanh để bài viết thêm sinh động.
- Dùng những từ ngữ thể hiện chân thực tình cảm, suy nghĩ của em.
- Viết sạch, đẹp, đúng chính tả.
Bước 3: Chỉnh sửa bài viết
Sau khi viết xong, các em cần rà soát lại bài theo các tiêu chí: đã giới thiệu được cảnh sinh hoạt chưa, đã tả quang cảnh chung chưa, đã tả hoạt động cụ thể của con người chưa, từ ngữ miêu tả đã sinh động chưa, đã nêu cảm nghĩ chưa, có lỗi chính tả hay diễn đạt không. Nếu phát hiện thiếu sót thì bổ sung, chỉnh sửa.
IV. Phân tích bài viết tham khảo trong SGK
Bài viết tham khảo “Một buổi chợ phiên vùng cao” trong sách giáo khoa đã tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của bài văn tả cảnh sinh hoạt:
Giới thiệu cảnh sinh hoạt: Ngay từ đầu, tác giả giới thiệu cảnh chợ phiên ở Lào Cai, họp vào sáng thứ Bảy hằng tuần.
Tả quang cảnh chung: Tác giả miêu tả cái nhìn bao quát, đi từ bên ngoài vào trong, từ xa đến gần. “Từ trên cao nhìn xuống, cả khu chợ như miếng thổ cẩm sặc sỡ khảm vào tấm áo của rừng núi và mây trời” – hình ảnh so sánh rất đẹp, gợi lên sự đa sắc màu của chợ phiên vùng cao.
Tả hoạt động cụ thể của con người: Phụ nữ váy áo xúng xính đủ hoa văn, đeo vòng bạc lấp lánh. Đàn ông cầm khèn, túm tụm quanh hũ rượu. Em bé được mẹ địu, mắt tròn xoe, má căng mọng. Người ta mua bán sản vật núi rừng, ăn thắng cố, xôi ngũ sắc. Mỗi đối tượng đều có hoạt động riêng, rất sinh động.
Sử dụng từ ngữ phù hợp: Bài viết dùng nhiều từ láy gợi hình (xúng xính, lấp lánh, khẳng khiu, ăm ắp, sùng sục, nghi ngút), từ ngữ chỉ âm thanh (rộn rã, dìu dặt, ồn ã), hình ảnh so sánh (chợ như miếng thổ cẩm) để cảnh sinh hoạt hiện lên rõ nét.
Nêu cảm nghĩ: Kết bài nêu ý nghĩa của chợ phiên – “nơi lưu giữ bản sắc văn hóa trong sinh hoạt cộng đồng các dân tộc thiểu số phía bắc Việt Nam” – và mời gọi người đọc đến trải nghiệm.
V. Bài văn mẫu
Bài văn mẫu 1: Tả cảnh gói bánh chưng ngày Tết
Trong những ngày giáp Tết, có lẽ cảnh gói bánh chưng tại nhà bà ngoại là cảnh sinh hoạt để lại trong em nhiều kỉ niệm đẹp nhất. Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày hai mươi tám Tết, cả nhà lại quây quần bên nồi bánh chưng ấm cúng.
Từ sáng sớm, sân nhà bà đã nhộn nhịp hẳn lên. Ông ngoại lúi húi rửa lá dong bên giếng nước, từng chiếc lá to bản, xanh mướt được rửa sạch rồi xếp ngay ngắn trên chiếc mâm nhôm. Bà ngoại ngồi bên rổ gạo nếp trắng ngần, tay thoăn thoắt đãi gạo, miệng khe khẽ hát. Mẹ em thì xào nhân đỗ xanh, trộn cùng thịt ba chỉ đã ướp hạt tiêu thơm lừng. Mùi hạt tiêu cay nồng quyện với mùi đỗ xanh bùi bùi lan tỏa khắp gian bếp.
Đến khoảng chín giờ sáng, cả nhà bắt đầu gói bánh. Ông ngoại là người gói giỏi nhất. Ông trải lá dong lên mặt khuôn gỗ, tay rắc đều một lớp gạo nếp trắng muốt, rồi đặt nhân đỗ xanh và miếng thịt ba chỉ vào giữa, phủ thêm một lớp gạo lên trên. Bàn tay ông khéo léo gấp lá, buộc lạt, chiếc bánh vuông vức, chắc nịch hiện ra chỉ trong chốc lát. Em và mấy anh chị cũng xúm vào học gói. Chiếc bánh đầu tiên của em méo mó, lạt buộc lỏng lẻo, gạo chui ra ngoài. Cả nhà cười ồ lên. Bà ngoại cầm tay em chỉ cách gấp lá cho kín, buộc lạt cho chặt. Chiếc bánh thứ hai của em đã vuông vắn hơn nhiều.
Chiều muộn, nồi bánh chưng được bắc lên bếp củi ngoài sân. Ngọn lửa bùng lên, reo tí tách, ánh lửa bập bùng soi sáng cả một góc sân. Nồi bánh sôi ùng ục, hơi nước bốc lên nghi ngút, mùi bánh chưng thoang thoảng bay ra thơm ngậy. Cả nhà ngồi quây quần bên bếp lửa, vừa canh bánh vừa trò chuyện rôm rả. Ông kể chuyện ngày xưa, bà nhắc những kỉ niệm Tết cũ, mẹ bổ cam mời mọi người ăn. Em ngồi dựa lưng vào vai mẹ, nhìn ngọn lửa nhảy múa, lắng nghe tiếng cười nói ấm áp mà thấy lòng vui sướng lạ thường.
Nồi bánh được nấu suốt đêm. Sáng hôm sau, ông vớt bánh ra, xếp lên tấm phản gỗ rồi đè cho ráo nước. Những chiếc bánh chưng vuông vức, xanh mướt nằm ngay hàng thẳng lối, thơm phức mùi lá dong và nếp mới.
Cảnh gói bánh chưng ngày Tết ở nhà bà ngoại là khoảnh khắc mà em luôn mong chờ nhất mỗi dịp xuân về. Đó không chỉ là nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc mà còn là dịp để cả gia đình sum họp, gắn kết yêu thương. Em mong rằng truyền thống gói bánh chưng ngày Tết sẽ được gìn giữ mãi mãi.
Bài văn mẫu 2: Tả cảnh chợ quê buổi sáng
Gần nhà em có một khu chợ nhỏ. Cứ mỗi sáng sớm, chợ lại nhộn nhịp người mua kẻ bán. Cảnh chợ quê buổi sáng là bức tranh sinh hoạt quen thuộc mà em rất yêu thích.
Khi trời còn mờ sương, chợ đã bắt đầu họp. Từng chiếc xe máy, xe đạp chở hàng nối đuôi nhau chạy về phía chợ. Tiếng còi xe bim bim, tiếng người gọi nhau í ới phá tan sự yên tĩnh của buổi sớm mai. Nhìn từ xa, cả khu chợ như một tấm vải nhiều màu trải dài bên con đường làng, dưới những tán cây bàng xanh mát.
Bước vào chợ, em thấy sự nhộn nhịp, tấp nập hiện ra trước mắt. Hàng rau của bà Tư bày biện ngay ngắn những mớ rau muống xanh non, mấy bó rau cải mơn mởn còn đọng sương mai long lanh. Bên cạnh là hàng cá của chú Năm, mấy con cá chép vàng óng, cá rô đồng mập ú vẫn còn quẫy đuôi tanh tách trong chậu nước. Chú Năm tay thoăn thoắt đánh vảy, miệng rao vang: “Cá tươi đây, cá tươi rẻ đây!” Góc chợ bên phải là hàng thịt của cô Ba, những miếng thịt heo tươi hồng xếp trên mặt phản gỗ sạch bong, cô Ba vừa cắt thịt vừa nói chuyện rôm rả với khách.
Khu bán hàng ăn sáng lúc nào cũng đông nhất. Khói từ nồi phở bốc lên nghi ngút, mùi nước dùng thơm lừng quyện với mùi hành phi vàng rộm khiến ai đi ngang cũng phải nuốt nước miếng. Bà cụ bán xôi ngồi bên góc chợ, mở chiếc nồi nhôm bọc khăn ấm, từng nắm xôi nóng hổi, dẻo thơm được bà gói vào lá chuối xanh rồi đưa cho khách với nụ cười hiền hậu. Mấy bác nông dân ghé vào ăn tô phở nóng trước khi ra đồng, vừa ăn vừa bàn chuyện mùa màng.
Giữa chợ, các bà, các mẹ xúm xít quanh sạp vải. Tiếng mặc cả, tiếng cười nói vang lên rộn rã. Mấy đứa trẻ theo mẹ đi chợ, tay cầm que kem, mắt tròn xoe nhìn quầy đồ chơi đủ màu sắc. Thỉnh thoảng, một chú chó nhỏ len lỏi giữa các hàng quán, vẫy đuôi tíu tít, mong được ai cho miếng xương.
Khoảng tám giờ sáng, nắng đã lên cao, chợ bắt đầu thưa dần. Người mua kẻ bán lần lượt ra về, ai nấy đều hài lòng với buổi chợ sáng. Mặt đường còn vương vài chiếc lá rau, vài giọt nước cá tươi lấp lánh dưới nắng.
Chợ quê buổi sáng tuy nhỏ bé, giản dị nhưng chứa đựng biết bao tình cảm ấm áp của người dân quê. Đó là nơi mọi người gặp gỡ, trò chuyện, chia sẻ với nhau những câu chuyện đời thường. Mỗi sáng đi qua chợ, em lại cảm thấy yêu thêm cái làng quê bình dị, thân thương của mình.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
