Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- 1. Quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông Hồng. Chế độ nước sông Hồng
- 2. Quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông Cửu Long. Chế độ nước sông Cửu Long
- 3. Quá trình con người khai khẩn và cải tạo châu thổ, chế ngự và thích ứng với chế độ nước của sông Hồng và sông Cửu Long
- Luyện tập và Vận dụng
Câu hỏi mở đầu trang 155
Đề bài: Phù sa của hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Mê Công đã bồi đắp nên hai đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta là đồng bằng châu thổ sông Hồng và đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Hai châu thổ được hình thành và phát triển như thế nào? Con người đã khai khẩn và cải tạo châu thổ, chế ngự và thích ứng với chế độ nước của các dòng sông chính trên châu thổ ra sao?
Lời giải:
Một số hiểu biết ban đầu về hai châu thổ:
- Châu thổ sông Hồng: được hình thành từ quá trình bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng kết hợp với tác động của thuỷ triều và sóng biển. Người Việt đã sớm khai khẩn, đắp đê trị thuỷ để phát triển nông nghiệp lúa nước.
- Châu thổ sông Cửu Long: được hình thành do phù sa của hệ thống sông Mê Công bồi đắp. Người dân khai khẩn vùng đất này theo hướng thích ứng với tự nhiên, đào kênh rạch, sống cùng mùa lũ.
1. Quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông Hồng. Chế độ nước sông Hồng
Câu hỏi trang 156
Đề bài: Dựa vào thông tin trong mục a, hãy trình bày quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông Hồng.

Lời giải:
a) Khái quát:
- Hệ thống sông Hồng là một trong hai hệ thống sông lớn nhất Việt Nam. Dòng chính bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy vào lãnh thổ Việt Nam theo hướng tây bắc – đông nam rồi đổ ra vịnh Bắc Bộ.
- Châu thổ sông Hồng rộng khoảng 15 000 km², có dạng tam giác, đỉnh ở Thanh Miếu (tỉnh Phú Thọ), đáy là đường bờ biển từ nơi giáp giới giữa thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh đến cửa sông Đáy (tỉnh Ninh Bình).
- Hệ thống sông Hồng có tổng lượng dòng chảy lên tới 112 tỉ m³/năm; lượng phù sa hết sức phong phú, khoảng 120 triệu tấn/năm.
b) Quá trình hình thành và phát triển:
- Châu thổ sông Hồng được hình thành từ quá trình bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng, kết hợp với tác động của thuỷ triều và sóng biển.
- Khi đổ ra biển, phù sa được lắng đọng ở cửa sông và hình thành châu thổ. Cùng với thời gian, châu thổ sông Hồng ngày càng tiến ra biển (một số nơi ở Ninh Bình, Hưng Yên có tốc độ tiến ra biển lên tới hàng chục mét/năm).
- Phù sa sông còn có tác dụng bồi cao để hoàn chỉnh bề mặt châu thổ.
- Để mở rộng diện tích sinh sống, sản xuất đồng thời phòng chống lũ lụt, ông cha ta đã xây dựng một hệ thống đê dài hàng nghìn km dọc hai bên bờ sông (tuyến đê đầu tiên được xây dựng năm 1108 vào thời vua Lý Nhân Tông). Điều này đã làm cho địa hình bề mặt châu thổ không còn được bồi đắp thường xuyên.
Câu hỏi trang 157
Đề bài: Dựa vào thông tin trong mục b và hình 1.2, hãy mô tả chế độ nước của sông Hồng.

Lời giải:
Chế độ nước sông Hồng:
- Toàn hệ thống sông Hồng có tới hàng trăm phụ lưu các cấp (lớn nhất là sông Đà và sông Lô). Các phụ lưu hợp với dòng chính thành một mạng lưới hình nan quạt.
- Chế độ nước sông Hồng tương đối đơn giản, trong năm có một mùa lũ và một mùa cạn rõ rệt:
- Mùa lũ: kéo dài 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10), chiếm khoảng 75% lưu lượng dòng chảy cả năm. Các đợt lũ lên nhanh và đột ngột.
- Mùa cạn: kéo dài 7 tháng (từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau), chỉ chiếm khoảng 25% lưu lượng dòng chảy cả năm. Mực nước sông hạ thấp rõ rệt.
- Quan sát hình 1.2 (trạm Hà Nội), ta thấy: lưu lượng nước cao nhất là tháng 7 (5 632 m³/s), thấp nhất là tháng 2 (924 m³/s).
- Từ khi các hệ thống hồ chứa nước được xây dựng ở thượng lưu hệ thống sông, chế độ nước sông đã trở nên điều hoà hơn.
2. Quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông Cửu Long. Chế độ nước sông Cửu Long
Câu hỏi trang 158
Đề bài: Dựa vào thông tin trong mục a, hãy trình bày quá trình hình thành và phát triển châu thổ sông Cửu Long.
Lời giải:
a) Khái quát:
- Hệ thống sông Mê Công là một trong những hệ thống sông lớn ở châu Á và thế giới. Phần sông Mê Công chảy trên lãnh thổ Việt Nam (sông Cửu Long) dài hơn 230 km. Sông Cửu Long gồm hai nhánh chính là sông Tiền và sông Hậu cùng hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt.
- Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long là đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta, có diện tích hơn 40 nghìn km², bao gồm phần đất nằm trong phạm vi tác động trực tiếp của sông Tiền, sông Hậu và phần đất nằm ngoài phạm vi đó nhưng vẫn được cấu tạo bởi phù sa sông (như bán đảo Cà Mau).
b) Quá trình hình thành và phát triển:
- Tổng lượng dòng chảy của hệ thống sông Cửu Long rất lớn, đạt 507 tỉ m³/năm, chiếm 60,4% tổng lượng nước của tất cả sông ngòi ở Việt Nam; vì vậy, tuy hàm lượng phù sa không cao nhưng tổng lượng phù sa của hệ thống sông Cửu Long vẫn rất lớn.
- Do không có hệ thống đê ven sông như ở châu thổ sông Hồng nên khi mùa lũ đến, nước sông Cửu Long dâng tràn ngập một vùng rộng khoảng 10 000 km² (chủ yếu ở Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên), bồi đắp phù sa cho bề mặt châu thổ.
- Trước đây, hằng năm châu thổ sông Cửu Long tiến ra biển ở khu vực bán đảo Cà Mau tới hàng trăm mét mỗi năm. Hiện nay, do biến đổi khí hậu, nước biển dâng và hàm lượng phù sa trong nước sông giảm nên nhiều nơi ở ven biển của châu thổ bị sạt lở.
Câu hỏi trang 158
Đề bài: Dựa vào thông tin trong mục b và hình 1.4, hãy mô tả chế độ nước của sông Cửu Long.

Lời giải:
Chế độ nước của sông Cửu Long đơn giản và điều hoà, chia thành hai mùa:
- Mùa lũ: dài 5 tháng (từ tháng 7 đến tháng 11), chiếm khoảng 80% lưu lượng dòng chảy cả năm. Lũ khi lên và khi rút đều diễn ra chậm vì lưu vực sông Mê Công dài, có dạng lông chim và nước lũ được điều tiết bởi hồ Tôn-lê Sáp (Cam-pu-chia).
- Mùa cạn: dài 7 tháng (từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau), chiếm khoảng 20% lưu lượng dòng chảy cả năm.
- Đặc biệt, nước sông ở vùng hạ lưu châu thổ chịu tác động rất mạnh của chế độ thuỷ triều.
- Quan sát hình 1.4 (trạm Mỹ Thuận), ta thấy: lưu lượng nước cao nhất là tháng 9 (13 310 m³/s), thấp nhất là tháng 4 (1 204 m³/s).
3. Quá trình con người khai khẩn và cải tạo châu thổ, chế ngự và thích ứng với chế độ nước của sông Hồng và sông Cửu Long
Câu hỏi 1 trang 160
Đề bài: Khai thác tư liệu trên giúp em biết được điều gì về vấn đề đê điều dưới Triều Nguyễn?
Lời giải:
Qua chiếu của vua Gia Long, em biết được một số điều về vấn đề đê điều dưới Triều Nguyễn:
- Vấn đề đê điều ở vùng ven sông Hồng được Triều Nguyễn rất quan tâm và coi trọng.
- Tình trạng vỡ đê, ngập lụt vẫn thường xuyên xảy ra, gây thiệt hại lớn cho mùa màng và đời sống nhân dân (lúa ruộng bị ngập, người và vật đều bị hại).
- Triều Nguyễn đã đặt vấn đề bàn bạc, thảo luận giữa các quan lại để tìm ra giải pháp phù hợp: nên tiếp tục đắp đê hay bỏ đê, cách nào lợi, cách nào hại.
- Thể hiện sự thận trọng, lắng nghe ý kiến của vua Gia Long trong việc giải quyết vấn đề thuỷ lợi, đê điều.
Câu hỏi 2 trang 160
Đề bài: Trình bày những nét chính về quá trình con người khai khẩn và cải tạo châu thổ, chế ngự chế độ nước sông Hồng.
Lời giải:
a) Khai thác nguồn lợi từ sông nước:
- Mạng lưới thuộc hệ thống sông Hồng đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống của người Việt cổ ở miền Bắc: là nơi cung cấp nguồn thức ăn, là đường giao thông liên kết giữa các vùng.
- Hình ảnh về cuộc sống sông nước được in đậm trên các di vật (trống đồng Đông Sơn, lưỡi câu đồng văn hoá Gò Mun, vỏ ốc trong văn hoá Hạ Long,…).
b) Quá trình chế ngự chế độ nước:
- Để phát triển nông nghiệp lúa nước, người Việt đã sớm biết tạo nên các hệ thống kênh (sông đào) dẫn nước vào ruộng, tiêu nước, phân lũ về mùa mưa; đồng thời sớm tổ chức đắp đê, trị thuỷ.
- Thời Hùng Vương: xuất hiện đê ở Phong Châu (tỉnh Phú Thọ) – “thổ nhồ”.
- Năm 1108 (thời vua Lý Nhân Tông): đê Cơ Xá được xây dựng để bảo vệ kinh thành Thăng Long; vua cũng ra lệnh đắp đê trên sông Như Nguyệt (sông Cầu) dài 30 km.
- Từ thế kỉ XI, dưới thời Lý: Nhà nước Đại Việt cho đắp đê dọc theo hầu hết các con sông lớn.
- Thời Trần: gia cố các đoạn đê xung yếu ở hai bên bờ sông Hồng (đê quai vạc) và đặt ra chức quan Hà đê sứ chuyên trách trông coi việc đắp đê.
- Thế kỉ XV (thời Lê): bắt đầu tiến hành quai đê lấn biển để khai thác bãi bồi vùng cửa sông.
- Thời Nguyễn: đẩy mạnh việc quai đê lấn biển ở vùng ven biển các tỉnh Hưng Yên, Ninh Bình ngày nay, gắn liền với tên tuổi của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ.
Câu hỏi trang 161
Đề bài: Trình bày những nét chính về quá trình con người khai khẩn và cải tạo châu thổ, chế ngự và thích ứng với chế độ nước sông Cửu Long.
Lời giải:
a) Vùng đất sớm được khai khẩn:
- Với vùng đồng bằng phì nhiêu, rộng lớn, vùng đất Nam Bộ Việt Nam sớm được khai khẩn và trở thành một trung tâm nông nghiệp lúa nước thời Vương quốc Phù Nam.
- Trên nền tảng kinh tế nông nghiệp phát triển, một nền văn minh rực rỡ gắn với các di tích thuộc văn hoá Óc Eo, Vương quốc Phù Nam đã để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử Đông Nam Á từ thế kỉ I đến đầu thế kỉ VII.
b) Giai đoạn biển tiến và hoang vu:
- Đến thế kỉ IV, ở Nam Bộ xuất hiện tình trạng biển tiến cục bộ, nước mặn dần dâng cao. Quá trình này đã làm cho toàn bộ vùng đất thấp bị ngập mặn, gây hậu quả lâu dài và ảnh hưởng nghiêm trọng đến nghề trồng lúa.
- Cho đến thế kỉ XIII, Nam Bộ vẫn còn là vùng đất tương đối hoang vu.
c) Quá trình khai khẩn theo hướng thích ứng:
- Khác với châu thổ sông Hồng (gắn liền với việc đắp đê trị thuỷ), việc khai khẩn đồng bằng sông Cửu Long lại là một quá trình thích ứng với tự nhiên.
- Từ khoảng thế kỉ XVII, quá trình khai hoang, phục hoá đồng ruộng được đẩy mạnh với nhiều dòng kênh lớn được đào và đưa vào khai thác.
- Các cộng đồng cư dân đến từ phía bắc, cùng với những nhóm cư dân có mặt từ trước, đã sát cánh bên nhau khai phá trên quy mô lớn, phát triển vùng đất Nam Bộ dần thành một trung tâm kinh tế của đất nước.
d) Văn hoá sông nước:
- Cuộc sống trên sông nước, gần sông nước và những ứng xử thường xuyên với môi trường đã tạo nên một nền văn hoá đậm chất sông nước.
- Chợ nổi, nhà nổi,… là những cách thích ứng với môi trường sông nước của cư dân Đồng bằng sông Cửu Long.
- Do tác động lớn của môi trường sông nước mà “nước” trở thành quan niệm của người Việt về Tổ quốc từ xưa đến nay.
Luyện tập và Vận dụng
Luyện tập 1 trang 161
Đề bài: Chế độ nước của các sông chính ở châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Cửu Long khác nhau như thế nào?
Lời giải:
| Tiêu chí so sánh | Sông Hồng | Sông Cửu Long |
|---|---|---|
| Tính chất chế độ nước | Đơn giản nhưng thất thường | Đơn giản và điều hoà |
| Thời gian mùa lũ | 5 tháng (tháng 6 – tháng 10) | 5 tháng (tháng 7 – tháng 11) |
| Lượng nước mùa lũ | Chiếm khoảng 75% lưu lượng cả năm | Chiếm khoảng 80% lưu lượng cả năm |
| Đặc điểm mùa lũ | Lũ lên nhanh và đột ngột | Lũ lên và rút chậm (do lưu vực dài, dạng lông chim, có hồ Tôn-lê Sáp điều tiết) |
| Thời gian mùa cạn | 7 tháng (tháng 11 – tháng 5 năm sau) | 7 tháng (tháng 12 – tháng 6 năm sau) |
| Lượng nước mùa cạn | Khoảng 25% lưu lượng cả năm | Khoảng 20% lưu lượng cả năm |
| Mạng lưới sông | Hình nan quạt → tập trung nước nhanh | Hình lông chim, kênh rạch chằng chịt |
| Tác động thuỷ triều | Tác động ít | Vùng hạ lưu chịu tác động rất mạnh của thuỷ triều |
Luyện tập 2 trang 161
Đề bài: Theo em, quá trình con người khai thác và cải tạo châu thổ, chế ngự và thích ứng với chế độ nước của sông Hồng và sông Cửu Long có điểm gì giống và khác nhau?
Lời giải:
a) Điểm giống nhau:
- Cả hai vùng đều được con người khai khẩn từ rất sớm trong lịch sử.
- Đều phát triển nền nông nghiệp lúa nước làm cơ sở kinh tế chủ yếu.
- Đều phải chế ngự và thích ứng với chế độ nước của các sông lớn để bảo vệ sản xuất và đời sống.
- Đều hình thành nên những nét văn hoá đặc trưng gắn liền với sông nước.
b) Điểm khác nhau:
| Tiêu chí | Châu thổ sông Hồng | Châu thổ sông Cửu Long |
|---|---|---|
| Cách thức chính | Đắp đê, trị thuỷ, chế ngự nguồn nước | Thích ứng với tự nhiên, sống cùng lũ |
| Hoạt động chủ yếu | Đắp đê dọc sông, quai đê lấn biển | Đào kênh rạch, khai hoang, phục hoá |
| Mốc lịch sử | Bắt đầu từ thời Hùng Vương, phát triển mạnh từ thời Lý (TK XI) | Đẩy mạnh từ khoảng thế kỉ XVII |
| Văn hoá đặc trưng | Văn hoá làng xã nông nghiệp lúa nước, có đê bao | Văn hoá sông nước: chợ nổi, nhà nổi,… |
Vận dụng trang 161
Đề bài: Chọn và hoàn thành một trong hai nhiệm vụ sau:
- Sưu tầm tư liệu, hình ảnh về địa hình, sông ngòi của châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Cửu Long.
- Tìm hiểu thêm từ sách, báo, internet và cho biết: Hiện nay, việc khai thác và cải tạo châu thổ, chế ngự và thích ứng với chế độ nước của sông Hồng và sông Cửu Long có cần thiết không? Vì sao?
Lời giải:
Đây là câu hỏi vận dụng, em hãy chọn một nhiệm vụ phù hợp với mình. Dưới đây là gợi ý:
Gợi ý cho nhiệm vụ 1: Sưu tầm các nội dung sau:
- Hình ảnh địa hình bằng phẳng, ô trũng, hệ thống đê ở châu thổ sông Hồng.
- Hình ảnh kênh rạch chằng chịt, chợ nổi, nhà nổi ở châu thổ sông Cửu Long.
- Tư liệu về tốc độ tiến ra biển, sạt lở, ngập mặn của hai châu thổ.
Gợi ý cho nhiệm vụ 2:
Hiện nay, việc khai thác, cải tạo châu thổ và chế ngự, thích ứng với chế độ nước của sông Hồng và sông Cửu Long rất cần thiết, vì:
- Đối với sông Hồng: Cần tiếp tục bảo vệ, nâng cấp hệ thống đê điều để phòng chống lũ lụt; quản lí và sử dụng hợp lí nguồn nước để phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt.
- Đối với sông Cửu Long: Đang chịu tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn, sạt lở bờ biển và bờ sông. Vì vậy, cần có các giải pháp thích ứng như cải tạo kênh rạch, xây dựng công trình thuỷ lợi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp,…
- Đảm bảo phát triển bền vững, ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân hai vùng châu thổ – những vùng đất quan trọng bậc nhất của nước ta.

Thầy Võ Thành Luận
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử & Địa Lí THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Sử-Địa, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ A2
Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại THCS Lê Thánh Tôn
