Giải Chủ đề chung 2: Bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông (trang 162)

Câu hỏi mở đầu trang 162

Đề bài: Cùng với phần đất liền, biển đảo là không gian sinh tồn và phát triển của dân tộc Việt Nam từ bao đời nay. Hãy cho biết những thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông.

Lời giải:

a) Thuận lợi:

  • Vùng biển nước ta có tài nguyên đa dạng, phong phú (sinh vật, khoáng sản, du lịch,…) tạo điều kiện phát triển nhiều ngành kinh tế biển.
  • Vị trí gần các tuyến hàng hải quốc tế, thuận lợi cho giao thông vận tải biển.
  • cơ sở pháp lí quốc tế (Công ước Luật Biển năm 1982) và hệ thống luật trong nước (Luật Biên giới Quốc gia 2003, Luật Biển Việt Nam 2012,…) để bảo vệ chủ quyền.

b) Khó khăn:

  • Nhiều thiên tai (bão, áp thấp nhiệt đới,…), tác động của biến đổi khí hậu (sạt lở, nước biển dâng).
  • Cơ sở hạ tầng biển đảo chưa đầy đủ, đồng bộ.
  • Một số quốc gia đưa ra yêu sách phi lí, tình trạng chồng lấn vùng biển dẫn đến tranh chấp.

1. Vị trí, phạm vi các vùng biển và hải đảo Việt Nam

Câu hỏi trang 166

Đề bài: Quan sát các hình 2.1, 2.2 và bảng 2.1, 2.2, hãy xác định:

  • Các mốc để xác định đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải của lục địa nước ta.
  • Các mốc đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ.

Lời giải:

a) Các mốc xác định đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải của lục địa nước ta:

Đường cơ sở của Việt Nam là đường thẳng gãy khúc nối liền các điểm từ điểm 0 đến A24, gồm 25 điểm chuẩn:

  • Điểm 0: nằm trên ranh giới phía Tây Nam của vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và Cam-pu-chia.
  • A1: Hòn Nhạn, quần đảo Thổ Chu, tỉnh An Giang.
  • A2: Hòn Đá Lẻ ở Đông Nam Hòn Khoai, tỉnh Cà Mau.
  • A3, A4, A5: Hòn Tài Lớn, Hòn Bông Lang, Hòn Bảy Cạnh – Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • A6: Hòn Hải (Nhóm đảo Phú Quý), tỉnh Lâm Đồng.
  • A7: Hòn Đôi, tỉnh Khánh Hoà.
  • A8: mũi Đại Lãnh, tỉnh Đắk Lắk.
  • A9: Hòn Ông Căn, tỉnh Gia Lai.
  • A10: đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
  • A11, A12: đảo Cồn Cỏ, Hòn Gió Lớn – tỉnh Quảng Trị.
  • A13: Hòn Chim, tỉnh Hà Tĩnh.
  • A14: Hòn Mắt Con, tỉnh Nghệ An.
  • A15: đảo Hòn Mê, tỉnh Thanh Hoá.
  • A16: đảo Long Châu Đông, thành phố Hải Phòng.
  • A17 – A23: các đảo Hạ Mai, Thanh Lam, Hòn Bố Cát, Trà Cổ – tỉnh Quảng Ninh.
  • A24: Điểm số 1 theo Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ.

b) Các mốc đường phân định trong vịnh Bắc Bộ:

Đường phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc được xác định qua 21 điểm nối tuần tự với nhau bằng các đoạn thẳng (theo Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000):

  • Điểm số 1: 21°28’12”.5 Bắc, 108°06’04”.3 Đông (trùng với điểm A24).
  • Điểm số 21: 17°47’00” Bắc, 107°58’00” Đông.
  • Các điểm còn lại (từ điểm 2 đến điểm 20) có toạ độ chi tiết trong bảng 2.2.

2. Những thuận lợi, khó khăn đối với phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo

Câu hỏi trang 167

Đề bài: Dựa vào thông tin trong mục a và các kiến thức đã học, hãy:

  • Nêu một số hoạt động kinh tế ở vùng biển đảo nước ta.
  • Cho biết việc phát triển kinh tế ở vùng biển đảo nước ta có những thuận lợi, khó khăn gì.

Lời giải:

a) Một số hoạt động kinh tế ở vùng biển đảo nước ta:

  • Khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, làm muối.
  • Khai thác khoáng sản (dầu mỏ, khí tự nhiên, ti-tan, cát thuỷ tinh,…).
  • Giao thông vận tải biển (xây dựng cảng nước sâu).
  • Du lịch biển đảo.

b) Thuận lợi:

  • Tài nguyên biển (sinh vật, khoáng sản,…) đa dạng, phong phú → tạo điều kiện phát triển nhiều ngành kinh tế biển: khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, làm muối, khai thác khoáng sản,…
  • Vị trí nằm gần các tuyến hàng hải quốc tế trên Biển Đông, dọc bờ biển có nhiều vịnh biển kín để xây dựng các cảng nước sâu → phát triển giao thông vận tải biển, là cửa ngõ giao thương với thị trường quốc tế.
  • Nhiều bãi biển đẹp, nước biển ấm, chan hoà ánh nắng, nhiều vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển ven biển và trên các đảo → phát triển du lịch biển đảo.

c) Khó khăn:

  • Vùng biển nhiệt đới nước ta chịu nhiều thiên tai, đặc biệt là bão.
  • Biến đổi khí hậu tác động lớn tới thiên nhiên vùng biển đảo (sạt lở bờ biển, nước biển dâng).
  • Cơ sở hạ tầng các vùng biển và hải đảo nhìn chung còn chưa đầy đủ và đồng bộ, không tương xứng với tiềm năng và thế mạnh.

Câu hỏi trang 168

Đề bài: Dựa vào thông tin trong mục b và hiểu biết của em, hãy phân tích những thuận lợi, khó khăn đối với bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông.

Lời giải:

a) Thuận lợi:

  • Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) là cơ sở pháp lí để các quốc gia xác định phạm vi các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Năm 1982, Việt Nam đã kí kết Công ước này và được sự ủng hộ của nhiều quốc gia trên thế giới.
  • Trên cơ sở UNCLOS 1982, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống luật và pháp luật làm cơ sở để bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp trên Biển Đông, như: Luật Biên giới Quốc gia năm 2003, Luật Biển Việt Nam năm 2012,…
  • Việt Nam cũng tích cực tham gia xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), kí một số thoả thuận và hiệp định về phân định và hợp tác trên biển với các nước láng giềng (như Thoả thuận hợp tác khai thác chung thềm lục địa chồng lấn với Ma-lai-xi-a năm 1992, Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa với In-đô-nê-xi-a năm 2003,…).

b) Khó khăn:

  • Khó khăn lớn nhất hiện nay là do có quốc gia đưa ra yêu sách phi lí, biến vùng biển không có tranh chấp thành có tranh chấp.
  • Tình trạng chồng lấn giữa vùng biển đảo của nhiều quốc gia cũng dẫn đến những tranh chấp, ảnh hưởng tới tình hình an ninh trên Biển Đông.
  • Việc giải quyết các tranh chấp trên biển phải được tiến hành bằng các biện pháp hoà bình.

3. Quá trình xác lập chủ quyền biển đảo trong lịch sử Việt Nam

Câu hỏi trang 171

Đề bài: Khai thác tư liệu 1, 2 và thông tin trong mục, hãy trình bày quá trình xác lập chủ quyền biển đảo của Việt Nam trong lịch sử.

Lời giải:

a) Thời tiền sử:

  • Nhiều bộ lạc đã sinh sống ở các hang động ven biển các tỉnh, thành phố như: Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị,…
  • Cư dân Việt cổ đã có những hoạt động đánh bắt hải sản cũng như giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng và trong khu vực.

b) Từ khoảng thế kỉ VII trước Công nguyên đến thế kỉ X:

  • Là thời kì ra đời và phát triển của các nhà nước đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam: Văn Lang – Âu Lạc, Chăm-pa, Phù Nam.
  • Trống đồng, thạp đồng có trang trí hoa văn hình thuyền thuộc văn hoá Đông Sơn → chứng tỏ cư dân tiếp tục sinh sống và khai thác biển.
  • Trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc, người Việt vừa đấu tranh giành độc lập, vừa duy trì và thực thi chủ quyền thông qua khai thác biển đảo.
  • Vương quốc Chăm-pa sớm trở thành nơi thu hút thương nhân nước ngoài. Óc Eo (tỉnh An Giang) là thương cảng nổi tiếng của Vương quốc Phù Nam.

c) Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV:

Biển trở thành tuyến giao thông đường thuỷ quan trọng, kết nối Đại Việt và các nước xung quanh:

  • Thế kỉ X: cư dân ven biển tiếp tục khai thác biển, lập nghiệp và góp phần trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm.
  • Thế kỉ XI – XIV: Cảng biển Vân Đồn (tỉnh Quảng Ninh) trở thành thương cảng quốc tế quan trọng từ thời Lý – Trần. Các cửa biển khác như Hội Triều (Thanh Hoá), Hội Thống (Hà Tĩnh) cũng trở thành những trung tâm buôn bán lớn với người nước ngoài.
  • Thế kỉ XV: Triều Lê sơ tiếp tục mở rộng khai phá vùng đất phía Nam, duy trì việc buôn bán và giữ vững chủ quyền cả trên đất liền, vùng biển, các đảo lớn.

d) Từ thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XIX:

  • Các cảng thị, đô thị cổ ở cả Đàng Ngoài và Đàng Trong như: Vân Đồn, Phố Hiến, Hội An, Thanh Hà, Gia Định,… đều hướng ra biển, thúc đẩy giao thương với các nước trong khu vực và châu Âu.
  • Chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong khuyến khích quan lại, địa chủ mộ dân vào khai khẩn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Các đảo như Côn Lôn (TP. Hồ Chí Minh), Phú Quốc (An Giang),… đều có dân cư đến khai phá, lập nghiệp.
  • Tháng 8/1702: người Anh đánh chiếm đảo Côn Lôn, chúa Nguyễn Phúc Chu đã tổ chức chiến đấu đánh đuổi, giành lại chủ quyền biển đảo.
  • Các chúa Nguyễn tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải hằng năm ra quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa khai thác sản vật và quản lí biển đảo.
  • Triều Tây Sơn tiếp tục quan tâm đến việc duy trì, tổ chức khai thác quần đảo Hoàng Sa.
  • Từ năm 1802 đến 1884: Các vua Triều Nguyễn ra sức củng cố chủ quyền biển đảo qua việc tổ chức khảo sát, thăm dò, khai thác, đo đạc thuỷ trình, vẽ bản đồ và cắm cờ trên quần đảo Hoàng Sa để khẳng định chủ quyền.
  • Từ năm 1884 đến 1945: sau khi kí Hiệp ước Pa-tơ-nốt với Triều Nguyễn, Pháp đại diện quyền lợi trong quan hệ đối ngoại và việc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tiếp tục thực thi chủ quyền trên Biển Đông, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

đ) Từ năm 1945 đến nay:

Nhà nước Việt Nam qua các thời kì lịch sử tiếp tục có hoạt động đấu tranh kiên quyết nhằm thực thi chủ quyền biển đảo cũng như chủ quyền ở quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa.

Luyện tập và Vận dụng

Luyện tập trang 171

Đề bài: Lập và hoàn thành bảng tổng kết về quá trình khai thác và xác lập quyền, chủ quyền biển đảo của Việt Nam trong lịch sử.

Lời giải:

Thời gian Biểu hiện/Bằng chứng Ý nghĩa
Thời tiền sử Các bộ lạc sinh sống ở hang động ven biển (Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An,…); bằng chứng khảo cổ học từ bắc vào nam. Cư dân Việt cổ đã hoạt động đánh bắt hải sản và giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng và trong khu vực.
Thế kỉ VII TCN đến thế kỉ X Ra đời các nhà nước đầu tiên (Văn Lang – Âu Lạc, Chăm-pa, Phù Nam); trống đồng, thạp đồng văn hoá Đông Sơn có hoa văn hình thuyền; thương cảng Óc Eo của Phù Nam. Cư dân tiếp tục sinh sống, khai thác biển; Vương quốc Chăm-pa và Phù Nam phát triển giao thương đường biển.
Thế kỉ X đến thế kỉ XV Cảng biển Vân Đồn (Quảng Ninh) là thương cảng quốc tế thời Lý – Trần; Hội Triều, Hội Thống là trung tâm buôn bán; Triều Lê sơ giữ vững chủ quyền vùng biển và các đảo. Biển trở thành tuyến giao thông đường thuỷ quan trọng; khẳng định chủ quyền trên biển và các đảo lớn.
Thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XIX Các cảng thị: Vân Đồn, Phố Hiến, Hội An, Thanh Hà, Gia Định; các đội Hoàng Sa, Bắc Hải khai thác và quản lí biển đảo; Triều Nguyễn khảo sát, đo đạc, vẽ bản đồ, cắm cờ trên Hoàng Sa. Khẳng định và thực thi chủ quyền liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Vận dụng trang 171

Đề bài: Chọn và hoàn thành một trong hai nhiệm vụ sau:

  1. Đóng vai hướng dẫn viên du lịch, em hãy giới thiệu cho du khách những nét chính về quá trình xác lập chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
  2. Sưu tầm tư liệu từ sách, báo và internet, em hãy viết một bản tin (khoảng 7 – 10 câu) tuyên truyền về chủ quyền biển đảo của Việt Nam qua tư liệu tìm được.

Lời giải:

Đây là câu hỏi vận dụng, em hãy chọn một nhiệm vụ phù hợp. Dưới đây là gợi ý:

Gợi ý cho nhiệm vụ 1 (đóng vai hướng dẫn viên du lịch):

“Kính chào quý du khách! Hôm nay, tôi xin được giới thiệu về quá trình xác lập chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Từ thời tiền sử, cư dân Việt cổ đã sinh sống ở các hang động ven biển và biết khai thác biển. Đến thời Văn Lang – Âu Lạc và các vương quốc cổ Chăm-pa, Phù Nam, biển trở thành nơi giao thương sôi động với thương cảng Óc Eo nổi tiếng. Từ thế kỉ XI – XIV, dưới thời Lý – Trần, cảng Vân Đồn (Quảng Ninh) trở thành thương cảng quốc tế quan trọng. Đặc biệt, từ thời chúa Nguyễn và Triều Nguyễn, nhà nước ta đã thành lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để khai thác và quản lí quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Các vua Triều Nguyễn còn tổ chức đo đạc, vẽ bản đồ, cắm cờ khẳng định chủ quyền. Đến nay, Nhà nước Việt Nam vẫn kiên quyết thực thi và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.”

Gợi ý cho nhiệm vụ 2 (bản tin tuyên truyền):

“Biển đảo là một phần lãnh thổ thiêng liêng, không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam. Từ bao đời nay, các thế hệ người Việt đã dày công khai phá, xác lập và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc chủ quyền của Việt Nam, được khẳng định qua các đội Hoàng Sa, Bắc Hải thời các chúa Nguyễn và Triều Nguyễn. Việt Nam đã kí Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và xây dựng hệ thống luật để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Mỗi công dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần nâng cao ý thức, tích cực tuyên truyền và đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trên Biển Đông.”

Thầy Võ Thành Luận

Thầy Võ Thành Luận

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Lịch Sử & Địa Lí THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Sử-Địa, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ A2

Kinh nghiệm: 9+ năm kinh nghiệm tại THCS Lê Thánh Tôn