Soạn bài: Cửu Long Giang ta ơi (trang 119) Ngữ văn 6 tập 1

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Nguyên Hồng (1918 – 1982) sinh ra ở Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình sau khi sáp nhập các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình năm 2025), nhưng cuộc đời cầm bút gắn bó nhiều với thành phố cảng Hải Phòng. Ông sáng tác ở nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, thơ… Những trang viết của ông tràn đầy cảm xúc chân thành, mãnh liệt với con người và cuộc sống. Tác phẩm chính: Những ngày thơ ấu (hồi kí), Bỉ vỏ (tiểu thuyết), Trời xanh (thơ), Cửa biển (tiểu thuyết)…

2. Tác phẩm

  • Xuất xứ: Trích trong tập thơ Trời xanh (NXB Văn học, Hà Nội, 1960).
  • Thể loại: Thơ tự do.
  • Phương thức biểu đạt: Biểu cảm kết hợp tự sự và miêu tả.

3. Bố cục

  • Phần 1 (từ đầu → “một đêm mơ”): Hình ảnh lớp học và tấm bản đồ trong kí ức tuổi thơ.
  • Phần 2 (tiếp → “không bao giờ chia cắt”): Vẻ đẹp của dòng sông Mê Kông và con người Nam Bộ.
  • Phần 3 (còn lại): Tình yêu, niềm tự hào với quê hương, đất nước khi đã trưởng thành.

4. Giá trị nội dung và nghệ thuật

  • Nội dung: Bài thơ thể hiện tình yêu tha thiết, niềm tự hào của tác giả đối với dòng sông Mê Kông (Cửu Long), với con người Nam Bộ và rộng hơn là với quê hương, đất nước.
  • Nghệ thuật: thể thơ tự do phóng khoáng; nhiều hình ảnh giàu sức gợi; các biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh, ẩn dụ, liệt kê, điệp ngữ; lối viết kết hợp tự sự và biểu cảm giàu cảm xúc.

II. Trả lời câu hỏi

Câu 1 (trang 121 SGK)

Theo em, nhan đề bài thơ có gì đặc biệt? Nhan đề ấy gợi lên ấn tượng, cảm xúc gì?

  • Cách 1: Nhan đề “Cửu Long Giang ta ơi” như một tiếng gọi tha thiết, trìu mến. Từ “ơi” ở cuối tạo âm điệu ngọt ngào, còn từ “ta” gợi sự gần gũi, thân thiết và ý thức sở hữu. Nhan đề thể hiện tình yêu, niềm tự hào của tác giả với dòng sông và với quê hương, đất nước.
  • Cách 2: Nhan đề độc đáo ở chỗ gọi tên dòng sông Cửu Long như gọi một người thân yêu. Cách dùng từ “ta ơi” khiến dòng sông trở nên có hồn, gần gũi; đồng thời gợi cảm xúc trân trọng, tự hào về một phần máu thịt của Tổ quốc.
  • Cách 3: “Cửu Long Giang ta ơi” vừa nêu bật đối tượng của bài thơ (dòng sông Cửu Long), vừa như một lời reo gọi đầy yêu thương. Nhan đề để lại ấn tượng về tình cảm thiết tha, sâu nặng của nhà thơ dành cho dòng sông quê hương.

Câu 2 (trang 121 SGK)

Em hình dung thế nào về “tấm bản đồ rực rỡ”? Nhân vật trong bài thơ có cảm xúc như thế nào khi nhìn tấm bản đồ ấy?

  • Hình dung về “tấm bản đồ rực rỡ”: đó là tấm bản đồ đất nước hiện ra trong giờ Địa lí, thể hiện hình hài Tổ quốc với núi sông, biển đảo, các vùng miền. Trong mắt cậu học trò mười tuổi, tấm bản đồ ấy đẹp lung linh, rực rỡ như một thế giới mới đầy hấp dẫn, “như đồng hoa bỗng gặp một đêm mơ”.
  • Cảm xúc của nhân vật: vô cùng háo hức, say mê, choáng ngợp và khao khát được khám phá núi sông của Tổ quốc; trái tim “đập mạnh”, tâm hồn ngây ngất trước vẻ đẹp của đất nước.

Câu 3 (trang 121 SGK)

Tìm những chi tiết miêu tả vẻ đẹp của dòng sông Mê Kông.

Những chi tiết tiêu biểu:

  • “Mê Kông chảy, Mê Kông cũng hát”
  • “Sóng tỏa chân trời buồm trắng”
  • “Chín nhánh Mê Kông phù sa nổi váng”
  • “Ruộng bãi Mê Kông trồng không hết lúa”
  • “Bến nước Mê Kông tôm cá ngợp thuyền”
  • “Mê Kông quặn đẻ / Chín nhánh sông vàng”

→ Bằng nghệ thuật nhân hóa, liệt kê, điệp từ, tác giả khắc họa dòng Mê Kông trù phú, giàu đẹp, gần gũi và gắn bó như người mẹ nuôi dưỡng con người Nam Bộ.

Câu 4 (trang 121 SGK)

Hình ảnh người nông dân Nam Bộ được tác giả khắc họa qua những chi tiết nào? Những chi tiết đó gợi cho em cảm nhận gì về con người nơi đây?

  • Những chi tiết: “Nông dân Nam Bộ gối đất nằm sương”; “Mồ hôi vã bãi lầy thành đồng lúa”; “Cha ông ta nhắm mắt / Truyền cháu con không bao giờ chia cắt”.
  • Cảm nhận: người nông dân Nam Bộ tuy vất vả, lam lũ, “gối đất nằm sương” nhưng rất cần cù, chịu thương chịu khó, đã đổ mồ hôi để biến bãi lầy thành đồng lúa. Họ còn giàu lòng yêu nước, đoàn kết, kiên cường gìn giữ từng tấc đất quê hương cho con cháu muôn đời.

Câu 5 (trang 122 SGK)

Bài thơ Cửu Long Giang ta ơi có nhiều hình ảnh sinh động, giàu sức gợi. Em thích những hình ảnh nào? Vì sao?

  • Cách 1: Em thích hình ảnh “Mê Kông quặn đẻ / Chín nhánh sông vàng”. Phép nhân hóa khiến dòng sông như một người mẹ vĩ đại, đau đáu sinh ra chín nhánh sông đem nguồn sống, phù sa màu mỡ đến cho khắp vùng đất Nam Bộ.
  • Cách 2: Em ấn tượng với hình ảnh “Mồ hôi vã bãi lầy thành đồng lúa”. Câu thơ gợi lên sự lam lũ, cần cù của người nông dân; chính những giọt mồ hôi của họ đã làm nên những cánh đồng lúa trù phú, khiến em thêm trân trọng, biết ơn.
  • Cách 3: Em thích hình ảnh “Cha ông ta nhắm mắt / Truyền cháu con không bao giờ chia cắt”. Hình ảnh ấy nhắc nhở về công lao của bao thế hệ cha ông đã ngã xuống để gìn giữ non sông, khơi dậy trong em lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm với đất nước.

Câu 6 (trang 122 SGK)

Nêu những cảm nhận của em về tình yêu của tác giả đối với dòng Mê Kông, với quê hương đất nước được thể hiện trong bài thơ.

  • Cách 1: Tình yêu của tác giả với dòng Mê Kông và quê hương lớn dần theo năm tháng: từ sự háo hức, say mê thuở bé khi nhìn tấm bản đồ, đến niềm tự hào về dòng sông trù phú khi khôn lớn, rồi nhận ra Mê Kông không chỉ là dòng sông địa lí mà còn là dòng sông của lịch sử, văn hóa. Đó là một tình yêu chân thành, thiết tha và sâu nặng.
  • Cách 2: Qua bài thơ, em cảm nhận được tình yêu quê hương, đất nước nồng nàn của tác giả. Nguyên Hồng yêu dòng Mê Kông như yêu chính người mẹ đã nuôi dưỡng mình, tự hào về sự giàu đẹp của thiên nhiên và sự kiên cường của con người Nam Bộ. Tình yêu ấy hòa quyện với niềm tự hào dân tộc, trở thành lẽ sống thiêng liêng.

III. Viết kết nối với đọc (Vận dụng)

Nhắc tới sông Mê Kông, ta không thể nào quên hình ảnh chợ nổi trên sông — nét văn hóa đặc trưng của người dân Nam Bộ. Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) giới thiệu về nét văn hóa này.

Cách 1:

Chợ nổi là một nét văn hóa độc đáo, đặc trưng của vùng sông nước Nam Bộ. Đây là nơi người dân tụ họp để mua bán, trao đổi hàng hóa ngay trên những chiếc ghe, thuyền dập dềnh theo con nước. Mỗi sáng sớm, chợ nổi trở nên nhộn nhịp với đủ loại nông sản, trái cây miệt vườn tươi ngon. Người bán thường treo hàng hóa lên một cây sào cao gọi là “cây bẹo” để khách từ xa dễ nhận biết. Tiếng mái chèo khua nước, tiếng rao mời chào rộn rã đã tạo nên không khí tấp nập, đậm chất miền Tây. Chợ nổi Cái Răng, Cái Bè… ngày nay còn trở thành điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

Cách 2:

Nhắc đến miền Tây sông nước, người ta không thể quên hình ảnh những phiên chợ nổi tấp nập trên sông. Khác với chợ trên cạn, chợ nổi họp ngay giữa dòng, hàng trăm chiếc ghe thuyền chở đầy trái cây, rau củ neo đậu san sát nhau. Điều thú vị nhất là cách người dân “bẹo hàng” — treo sản vật lên cây sào để giới thiệu cho khách. Khung cảnh ấy vừa bình dị, gần gũi, vừa thể hiện sự năng động, khéo léo của người dân Nam Bộ. Chợ nổi không chỉ là nơi giao thương mà còn lưu giữ hồn cốt văn hóa của cả một vùng đất. Em mong sao nét đẹp ấy sẽ mãi được gìn giữ và phát huy.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng