Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Lý thuyết trọng tâm
1. Khái niệm
Đảo ngữ là biện pháp tu từ được tạo ra bằng cách thay đổi vị trí thông thường của các từ ngữ trong câu nhằm nhấn mạnh đặc điểm, hoạt động, trạng thái của sự vật, hiện tượng, gợi ấn tượng rõ hơn hoặc bộc lộ cảm xúc của người viết (người nói).
2. Hai hình thức cơ bản
- Đảo các thành tố trong cụm từ: thành phần phụ đảo lên trước thành phần trung tâm (ví dụ: tính từ chỉ đặc điểm đảo lên trước danh từ; trạng từ đảo lên trước động từ…).
- Đảo các thành phần trong câu: vị ngữ đảo lên trước chủ ngữ.
3. Tác dụng
- Nhấn mạnh đặc điểm, trạng thái, hành động của đối tượng.
- Gợi ấn tượng rõ nét về sự vật, hiện tượng.
- Bộc lộ cảm xúc của tác giả.
4. Ví dụ minh hoạ
Tìm nơi thăm thẳm rừng sâu Bập bùng hoa chuối, trắng màu hoa ban (Nguyễn Đức Mậu, Hành trình của bầy ong)
- “thăm thẳm rừng sâu”: tính từ “thăm thẳm” đảo lên trước danh từ “rừng sâu” (thay vì “rừng sâu thăm thẳm”) → nhấn mạnh không gian hoang vắng, nguyên sơ của rừng già.
- “Bập bùng hoa chuối”: vị ngữ “bập bùng” đảo lên trước chủ ngữ “hoa chuối” → làm nổi bật màu đỏ của những bông hoa chuối rừng như ngọn lửa giữa ngàn xanh.
- “trắng màu hoa ban”: vị ngữ “trắng” đảo lên trước chủ ngữ “màu hoa ban” → làm nổi bật không gian tràn ngập sắc trắng của hoa ban.
II. Luyện tập
Bài 1 (trang 45, SGK Ngữ văn 8, tập 1): Chỉ ra câu thơ, câu văn có sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ trong các trường hợp sau.
a. Lặn lội thân cò khi quãng vắng / Eo sèo mặt nước buổi đò đông. (Trần Tế Xương, Thương vợ)
→ Cả hai câu thơ đều dùng đảo ngữ. Vị ngữ “lặn lội” và “eo sèo” được đảo lên đầu câu, đứng trước chủ ngữ “thân cò”, “mặt nước” (cấu trúc thông thường là “thân cò lặn lội”, “mặt nước eo sèo”).
b. Xóm làng xanh mát bóng cây, / Sông xa trắng cánh buồm bay lưng trời. (Trần Đăng Khoa, Quê em)
→ Cả hai câu thơ đều dùng đảo ngữ. Các tính từ chỉ màu sắc “xanh mát”, “trắng” được đảo lên đứng trước danh từ trung tâm “bóng cây”, “cánh buồm”.
c. Chị Dậu về đến đầu nhà đã nghe tiếng khóc khàn khàn của hai đứa trẻ. Sấp ngửa, chị chạy vào cổng, quẳng cả rổ mẹt, mê nón xuống sân, rồi vội vàng chị vào trong nhà. (Ngô Tất Tố, Tắt đèn)
→ Câu văn thứ hai dùng đảo ngữ. Các tính từ “Sấp ngửa”, “vội vàng” được đảo lên đứng trước động từ và chủ ngữ (thay vì “chị chạy sấp ngửa”, “chị vội vàng vào”).
Bài 2 (trang 45, SGK Ngữ văn 8, tập 1): Đọc đoạn thơ và thực hiện các yêu cầu.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
(Bà Huyện Thanh Quan, Qua Đèo Ngang)
a) Các câu thơ sử dụng đảo ngữ: cả bốn câu thơ đều sử dụng biện pháp tu từ đảo ngữ.
b) Tác dụng:
- Câu 1 (“Lom khom dưới núi, tiều vài chú”): vị ngữ “Lom khom dưới núi” đảo lên trước chủ ngữ “tiều vài chú”; cụm “vài chú” lại đứng sau “tiều”. → Nhấn mạnh tư thế, hình dáng nhỏ bé của con người giữa không gian hùng vĩ, hiểm trở của Đèo Ngang.
- Câu 2 (“Lác đác bên sông, chợ mấy nhà”): vị ngữ “Lác đác bên sông” đảo lên trước chủ ngữ “chợ mấy nhà”. → Nhấn mạnh sự thưa thớt, ít ỏi của những ngôi nhà, gợi không khí vắng vẻ, hoang sơ nơi núi rừng.
- Câu 3 – 4 (“Nhớ nước đau lòng…” / “Thương nhà mỏi miệng…”): các cụm “Nhớ nước đau lòng”, “Thương nhà mỏi miệng” được đảo lên đầu câu. → Nhấn mạnh nỗi nhớ nước, thương nhà của tác giả; thể hiện tâm trạng hoài cổ (nhớ tiếc quá khứ vàng son) và nỗi nhớ quê hương, gia đình của người lữ khách xa nhà.
Bài 3 (trang 46, SGK Ngữ văn 8, tập 1): Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ trong các đoạn thơ sau.
a. Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy / Mất ổ bầy chim dáo dác bay. (Nguyễn Đình Chiểu, Chạy giặc)
→ Các cụm từ “Bỏ nhà”, “Mất ổ”, “lơ xơ chạy”, “dáo dác bay” được đảo vị trí.
Tác dụng: nhấn mạnh tình cảnh bơ vơ, tan tác và tâm trạng hoang mang, sợ hãi của con người và vạn vật khi chiến tranh bất ngờ ập đến; qua đó bộc lộ nỗi buồn thương, đau đớn của nhà thơ trước cảnh nước mất, nhà tan.
b. Con đê cát đỏ cỏ viền / Leng keng nhạc ngựa ngược lên chợ Gò. (Hoàng Tố Nguyên, Gò Me)
→ Từ tượng thanh “Leng keng” được đảo lên trước cụm danh từ “nhạc ngựa”.
Tác dụng: nhấn mạnh âm thanh rộn rã, tươi vui của tiếng nhạc ngựa, gợi khung cảnh bình yên, thân thuộc của quê hương; qua đó thể hiện niềm vui, nỗi nhớ và sự gắn bó của nhà thơ với những âm thanh bình dị nơi quê nhà.
c. Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ / Khắp dân làng tấp nập đón ghe về. (Tế Hanh, Quê hương)
→ Các từ “ồn ào”, “tấp nập” được đảo lên trước.
Tác dụng: nhấn mạnh không khí đông vui, nhịp sống sôi động nơi làng chài khi đón những đoàn thuyền đầy ắp cá bình yên trở về sau chuyến ra khơi; qua đó thể hiện niềm vui của nhà thơ trước khung cảnh no ấm, sung túc của người dân quê hương.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
