Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) quê ở Hà Nội, là nhà văn, nhà viết kịch có thiên hướng khai thác đề tài lịch sử, đóng góp nổi bật ở hai thể loại tiểu thuyết và kịch. Tác phẩm chính: Đêm hội Long Trì (1942), Vũ Như Tô (1943), An Tư (1944), Bắc Sơn (1946), Lá cờ thêu sáu chữ vàng (1960), Sống mãi với Thủ đô (1961)…
2. Tác phẩm
- Thể loại: truyện lịch sử.
- Xuất xứ: Lá cờ thêu sáu chữ vàng gồm 18 phần; văn bản trích thuộc phần 3 của tác phẩm.
- Nhân vật chính: Trần Quốc Toản (Hoài Văn Hầu) – thiếu niên dòng dõi nhà Trần, sớm mồ côi cha. Khi quân Nguyên lăm le xâm lược, chàng chưa đến tuổi trưởng thành, không được dự bàn việc đánh giặc nên đã về xin mẹ chiêu mộ binh lính, dựng cờ lớn thêu sáu chữ “Phá cường địch báo hoàng ân” (Diệt giặc mạnh báo ơn vua), ra trận lập nhiều chiến công.
- Bố cục (3 phần):
- Phần 1 (từ đầu đến “sao ta là người gần gụi, quan gia chẳng hỏi một lời?”): Hoàn cảnh và tâm trạng của Quốc Toản khi đến bến Bình Than.
- Phần 2 (tiếp đến “Vậy thưởng cho em ta một quả”): Quốc Toản xông xuống thuyền rồng, tỏ bày ước nguyện đánh giặc.
- Phần 3 (còn lại): Quốc Toản quyết chí chiêu binh mãi mã để cầm quân đánh giặc.
Giải thích nhanh: truyện lịch sử là tác phẩm truyện tái hiện những sự kiện, nhân vật ở một thời kì, giai đoạn lịch sử cụ thể. Ví dụ: văn bản này tái hiện không khí hội nghị Bình Than và hình ảnh Trần Quốc Toản dưới thời nhà Trần kháng chiến chống quân Nguyên.
II. Trước khi đọc
Câu 1: Chia sẻ cảm nghĩ của em về người anh hùng nhỏ tuổi Trần Quốc Toản.
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Trần Quốc Toản là vị anh hùng nhỏ tuổi của dân tộc. Tuy còn ít tuổi nhưng chàng đã sớm biết lo cho vận nước, dũng cảm xin đánh giặc Nguyên. Câu chuyện chàng bóp nát quả cam vẫn được lưu truyền như tấm gương sáng về lòng yêu nước.
- Cách 2: Em rất khâm phục Trần Quốc Toản – một thiếu niên gan dạ, giàu khí phách. Hình ảnh chàng giương cao lá cờ thêu sáu chữ vàng “Phá cường địch báo hoàng ân” xông pha trận mạc là biểu tượng đẹp cho tinh thần yêu nước của tuổi trẻ Việt Nam.
Câu 2: Ngoài Trần Quốc Toản, em còn biết thêm nhân vật thiếu nhi lỗi lạc nào trong lịch sử?
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
- Cách 1: Trạng nguyên Nguyễn Hiền – vị Trạng nguyên trẻ tuổi nhất nước ta, vừa có tài năng lỗi lạc, vừa có ý chí kiên trì vượt khó.
- Cách 2: Thánh Gióng – cậu bé làng Phù Đổng vươn vai thành tráng sĩ, cưỡi ngựa sắt đánh tan giặc Ân, là biểu tượng cho sức mạnh tuổi trẻ Việt Nam.
- Cách 3: Kim Đồng – đội trưởng đầu tiên của Đội Thiếu niên Tiền phong, hi sinh khi làm nhiệm vụ liên lạc trong kháng chiến chống Pháp.
III. Trong khi đọc
1. Theo dõi: Quang cảnh, không khí ở bến Bình Than – nơi diễn ra một hội nghị quan trọng
Bến trang nghiêm, uy nghi: thuyền các vương hầu đậu san sát, sơn đủ màu, cờ phất phới. Thuyền ngự cao lớn, chạm hình rồng, son vàng rực rỡ, có tàn vàng, tán tía và đồ nghi trượng. Quân Thánh Dực canh gác nghiêm cẩn, không ai được lại gần.
2. Theo dõi: Những ý nghĩ của nhân vật xen vào lời của người kể chuyện
“Những người em họ ấy, chẳng qua chỉ hơn Hoài Văn dăm sáu tuổi! Cha ta mất sớm, nên ta mới phải đứng rìa nhục nhã thế này!” – ý nghĩ tủi thân, uất ức của Hoài Văn được xen ngay vào lời kể.
3. Theo dõi: Hoài Văn có những suy nghĩ gì khi thấy các vương hầu họp bàn việc nước?
Hoài Văn đoán các vị đang bàn việc cho quân Nguyên mượn đường đánh Chiêm Thành hay chống lại. Với chàng, câu trả lời đã quá rõ: chỉ có việc đánh. Chàng khát khao được xuống thuyền rồng, quỳ trước quan gia xin cho đánh.
4. Dự đoán: Điều gì sẽ xảy ra khi Hoài Văn có hành động vượt khuôn phép?
Hành động xô lính, tuốt gươm của Hoài Văn là phạm thượng, làm loạn phép nước, có thể bị triều đình luận tội và phải chịu tội chém đầu.
5. Theo dõi: Hoài Văn giải thích như thế nào về hành động của mình?
Hoài Văn tự nhận biết mình mang tội lớn nhưng cho rằng khi quốc biến thì đến đứa trẻ cũng phải lo, huống chi chàng đã lớn. Vua lo thì kẻ thần tử cũng phải lo. Chàng liều chết đến chỉ để góp một vài lời xin đánh giặc.
6. Theo dõi: Thái độ của Trần Quốc Toản thể hiện như thế nào qua lời nói?
Khi nghe có người chủ hoà, Quốc Toản đứng phắt dậy, mắt long lên, dồn dập đặt hàng loạt câu hỏi: “Ai chủ hoà? Ai chủ hoà? Cho nó mượn đường ư?”. Thái độ ấy thể hiện sự bất bình, căm phẫn mãnh liệt và lòng yêu nước nồng nhiệt, dứt khoát.
7. Đối chiếu: Cách nhà vua xử lí hành động của Trần Quốc Toản có đúng như dự đoán của em không?
Khác với dự đoán, vua không trị tội chết. Thiệu Bảo thương Quốc Toản còn trẻ, lại biết lo cho vua, cho nước nên tha tội, còn ban thưởng cho chàng một quả cam sành chín mọng.
8. Theo dõi: Tâm trạng của Hoài Văn
Hoài Văn vừa hờn vừa tủi: được vua ban cam quý nhưng việc dự bàn vẫn không được cho. Chàng quắc mắt, nắm chặt bàn tay, lẩm bẩm quyết chí chiêu binh mãi mã, cầm quân đánh giặc để báo ơn vua, đền nợ nước.
IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi
Câu 1: Tóm tắt nội dung văn bản và cho biết câu chuyện dựa trên bối cảnh sự kiện lịch sử nào.
Tóm tắt: Tại bến Bình Than, vua Trần cùng các vương hầu họp bàn kế sách đối phó quân Nguyên. Vì chưa đủ tuổi, Trần Quốc Toản không được dự, phải đứng trên bờ, lòng vừa tủi nhục vừa nóng như lửa đốt. Quá nóng lòng, chàng xô lính Thánh Dực, tuốt gươm để xuống thuyền rồng. Gặp được vua, chàng quỳ tâu xin đánh giặc. Vua Thiệu Bảo không trị tội, lại ban cho chàng quả cam. Quốc Toản tức tủi vì vẫn không được dự bàn, quyết chí về chiêu binh mãi mã đánh giặc. Khi xoè tay ra, quả cam đã bị bóp nát tự bao giờ.
Bối cảnh lịch sử: Câu chuyện diễn ra vào thời nhà Trần (thế kỉ XIII), khi quân Nguyên – một đội quân xâm lược hùng mạnh – lăm le sang cướp nước ta. Vua Trần Nhân Tông mở hội nghị Bình Than (năm 1282) để bàn kế đánh giặc.
Câu 2: Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản có tâm trạng như thế nào khi phải đứng trên bờ nhìn quang cảnh ở bến Bình Than?
- Thẫn thờ, tủi nhục: thấy “phải đứng rìa nhục nhã” khi các vương hầu chỉ hơn mình dăm sáu tuổi cũng được dự bàn việc nước.
- Nóng ruột, sốt ruột: đợi mãi từ sớm đến trưa, đói cồn cào, mắt hoa, đầu choáng váng mà vẫn quyết đứng đó.
- Khao khát, day dứt: chỉ muốn xuống thuyền rồng quỳ xin quan gia cho đánh, nhưng lại sợ phạm thượng, tội chém đầu.
- Bất bình: so sánh với các bô lão áo vải còn được vua hỏi ý, thấy mình là bậc tôn thất mà “quan gia chẳng hỏi một lời”.
Câu 3: Khi bị quân Thánh Dực ngăn cản xuống bến gặp vua, Trần Quốc Toản có hành động gì khác thường? Vì sao chàng có hành động như vậy?
Hành động khác thường:
- Xô mấy người lính Thánh Dực ngã chúi, xăm xăm xuống bến.
- Tuốt gươm, mắt trừng lên một cách điên dại, doạ chém người ngăn cản.
- Đỏ mặt bừng bừng, quát lớn, vung gươm múa tít khiến không ai dám đến gần.
Lí do:
- Lòng yêu nước, căm thù giặc dâng cao, không thể kìm nén.
- Quá nóng lòng muốn tỏ bày chủ kiến xin đánh với vua.
- Chàng đã quyết liều một chết, chỉ để nói hai tiếng “xin đánh”, mặc cho triều đình luận tội.
Câu 4: Chứng kiến hành động và lời tâu của Trần Quốc Toản, vua Thiệu Bảo có thái độ và cách xử lí như thế nào? Điều đó cho thấy gì ở vị vua này?
- Thái độ: gật đầu, mỉm cười vì lời của Quốc Toản hợp với ý vua và Hưng Đạo Vương.
- Cách xử lí:
- Không trị tội vì thấy Quốc Toản còn trẻ, tình đáng thương, lại biết lo cho vua, cho nước, chí ấy đáng trọng.
- Khuyên chàng về quê phụng dưỡng mẹ.
- Ban thưởng cho chàng một quả cam sành chín mọng như các vương hầu khác.
Điều đó cho thấy: Thiệu Bảo là vị vua anh minh, đức độ, bao dung, xét việc vừa có lí vừa có tình; biết trân trọng, khích lệ tấm lòng yêu nước của người trẻ tuổi; vừa biết lo việc nước vừa thu xếp tình nhà, tạo sự đoàn kết trong hoàng tộc.
Câu 5: Trong lời người kể chuyện có đôi chỗ xen vào những ý nghĩ thầm kín của nhân vật. Nêu ví dụ và phân tích tác dụng.
Một số trường hợp tiêu biểu:
- “Những người em họ ấy, chẳng qua chỉ hơn Hoài Văn dăm sáu tuổi! Cha ta mất sớm, nên ta mới phải đứng rìa nhục nhã thế này!”
- “Chỉ có việc đánh, làm gì phải kéo ra tận đây mà bàn đi bàn lại?”
- “Rồi xem ai giết được giặc, ai báo được ơn vua, xem ai hơn, ai kém. Rồi triều đình sẽ biết tay ta.”
Tác dụng:
- Khiến câu chuyện trở nên sinh động, chân thực, người đọc như nghe được tiếng lòng của nhân vật.
- Bộc lộ trực tiếp tâm trạng, suy nghĩ thầm kín và tính cách của Trần Quốc Toản: nhiệt huyết, yêu nước, tủi hờn, quyết tâm.
- Cho thấy người kể chuyện đồng cảm với nhân vật, làm nổi bật chủ đề tác phẩm.
Câu 6: Những nét tính cách nào của Trần Quốc Toản được thể hiện qua lời đối thoại với các nhân vật khác?
| Cuộc đối thoại | Nội dung | Nét tính cách |
|---|---|---|
| Với quân Thánh Dực | Cãi cọ, xung đột khi bị ngăn cản | Nóng nảy, mạnh mẽ, quyết liệt |
| Với Chiêu Thành Vương | Cúi đầu giải thích lí do hành động | Lễ phép với bề trên, suy nghĩ chín chắn, có lòng trung nghĩa |
| Với vua Thiệu Bảo | Quỳ tâu “Xin quan gia cho đánh!” | Dũng cảm, ngay thẳng, đặt vận mệnh đất nước lên trên tính mạng bản thân |
Câu 7: Ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật trong truyện đều mang đậm màu sắc lịch sử. Nêu một số ví dụ và cho biết tác dụng.
Ví dụ:
- Từ ngữ chỉ tước vị, cách xưng hô: quan gia, đấng thiên tử, vương hầu, Hoài Văn Hầu, Hưng Đạo Vương, Chiêu Thành Vương, tôn thất, thần tử, mẫu thân, phu nhân…
- Từ ngữ chỉ sự vật của hoàng gia: thuyền ngự, thuyền rồng, tàn vàng, tán tía, đồ nghi trượng, người nội thị, quân Thánh Dực…
- Thành ngữ, điển cố: quân pháp vô thân, giả đồ diệt Quắc, chiêu binh mãi mã, bệ kiến…
- Lời nhân vật: “Ta xuống xin bệ kiến quan gia, không kẻ nào được giữ ta lại.”; “Cho giặc mượn đường là mất nước.”
Tác dụng:
- Tái hiện sinh động không khí trang nghiêm, cổ kính của triều đại nhà Trần.
- Làm nổi bật vị thế, tính cách của từng nhân vật.
- Đưa người đọc nhập tâm vào câu chuyện, tăng tính chân thực và sức thuyết phục cho tác phẩm.
Câu 8: Hãy khái quát chủ đề của văn bản và cho biết căn cứ vào đâu em khái quát như vậy.
Chủ đề: Văn bản ca ngợi tấm lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc của người anh hùng nhỏ tuổi Trần Quốc Toản; qua đó cho thấy hào khí, tinh thần chống giặc ngoại xâm của cha ông ta thời Trần.
Căn cứ:
- Nhân vật chính: Trần Quốc Toản – thiếu niên dòng dõi nhà Trần với những suy nghĩ, hành động bộc lộ lòng yêu nước nồng nàn.
- Các sự việc chính: đứng trên bờ tủi nhục, xông xuống thuyền rồng xin đánh, bóp nát quả cam – đều xoay quanh khát vọng đánh giặc cứu nước.
- Bối cảnh lịch sử: hội nghị Bình Than – thời điểm cả dân tộc đứng trước hoạ xâm lăng của quân Nguyên.
Giải thích nhanh: chủ đề là vấn đề trung tâm, thông điệp chính của tác phẩm; thường không nói trực tiếp mà người đọc phải tự rút ra từ nội dung. Ví dụ: chủ đề của văn bản này được rút ra từ nhân vật, sự việc và bối cảnh nêu trên.
V. Viết kết nối với đọc
Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) phân tích chi tiết Trần Quốc Toản bóp nát quả cam.
Đoạn văn tham khảo 1:
Chi tiết Trần Quốc Toản bóp nát quả cam là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong văn bản Lá cờ thêu sáu chữ vàng của Nguyễn Huy Tưởng. Quả cam vốn là vật vua ban – phần thưởng cho tấm lòng biết lo cho vua, cho nước của Quốc Toản. Thế nhưng, khi bước lên bờ, chàng vẫn không khỏi tức tủi vì chưa được dự bàn việc nước, lại còn bị các vương hầu và đám quân Thánh Dực cười chế nhạo. Trong cơn uất nghẹn, hai bàn tay chàng nắm chặt, rung lên vì giận dữ, và quả cam quý đã bị bóp nát lúc nào không hay. Chi tiết ấy vừa cho thấy tâm hồn trong sáng, bồng bột của một chàng thiếu niên, vừa bộc lộ tình yêu nước nồng nàn và lòng căm thù giặc sâu sắc. Đó cũng là chi tiết hé lộ ý chí quyết tâm chiêu binh mãi mã, cầm quân đánh giặc để báo ơn vua, đền nợ nước của Quốc Toản. Nhờ chi tiết “đắt” này, hình tượng người anh hùng nhỏ tuổi hiện lên thật sống động, đáng trọng và đáng khâm phục.
Đoạn văn tham khảo 2:
Trong văn bản Lá cờ thêu sáu chữ vàng, chi tiết Trần Quốc Toản bóp nát quả cam đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Sau khi quỳ tâu vua xin đánh và được vua Thiệu Bảo ban thưởng quả cam sành chín mọng, Quốc Toản lủi thủi bước lên bờ trong tiếng cười của các vương hầu. Chàng vừa hờn vừa tủi vì vẫn bị xem là trẻ con, không được dự bàn việc nước, trong khi giặc Nguyên vẫn đang lăm le cướp nước. Hai hàm răng nghiến chặt, hai bàn tay nắm lại rung lên vì giận dữ, và quả cam vua ban đã nát bét tự lúc nào, chỉ còn trơ bã. Hành động vô thức ấy cho thấy nhiệt huyết, lòng yêu nước mãnh liệt và tinh thần quyết chiến của một chàng thiếu niên gan dạ. Đồng thời, đó cũng là lời thề thầm lặng: chàng sẽ chiêu binh mãi mã, cầm quân đánh giặc để chứng tỏ mình không phải “kẻ toi cơm”. Chi tiết nhỏ mà giàu ý nghĩa, đã góp phần khắc hoạ trọn vẹn vẻ đẹp của người anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
