Soạn Bài: Hịch tướng sĩ (trang 59) Ngữ Văn 8 tập 1

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Trần Quốc Tuấn (1231? – 1300), tước Hưng Đạo Vương, là một danh tướng kiệt xuất của dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược nước ta lần thứ hai (năm 1285) và thứ ba (năm 1287 – 1288), ông được vua Trần Nhân Tông cử làm Tiết chế thống lĩnh các đạo quân, cả hai lần đều chiến thắng oanh liệt. Ông về trí sĩ ở Vạn Kiếp (nay thuộc phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng) và mất ở đấy. Nhân dân tôn ông là Đức Thánh Trần và lập đền thờ ở nhiều nơi trên cả nước.

2. Tác phẩm

  • Thể loại: hịch.
  • Hoàn cảnh sáng tác: Hịch tướng sĩ được Trần Quốc Tuấn viết vào khoảng trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285).
  • Mục đích: khuyên nhủ các tì tướng phải chăm lo rèn tập võ nghệ, tích cực học tập Binh thư yếu lược (sách do chính Trần Quốc Tuấn soạn) để chuẩn bị đánh giặc giữ nước.
  • Bố cục (4 phần):
    • Phần 1 (từ đầu đến “còn lưu tiếng tốt!”): nêu những gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách để khích lệ ý chí xả thân vì nước.
    • Phần 2 (từ “Huống chi” đến “ta cũng cam lòng”): tố cáo tội ác của giặc và bày tỏ nỗi lòng của chủ tướng.
    • Phần 3 (từ “Các ngươi ở cùng ta” đến “muốn vui chơi phỏng có được không?”): phân tích phải – trái, đúng – sai trong lối sống, hành động của các tì tướng.
    • Phần 4 (còn lại): nêu nhiệm vụ cụ thể, cấp bách, khích lệ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ.

Giải thích nhanh: hịch là thể văn nghị luận thường được vua, quan, tướng lĩnh thời xưa dùng để thuyết phục hoặc kêu gọi người dưới quyền đấu tranh chống kẻ thù trong bối cảnh có chiến tranh. Ví dụ: văn bản Hịch tướng sĩ được Trần Quốc Tuấn viết để kêu gọi các tì tướng đồng lòng đánh giặc Mông – Nguyên.

II. Trước khi đọc

Câu 1: Kể tên một số vị tướng nổi tiếng trong lịch sử nước ta.

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Một số vị tướng nổi tiếng trong lịch sử nước ta: Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung – Nguyễn Huệ, Võ Nguyên Giáp…
  • Cách 2: Em biết đến nhiều vị tướng tài ba của dân tộc như Trần Hưng Đạo – người ba lần đánh tan quân Nguyên – Mông; Lê Lợi – người khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi giặc Minh; Quang Trung – người đại phá quân Thanh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp – người chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Câu 2: Theo em, vì sao quân Mông – Nguyên ba lần đem quân xâm lược nước ta đều phải chịu thất bại?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Quân Mông – Nguyên ba lần thất bại vì dân tộc ta có tinh thần yêu nước nồng nàn, vua tôi đồng lòng, quân dân nhất trí. Đặc biệt, dưới sự chỉ huy tài tình của Trần Hưng Đạo cùng các tướng lĩnh nhà Trần, ta đã có chiến lược, chiến thuật đúng đắn để đánh bại kẻ thù.
  • Cách 2: Theo em, quân Mông – Nguyên thua trận vì gặp phải dân tộc Việt Nam giàu truyền thống đánh giặc, có vị thống soái tài ba là Trần Quốc Tuấn, lại được nhân dân ủng hộ. Hội nghị Diên Hồng và lời thề “Sát Thát” của các tướng sĩ đã tạo nên sức mạnh đoàn kết khiến giặc không thể chống nổi.

III. Trong khi đọc

1. Theo dõi: Điểm chung của các cặp nhân vật lịch sử được nêu tên

Tám cặp nhân vật được nêu (Kỉ Tín – Cao Đế, Do Vu – Chiêu Vương, Dự Nhượng – Trí Bá, Thân Khoái – Trang Công, Kính Đức – Đường Thái Tông, Cảo Khanh – chống An Lộc Sơn, Vương Công Kiên – Nguyễn Văn Lập, Cốt Đãi Ngột Lang – Xích Tu Tư) đều là những bậc trung thần, nghĩa sĩ hết lòng với vua, với chủ tướng, sẵn sàng hi sinh thân mình vì nước, vì chủ, nhờ vậy mà lưu danh sử sách muôn đời.

2. Theo dõi: Mối quan hệ vua – tôi, chủ tướng – tì tướng được Trần Quốc Tuấn viện dẫn làm cơ sở cho những lập luận kế tiếp

Trần Quốc Tuấn nêu các nhân vật có quan hệ vua – tôi, chủ tướng – tì tướng để khẳng định: trong xã hội phong kiến, bề tôi hết lòng với vua/chủ là giá trị đạo đức cao quý, được đời đời tôn vinh. Đây là cơ sở cho mọi lập luận tiếp theo của bài hịch.

3. Theo dõi: Những lí lẽ và bằng chứng được Trần Quốc Tuấn sử dụng nhằm lay động cảm xúc của các tì tướng

  • Tố cáo tội ác giặc: sứ giặc đi lại nghênh ngang, sỉ mắng triều đình, bắt nạt tể phụ, đòi ngọc lụa, vét bạc vàng.
  • Bày tỏ nỗi lòng của chủ tướng: “tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa”, sẵn sàng “trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa” để rửa nhục cho nước.
  • Nhắc lại ơn nghĩa với các tì tướng: không có ăn cho cơm, không có mặc cho áo, lúc trận mạc cùng sống chết, lúc nhàn hạ cùng vui cười.

→ Khơi dậy lòng căm thù giặc, lòng biết ơn chủ tướngý thức trách nhiệm của các tì tướng.

4. Theo dõi: Các bằng chứng và lí lẽ Trần Quốc Tuấn sử dụng để khẳng định các tì tướng đang suy nghĩ và hành động không đúng

  • Bằng chứng (việc làm sai trái): nhìn chủ nhục không biết lo, thấy nước nhục không biết thẹn; lấy việc chọi gà, đánh bạc làm vui đùa; vui thú vườn ruộng, quyến luyến vợ con; lo làm giàu mà quên việc nước; ham săn bắn, thích rượu ngon, mê tiếng hát…
  • Lí lẽ (hậu quả nếu giặc tràn sang): cựa gà trống không đâm thủng áo giáp, mẹo cờ bạc không dùng làm mưu lược, ruộng nhiều vườn lắm thân quý nghìn vàng cũng khôn chuộc. Khi đó thái ấp mất, bổng lộc mất, gia quyến tan, phần mộ cha mẹ bị quật, tiếng dơ muôn đời.

5. Theo dõi: Những lí lẽ Trần Quốc Tuấn dùng để thuyết phục các tì tướng nghe theo lời khuyên của chủ tướng

  • Phải biết cảnh giác như “đặt mồi lửa dưới đống củi”, “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội”.
  • Nếu chăm lo huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên thì có thể đánh bại được kẻ thù, thái ấp vững bền, bổng lộc đời đời, gia quyến êm ấm, tên tuổi lưu thơm.
  • Học theo Binh thư yếu lược là phải đạo thần chủ; ngược lại là kẻ nghịch thù — chỉ có một lựa chọn duy nhất để đánh giặc, giữ nước.

IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi

Câu 1: Bài hịch được Trần Quốc Tuấn viết ra nhằm mục đích gì?

Bài hịch được Trần Quốc Tuấn viết ra nhằm kêu gọi, khuyên nhủ các tì tướng chăm lo rèn tập võ nghệ, tích cực học tập cuốn Binh thư yếu lược do chính ông soạn, để chuẩn bị đánh giặc Mông – Nguyên, giữ vững non sông đất nước.

Câu 2: Xác định bố cục của bài hịch và nêu rõ vai trò của từng phần.

Phần Giới hạn Nội dung Vai trò
1 Từ đầu đến “còn lưu tiếng tốt!” Nêu gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách Đặt cơ sở, căn cứ cho lập luận, khích lệ ý chí xả thân vì nước
2 “Huống chi” đến “ta cũng cam lòng” Tố cáo tội ác của giặc; bày tỏ nỗi lòng chủ tướng Khơi dậy lòng căm thù giặc, sự đồng cảm với chủ tướng
3 “Các ngươi ở cùng ta” đến “vui chơi phỏng có được không?” Phân tích đúng – sai trong lối sống của tì tướng Cảnh tỉnh, đánh thức ý thức trách nhiệm
4 Còn lại Nêu nhiệm vụ cụ thể, cấp bách Kêu gọi hành động, đề ra giải pháp

→ Bốn phần liên kết chặt chẽ, từ đến tình, từ chung đến riêng, hướng tới mục đích kêu gọi tì tướng rèn luyện đánh giặc.

Câu 3: Hãy chỉ ra những điểm chung của các cặp nhân vật lịch sử được nêu ở phần đầu bài hịch. Tác giả nêu hành động của tám cặp nhân vật này để minh chứng cho điều gì?

Điểm chung:

  • Đều là những bậc trung thần, nghĩa sĩ trong các triều đại Trung Quốc.
  • Có quan hệ vua – tôi hoặc chủ tướng – tì tướng.
  • Sẵn sàng hi sinh thân mình để cứu vua/chủ hoặc đánh giặc.
  • Nhờ đó, họ lưu danh sử sách muôn đời.

Tác giả nêu hành động của họ để minh chứng: Từ xưa, các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào cũng có. Họ chính là tấm gương sáng để các tì tướng noi theo; đồng thời khẳng định: nếu chỉ “khư khư theo thói nữ nhi thường tình” thì sẽ chết già vô danh, không thể lưu danh muôn đời.

Câu 4: Để khơi gợi những cảm xúc mạnh mẽ trong lòng các tì tướng và thuyết phục họ, Trần Quốc Tuấn đã nhắc đến những hiện tượng nào trong thực tế?

Nhóm hiện tượng Biểu hiện cụ thể Cảm xúc khơi gợi
Tội ác của giặc Sứ giặc nghênh ngang ngoài đường, sỉ mắng triều đình, bắt nạt tể phụ, đòi ngọc lụa, vét bạc vàng Căm thù giặc, uất hận
Tình cảm, suy nghĩ, hành động của chủ tướng Tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, sẵn sàng phơi thây ngoài nội cỏ Cảm phục, biết ơn, muốn báo đáp công ơn
Việc làm của các tì tướng Nhìn chủ nhục không biết lo, chọi gà, đánh bạc, vui thú vườn ruộng, quyến luyến vợ con, ham săn bắn… Hổ thẹn, muốn sửa chữa

Câu 5: Tác giả dùng những bằng chứng và lí lẽ nào để chứng minh các tì tướng đã suy nghĩ, hành động không đúng?

Bằng chứng (việc làm sai trái):

  • Nhìn chủ nhục không biết lo, thấy nước nhục không biết thẹn.
  • Làm tướng phải hầu giặc mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến giặc mà không biết căm.
  • Chọi gà, đánh bạc, vui thú vườn ruộng, quyến luyến vợ con, ham săn bắn, thích rượu ngon, mê tiếng hát…

Lí lẽ (về hậu quả):

  • Cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược, ruộng lắm vườn nhiều, tấm thân nghìn vàng cũng khôn chuộc.
  • Tiền của tuy nhiều khôn mua được đầu giặc, chó săn tuy khoẻ khôn đuổi được quân thù
  • Nếu giặc tràn sang, thái ấp mất, bổng lộc mất, gia quyến tan, phần mộ cha mẹ bị quật, để tiếng dơ muôn đời.

→ Lập luận chặt chẽ, cụ thể, sắc bén, khiến các tì tướng phải giật mình tỉnh ngộ.

Câu 6: Tác giả đã chọn cách diễn đạt như thế nào để lời hịch có sức tác động lớn đến nhận thức và tình cảm của các tì tướng? Phân tích một ví dụ tiêu biểu.

Cách diễn đạt:

  • Dùng từ ngữ tăng cấp (chẳng những… mà còn…), đậm chất khuyên nhủ, ân tình (nên… nên…).
  • Dùng câu hỏi tu từ (hình thức hỏi nhưng để khẳng định).
  • Ngắt nhịp linh hoạt: khi dồn dập, thôi thúc; lúc chậm rãi như tâm sự.
  • Diễn đạt giàu hình ảnh, kết hợp lí và tình.

Ví dụ tiêu biểu:

“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng.”

Phân tích: Đoạn văn sử dụng hàng loạt hình ảnh mạnh (ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, xả thịt lột da, nuốt gan uống máu, trăm thân phơi nội cỏ, nghìn xác gói trong da ngựa), kết hợp với nhịp văn dồn dập, bộc lộ trực tiếp nỗi đau, lòng căm thù giặcquyết tâm xả thân của chủ tướng. Lời văn vừa cảm động vừa hùng tráng, có sức lay động mãnh liệt đến tâm hồn người nghe, khiến các tì tướng không thể không xúc động và soi lại bản thân.

Câu 7: Với tư cách là chủ tướng, Trần Quốc Tuấn đã dùng những lí lẽ nào để kêu gọi các tì tướng phải rèn tập võ nghệ, học tập cuốn Binh thư yếu lược?

  • Lí lẽ 1 — Phải luôn cảnh giác: không được “mất bò mới lo làm chuồng”, cần “đặt mồi lửa dưới đống củi” làm răn.
  • Lí lẽ 2 — Lợi ích lâu dài: nếu chăm rèn võ nghệ, học binh thư sẽ giỏi như Bàng Mông, Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt, đánh bại quân thù; nhờ đó thái ấp vững bền, bổng lộc đời đời, gia quyến êm ấm, tên tuổi lưu thơm.
  • Lí lẽ 3 — Chỉ có một lựa chọn: học theo Binh thư yếu lượcphải đạo thần chủ; khinh bỏ là kẻ nghịch thù, không còn mặt mũi nào đứng trong trời đất.

→ Các lí lẽ chặt chẽ, giàu sức thuyết phục, vừa mềm dẻo khuyên nhủ vừa kiên quyết răn đe, khơi dậy quyết tâm tập luyện của tì tướng.

Câu 8: Từ bài hịch này, em rút ra được bài học gì cho bản thân khi viết một bài văn nghị luận?

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Em rút ra được bài học: bài văn nghị luận muốn có sức thuyết phục cần có luận điểm rõ ràng, lí lẽ chặt chẽ, bằng chứng cụ thể; biết kết hợp lí và tình, lập luận và cảm xúc, dùng hình ảnh sinh động để tác động mạnh đến người đọc.
  • Cách 2: Qua bài hịch, em học được cách mở bài bằng dẫn chứng lịch sử để tạo cơ sở vững chắc, lập luận theo trình tự từ chung đến riêng, từ lí đến tình, biết dùng câu hỏi tu từso sánh tương phản để tăng sức thuyết phục cho bài viết.

V. Viết kết nối với đọc

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) nói về một truyền thống đáng tự hào của dân tộc Việt Nam.

Đoạn văn tham khảo 1 – Truyền thống yêu nước:

Trong số những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, em tự hào nhất về truyền thống yêu nước. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, biết bao thế hệ cha ông đã đổ xương máu để bảo vệ từng tấc đất quê hương. Đó là Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa chống quân Hán, là Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, là Trần Hưng Đạo ba lần đánh tan quân Mông – Nguyên, là Quang Trung đại phá quân Thanh, là cuộc kháng chiến trường kì chống Pháp, chống Mỹ của dân tộc ta. Lòng yêu nước ấy không chỉ thể hiện trong chiến tranh mà còn trong thời bình – qua những việc làm thầm lặng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Là học sinh, em ý thức rằng yêu nước hôm nay là chăm ngoan học giỏi, rèn luyện đạo đức, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Em tin rằng truyền thống yêu nước sẽ mãi là ngọn lửa thiêng truyền từ đời này sang đời khác. Đó cũng là niềm tự hào lớn nhất của mỗi người con đất Việt.

Đoạn văn tham khảo 2 – Truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”:

Một trong những truyền thống đáng tự hào nhất của dân tộc Việt Nam là “Uống nước nhớ nguồn”, đạo lí biết ơn những người đi trước. Từ ngàn đời nay, cha ông ta luôn nhắc nhở con cháu phải ghi nhớ công lao của tổ tiên, của những bậc anh hùng đã hi sinh vì đất nước. Truyền thống ấy hiện diện trong những ngày giỗ Tổ Hùng Vương, trong những đài tưởng niệm, nghĩa trang liệt sĩ trải dài khắp đất nước. Mỗi dịp 27/7 hay 22/12, người Việt lại bày tỏ lòng tri ân đến các thương binh, liệt sĩ và những người đã làm nên hoà bình hôm nay. Trong gia đình, đó là việc thờ cúng ông bà, tổ tiên với tấm lòng thành kính. Trong nhà trường, đó là ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 – ngày học sinh nhớ về thầy cô. Truyền thống ấy đã trở thành nét đẹp văn hoá, làm nên cốt cách của con người Việt Nam. Em luôn tự nhủ phải sống xứng đáng với những hi sinh của cha ông để giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu đó.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng