Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Lý thuyết trọng tâm
Diễn dịch, quy nạp là các kiểu đoạn văn được phân biệt dựa vào cách thức tổ chức, triển khai nội dung. Việc phân biệt liên quan đến câu chủ đề — câu thể hiện nội dung bao quát của đoạn văn.
1. Đoạn văn diễn dịch
- Đặc điểm: câu chủ đề được đặt ở đầu đoạn, các câu tiếp theo triển khai các nội dung cụ thể (giải thích, chứng minh, phân tích…) để làm rõ chủ đề.
- Cách triển khai: đi từ ý khái quát → ý cụ thể.
Ví dụ:
Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. Nói thế có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng hài hoà về mặt âm hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Nói thế cũng có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tư tưởng của người Việt Nam và để thoả mãn cho yêu cầu của đời sống văn hoá nước nhà qua các thời kì lịch sử. (Đặng Thai Mai, Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc)
→ Câu chủ đề (in đậm) đặt ở đầu đoạn, khẳng định hai nét đặc sắc của tiếng Việt là đẹp và hay. Các câu sau giải thích cụ thể cái đẹp và cái hay ấy.
2. Đoạn văn quy nạp
- Đặc điểm: câu chủ đề được đặt ở cuối đoạn, các câu trước triển khai nội dung cụ thể, từ đó câu cuối mới khái quát.
- Cách triển khai: đi từ ý cụ thể → ý khái quát.
Ví dụ:
Đề cao sự khác biệt không phải là cổ động cho lối sống cá nhân ích kỉ, hẹp hòi, chối bỏ mọi trách nhiệm. Đề cao sự khác biệt không có nghĩa chấp nhận những sự kì dị, quái đản cốt làm cho cá nhân nổi bật giữa đám đông, xa lạ với văn hoá truyền thống của dân tộc. Đề cao sự khác biệt cũng không đồng nghĩa với việc tán thành lối sống tự do vô mục đích. Xét cho cùng, chỉ sự khác biệt nào toát lên được giá trị của cá nhân và có ích cho cộng đồng thì mới thực sự có ý nghĩa, đáng được đề cao. (Để làm tốt bài thi môn Ngữ văn kì thi trung học phổ thông quốc gia – phần nghị luận xã hội)
→ Ba câu đầu nêu những biểu hiện của sự khác biệt tầm thường, vô nghĩa. Từ đó, câu chủ đề (in đậm) ở cuối đoạn mới có cơ sở để khẳng định sự khác biệt có ý nghĩa, đáng được đề cao.
3. Chức năng chung
Cả hai kiểu đoạn văn đều đáp ứng yêu cầu cơ bản của một đoạn văn: thể hiện rõ chủ đề. Nhờ có câu chủ đề, việc tiếp nhận nội dung trở nên thuận lợi hơn. Hai kiểu đoạn văn này đặc biệt phù hợp với văn bản nghị luận.
II. Luyện tập
Bài 1 (trang 64, SGK Ngữ văn 8, tập 1): Tìm câu chủ đề, xác định kiểu đoạn văn và phân tích tác dụng.
a. Đoạn trích từ “Hịch tướng sĩ” — Trần Quốc Tuấn.
- Câu chủ đề: “Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được!” (đặt ở cuối đoạn).
- Kiểu đoạn văn: quy nạp.
- Tác dụng: Các câu đầu nêu hàng loạt tấm gương trung thần nghĩa sĩ (Kỉ Tín, Do Vu, Dự Nhượng, Thân Khoái, Kính Đức, Cảo Khanh…). Từ những dẫn chứng cụ thể đó, câu chủ đề ở cuối đoạn mới có cơ sở vững chắc để nhắc nhở binh sĩ về chân lí: những tấm gương trung nghĩa sẽ được sử sách lưu danh. Cách tổ chức này gián tiếp khơi dậy ý thức trách nhiệm của đấng nam nhi trong xã hội, có sức thuyết phục cao.
b. Đoạn văn về đồng phục học sinh.
- Câu chủ đề: “Đồng phục không chỉ đẹp mà còn góp phần tạo nên bản sắc của mỗi trường.” (đặt ở đầu đoạn).
- Kiểu đoạn văn: diễn dịch.
- Tác dụng: Câu chủ đề ở đầu đoạn khẳng định ý khái quát: đồng phục vừa đẹp vừa tạo bản sắc trường. Các câu sau làm rõ ý khái quát bằng những dẫn chứng cụ thể: đồng phục giúp nhận ra học sinh của từng trường, thể hiện “màu cờ sắc áo” của trường mình trong các cuộc thi. Cách tổ chức này giúp người đọc nắm ngay được nội dung chính, sau đó hiểu rõ hơn qua các chi tiết minh hoạ.
Bài 2 (trang 65, SGK Ngữ văn 8, tập 1): Sắp xếp các câu sau đây thành đoạn văn diễn dịch, sau đó sắp xếp lại thành đoạn văn quy nạp và cho biết dựa vào cơ sở nào em sắp xếp như vậy.
Cơ sở sắp xếp: Câu (3) — “Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo là ước mơ công bằng được nhân dân gửi gắm vào truyện cổ tích” — là câu nêu luận điểm (câu chủ đề). Các câu (1), (2), (4) là những dẫn chứng cụ thể từ các truyện cổ tích Tấm Cám, Thạch Sanh, Cây khế để chứng minh cho luận điểm đó.
a) Đoạn văn diễn dịch (câu chủ đề ở đầu): (3) → (1) → (2) → (4)
Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo là ước mơ công bằng được nhân dân gửi gắm vào truyện cổ tích. Một cô Tấm (trong truyện Tấm Cám) bao lần bị hại, cuối cùng vẫn được làm hoàng hậu, nhưng mụ dì ghẻ và Cám – những kẻ lắm mưu mô tàn ác thì bị trừng phạt đích đáng. Một Thạch Sanh (truyện Thạch Sanh) chất phác, thật bụng tin người, dẫu trải qua bao khổ nạn, oan khuất rồi đến lúc cũng cưới được công chúa và lên ngôi, còn Lý Thông lừa lọc, xảo trá thì trời đất không dung tha. Một người em (truyện Cây khế) thật thà, hiền lành, bị anh đối xử bất công, ai ngờ cuộc sống về sau lại giàu sang, hạnh phúc, trong khi người anh tham lam thì bỏ mạng giữa biển khơi.
b) Đoạn văn quy nạp (câu chủ đề ở cuối): (1) → (2) → (4) → (3)
Một cô Tấm (trong truyện Tấm Cám) bao lần bị hại, cuối cùng vẫn được làm hoàng hậu, nhưng mụ dì ghẻ và Cám – những kẻ lắm mưu mô tàn ác thì bị trừng phạt đích đáng. Một Thạch Sanh (truyện Thạch Sanh) chất phác, thật bụng tin người, dẫu trải qua bao khổ nạn, oan khuất rồi đến lúc cũng cưới được công chúa và lên ngôi, còn Lý Thông lừa lọc, xảo trá thì trời đất không dung tha. Một người em (truyện Cây khế) thật thà, hiền lành, bị anh đối xử bất công, ai ngờ cuộc sống về sau lại giàu sang, hạnh phúc, trong khi người anh tham lam thì bỏ mạng giữa biển khơi. Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo là ước mơ công bằng được nhân dân gửi gắm vào truyện cổ tích.
Bài 3 (trang 65, SGK Ngữ văn 8, tập 1): Lấy câu “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất.” (I-li-a Ê-ren-bua) làm câu chủ đề. Viết hai đoạn văn diễn dịch và quy nạp.
Câu hỏi mở, em có thể tham khảo các đoạn văn dưới đây.
a) Đoạn văn diễn dịch (câu chủ đề đặt ở đầu):
Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất. Đó là tình yêu dành cho cây đa, giếng nước, sân đình – những hình ảnh quen thuộc gắn bó với mỗi người từ thuở ấu thơ. Đó là nỗi nhớ về bữa cơm mẹ nấu, về tiếng ru à ơi của bà, về con đường làng rợp bóng tre xanh. Đó còn là tình cảm gắn bó với mái trường, với thầy cô, bè bạn, với từng góc phố quê hương. Những điều bình dị ấy lớn dần theo năm tháng, hoà quyện thành tình yêu sâu nặng dành cho quê hương, đất nước. Khi đất nước có giặc, chính tình yêu ấy đã thôi thúc bao thế hệ cầm súng lên đường chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc. Có thể nói, lòng yêu nước được nuôi dưỡng từ những điều giản dị nhất quanh ta.
b) Đoạn văn quy nạp (câu chủ đề đặt ở cuối):
Mỗi sáng thức dậy, ta nghe tiếng gà gáy quen thuộc trong xóm nhỏ, ngửi mùi cơm chín thơm lừng mẹ nấu. Đi học, ta đi qua con đường làng có hàng cây xanh mát, gặp những người hàng xóm thân thuộc cười chào. Ở trường, ta học cùng thầy cô, vui chơi bên bè bạn, gắn bó với từng góc sân, hàng ghế. Chính những điều bình dị, gần gũi ấy đã in sâu trong tâm hồn, lớn dần lên thành nỗi nhớ, niềm tự hào về quê hương. Để rồi khi xa quê, ta thấy lòng nao nao mỗi lần nhớ về hình bóng làng quê; khi đất nước nguy nan, ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ những gì thân thương nhất. Bởi vậy, lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
