Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
I. Lý thuyết trọng tâm
Thành phần biệt lập gồm 4 loại: thành phần tình thái, thành phần cảm thán, thành phần gọi – đáp, thành phần chêm xen (phụ chú). Ở bài trước (trang 66), chúng ta đã tìm hiểu thành phần tình thái và thành phần cảm thán. Bài này sẽ học tiếp hai loại còn lại.
1. Thành phần gọi – đáp
Thành phần gọi – đáp là thành phần được dùng để tạo lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếp, thường được đánh dấu bằng những từ ngữ gọi – đáp như: ơi, hỡi, thưa, dạ, vâng, ê, này…
Ví dụ 1 — gọi:
Anh ơi, có khi bố dậy rồi đấy. (Nguyễn Quang Thiều, Bầy chim chìa vôi)
→ Anh ơi là thành phần gọi – đáp mà Mon dùng để gọi Mên.
Ví dụ 2 — đáp:
ÔNG GIUỐC-ĐANH: – Lại còn phải bảo cái đó à? PHÓ MAY: – Vâng, phải bảo chứ. Vì tất cả những người quý phái đều mặc như thế này cả. (Mô-li-e, Trưởng giả học làm sang)
→ Vâng là thành phần gọi – đáp mà phó may dùng để đáp lại lời ông Giuốc-đanh.
2. Thành phần chêm xen (phụ chú)
Thành phần chêm xen (phụ chú) là thành phần được dùng để bổ sung, làm rõ thêm một đối tượng nào đó trong câu.
Dấu hiệu nhận biết: thành phần này thường được đặt trong dấu ngoặc đơn, giữa hai dấu gạch ngang, hai dấu phẩy, hoặc giữa dấu gạch ngang và dấu phẩy. Cũng có khi thành phần chêm xen được đặt sau dấu hai chấm.
Ví dụ:
Dòng suối trong trẻo của thầy – thầy âu yếm nhìn tôi – em thông minh lắm! (Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp, Người thầy đầu tiên)
→ Thầy âu yếm nhìn tôi là thành phần chêm xen, có tác dụng làm rõ thái độ, tình cảm của nhân vật.
II. Luyện tập
Bài 1: Tìm thành phần gọi – đáp trong các câu sau và cho biết chức năng của chúng.
| Câu | Thành phần gọi – đáp | Chức năng |
|---|---|---|
| a. “Thưa anh, thế thì,… hừ hừ… em xin sợ. Mời anh cứ đùa một mình thôi.” (Tô Hoài) | Thưa anh | Dế Choắt dùng để gọi Dế Mèn — cách gọi thể hiện sự tôn kính của kẻ dưới với người trên. |
| b. “Ê, đồ quỷ! – Nét Len vừa quát vừa nện chân xuống vỏ tàu.” (Giuyn Véc-nơ) | Ê | Thể hiện lời gọi của Nét Len — cách gọi suồng sã, có phần thô lỗ. |
| c. “Cậu bé ơi, ở đây ngày nào người ta chẳng bán đến hàng nghìn con lạc đà!” (Đa-ni-en Pen-nắc) | ơi | Thể hiện lời gọi của những người qua đường dùng để gọi cậu bé. |
Bài 2: Tìm thành phần chêm xen trong các câu sau và cho biết chúng làm rõ thêm nội dung gì.
| Câu | Thành phần chêm xen | Nội dung làm rõ thêm |
|---|---|---|
| a. (Xuân Diệu) | (của các tác giả khác) | Làm rõ các bài thơ thu khác mà Xuân Diệu muốn nói đến là của các tác giả khác, không phải của Nguyễn Khuyến. |
| b. (Xuân Diệu) | đây là “xứ Vườn Bùi” theo đồng bào gọi cả vùng Trung Lương nằm trong xã Yên Đổ cũ, chứ không phải chỉ là khu vườn của nhà ở cụ Nguyễn Khuyến | Giải thích thêm về cụm từ “Vườn Bùi chốn cũ” để người đọc không hiểu nhầm về phạm vi không gian được nói đến. |
| c. (Lu-i Xe-pun-ve-da) | món mực ống mà Xe-crét-ta-ri-ô chôm được từ bếp nhà hàng | Giải thích thêm về món yêu thích của con hải âu. |
| d. (Trần Đình Sử) | (phân tích, bình giảng, bình luận) | Làm rõ hơn về các hoạt động cụ thể có liên quan đến việc “đọc văn”. |
Bài 3: Tìm các thành phần biệt lập trong những câu sau và xác định đó là loại thành phần biệt lập nào.
a. Và hẳn vì buồn nên Ánh Vàng muốn được nhìn thấy những điều mới mẻ. (Đa-ni-en Pen-nắc, Mắt sói)
→ hẳn: thành phần tình thái (thể hiện sự phỏng đoán có mức độ tin cậy khá cao).
b. Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh… (Vũ Bằng, Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt)
→ mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội: thành phần chêm xen (bổ sung, làm rõ “mùa xuân của tôi” là mùa xuân nào).
c. Này bác có lợn kia ơi! Từ lúc mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả! (Lợn cưới, áo mới)
→ Ơi: thành phần gọi – đáp (dùng để gọi, thu hút sự chú ý của người được hỏi).
d. Ôi những vạt ruộng vàng / Chiều nay rung rinh lúa ngả. (Nguyễn Đình Thi, Đường núi)
→ Ôi: thành phần cảm thán (bộc lộ cảm xúc xúc động, trầm trồ trước vẻ đẹp của vạt ruộng vàng).

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
