Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó
- Câu 1: Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền các nội dung phù hợp.
- Câu 2: Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền các thông tin phù hợp.
- Câu 3: Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền các thông tin tương ứng.
- Câu 4: Tiếng cười trào phúng nhằm giễu cợt, mỉa mai, châm biếm, đả kích những cái chưa hay, chưa đẹp hoặc cái tiêu cực, xấu xa nhưng mục đích cao nhất của nó là hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn. Em hãy nêu những suy nghĩ của mình về ý kiến trên.
Câu 1: Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền các nội dung phù hợp.
| Văn bản | Thể thơ | Các phần trong bố cục bài thơ | Câu thơ tương ứng |
|---|---|---|---|
| Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu | Thất ngôn bát cú Đường luật | – Giới thiệu về kì thi | Hai câu đề (câu 1 – 2) |
| – Cảnh tượng nhốn nháo của sĩ tử và quan trường | Hai câu thực (câu 3 – 4) | ||
| – Sự xuất hiện của quan sứ và mụ đầm | Hai câu luận (câu 5 – 6) | ||
| – Thái độ, tâm trạng của tác giả | Hai câu kết (câu 7 – 8) | ||
| Lai Tân | Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật | – Hiện thực xã hội Lai Tân | Ba câu đầu (câu 1 – 2 – 3) |
| – Lời bình luận, châm biếm của tác giả | Câu cuối (câu 4) |
Câu 2: Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền các thông tin phù hợp.
| Văn bản | Đối tượng bị châm biếm, đả kích | Những cái xấu bị châm biếm, đả kích |
|---|---|---|
| Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu | Sĩ tử, quan trường, quan sứ, mụ đầm | – Sĩ tử: lôi thôi, nhếch nhác, mất đi phong thái của nhà nho.
– Quan trường: ậm oẹ, ra oai giả tạo, mất đi sự trang nghiêm vốn có. – Quan sứ và mụ đầm: sự xâm nhập lố lăng, phô trương của thực dân Pháp vào kì thi Nho học – biểu hiện của nỗi nhục mất nước. |
| Lai Tân | Ban trưởng, cảnh trưởng, huyện trưởng (bộ máy quan lại Quốc dân đảng) | – Ban trưởng: chuyên đánh bạc, ăn chơi sa đoạ, vô trách nhiệm.
– Cảnh trưởng: tham lam, ăn hối lộ, bòn rút tiền của phạm nhân. – Huyện trưởng: “chong đèn” hút thuốc phiện, bệ rạc, đạo đức giả. |
Câu 3: Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền các thông tin tương ứng.
| Giọng điệu trào phúng | Đặc điểm của giọng điệu | Ví dụ minh hoạ |
|---|---|---|
| Hài hước | Đùa cợt nhẹ nhàng, sử dụng những yếu tố khác lạ, phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc. Chủ yếu mua vui, mức độ phê phán nhẹ. | Tự trào 1 – Phạm Thái |
| Mỉa mai – châm biếm | Tạo ra những yếu tố vô lí, thiếu lô-gic, đảo lộn trật tự thông thường; hoặc dùng cách “khen để chê, khẳng định để phủ định, đề cao để hạ thấp”. Mức độ phê phán sâu cay. | Hỏi thăm quan tuần mất cướp – Nguyễn Khuyến; Nha lệ thương dân – Kép Trà |
| Đả kích | Giọng điệu phủ nhận gay gắt, quyết liệt; có thể mang tính “mắng chửi”, suồng sã, thô mộc. Nhằm cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức trong xã hội. | Đất Vị Hoàng – Trần Tế Xương |
Câu 4: Tiếng cười trào phúng nhằm giễu cợt, mỉa mai, châm biếm, đả kích những cái chưa hay, chưa đẹp hoặc cái tiêu cực, xấu xa nhưng mục đích cao nhất của nó là hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn. Em hãy nêu những suy nghĩ của mình về ý kiến trên.
Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.
Cách 1:
Em hoàn toàn đồng ý với ý kiến trên. Tiếng cười trào phúng trong văn chương không đơn thuần chỉ để mua vui mà còn mang giá trị nhân văn sâu sắc. Trước hết, tiếng cười là vũ khí để các nhà văn, nhà thơ phơi bày, phê phán những cái xấu, cái tiêu cực trong xã hội – như sự thối nát của bộ máy quan lại trong Lai Tân, cảnh thi cử nhốn nháo trong Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu. Tuy nhiên, mục đích cao nhất của tiếng cười ấy không phải là sự công kích cá nhân mà là thanh lọc xã hội, giúp con người nhìn nhận đúng cái xấu để loại bỏ. Đằng sau mỗi tiếng cười châm biếm là tấm lòng tha thiết của tác giả mong muốn hướng con người tới những giá trị chân, thiện, mĩ. Vì vậy, thơ trào phúng vừa có giá trị phê phán vừa có giá trị xây dựng, góp phần làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.
Cách 2:
Theo em, ý kiến trên rất đúng đắn. Tiếng cười trào phúng trông có vẻ chỉ là sự đùa cợt, giễu nhại, nhưng thực chất lại ẩn chứa một trái tim đầy nhân ái của người cầm bút. Khi Trần Tế Xương cười trước cảnh trường thi nhếch nhác, khi Hồ Chí Minh cười trước bộ máy quan lại Lai Tân thối nát, các nhà thơ không chỉ phê phán mà còn gửi gắm khát vọng về một xã hội công bằng, một nền học vấn nghiêm túc, một bộ máy chính quyền trong sạch. Tiếng cười ấy giúp người đọc thức tỉnh, nhận ra cái xấu để tránh; đồng thời khơi gợi tình yêu với những giá trị cao đẹp. Có thể nói, tiếng cười trào phúng giống như một liều thuốc đặc biệt – vừa “đắng” để chữa bệnh xã hội, vừa “ngọt” để nuôi dưỡng tâm hồn con người. Đó cũng là lí do thơ trào phúng vẫn có sức sống lâu bền và ý nghĩa đến tận hôm nay.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật
(Người kiểm duyệt, ra đề)
Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS
Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1
Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng
