Soạn Bài: Chùm truyện cười dân gian Việt Nam (trang 108) Ngữ Văn 8 tập 1

Mục lục [Ẩn]

Chọn đến phần học sinh cần nhanh chóng thông qua mục lục bằng cách click đến phần đó

I. Tìm hiểu chung

1. Thể loại

Truyện cười dân gian – tác phẩm tự sự dân gian, dung lượng ngắn, dùng tiếng cười vừa để chế giễu những thói hư tật xấu, vừa nhằm mục đích giải trí.

2. Tác phẩm

  • Xuất xứ: ba truyện đều trích từ Kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam (Nguyễn Cừ – Phan Trọng Thưởng biên soạn, sưu tầm, chọn tuyển, NXB Văn học, Hà Nội, 2001).
  • Ba truyện trong chùm:
    • Lợn cưới, áo mới – phê phán thói khoe khoang.
    • Treo biển – phê phán thói thiếu chính kiến, ai nói gì cũng nghe.
    • Nói dóc gặp nhau – phê phán thói nói khoác, ba hoa.

Giải thích nhanh: truyện cười thường có cốt truyện ngắn, kết thúc bất ngờ, nhân vật chính là đối tượng bị chế giễu, ngôn ngữ dân dã, nhiều ẩn ý. Ví dụ: trong Treo biển, kết cục nhà hàng cất luôn cái biển là tình huống bất ngờ, làm bật tiếng cười.

II. Trước khi đọc

Câu 1: Hãy nêu tên những truyện cười mà em biết. Chọn kể một truyện cười em cho là thú vị.

Câu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Một số truyện cười em biết: Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày, Đẽo cày giữa đường, Thầy bói xem voi… Em thấy thú vị nhất là truyện Đẽo cày giữa đường: anh thợ mộc đem hết vốn ra mua gỗ đẽo cày, ai đi qua góp ý cũng nghe theo, người bảo đẽo to thì đẽo to, người bảo đẽo nhỏ thì đẽo nhỏ. Cuối cùng số gỗ hỏng hết mà chẳng bán được chiếc cày nào. Truyện phê phán những người không có chính kiến.
  • Cách 2: Một số truyện cười em biết: Thầy bói xem voi, Đẽo cày giữa đường, Tam đại con gà… Em thích truyện Thầy bói xem voi: năm ông thầy bói mù cùng sờ con voi, mỗi người sờ một bộ phận rồi tranh cãi nhau xem con voi giống cái gì. Truyện vừa gây cười vừa nhắc nhở chúng ta không nên nhìn nhận sự việc một cách phiến diện.

III. Trong khi đọc

1. So sánh: Cách hỏi và cách trả lời của hai nhân vật (Lợn cưới, áo mới)

Cách hỏi của anh tìm lợn Cách trả lời của anh áo mới
“Tôi có con lợn cưới, bác có thấy nó chạy qua đây không?” – thêm chữ “cưới” thừa để khoe nhà có cỗ cưới. “Từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy có con lợn nào chạy qua đây cả” – thêm vế “cái áo mới” thừa để khoe áo.

→ Cả câu hỏi và câu trả lời đều thừa thông tin một cách lố bịch, chỉ nhằm khoe của.

2. Theo dõi: Hành động của nhà hàng mỗi khi có người nhận xét cái biển (Treo biển)

Cứ mỗi lần có người góp ý, nhà hàng đều nghe theo ngay, không suy nghĩ: bỏ chữ “tươi”, rồi bỏ “ở đây”, rồi bỏ “có bán”, cuối cùng cất luôn cái biển.

3. Suy luận: Vì sao nhà hàng cất cái biển?

Vì người láng giềng nhận xét rằng chưa đi đến đầu phố đã ngửi thấy mùi tanh, nhìn vào hàng đầy những cá, ai chẳng biết – treo biển làm gì nữa. Nhà hàng nghe lời và cất luôn cái biển. Đó là hành động thiếu chính kiến, ai nói gì cũng làm theo.

4. Theo dõi: Chú ý độ dài của chiếc ghe (Nói dóc gặp nhau)

Chiếc ghe được tả dài đến mức: “một người tuổi hai mươi đứng ở đầu mũi bắt đầu đi ra đằng lái, đi đến giữa cột buồm thì đã già, râu tóc bạc phơ, cứ thế đi, đến chết vẫn chưa tới lái”. → Sự phóng đại vô lí, bịa đặt để khoe.

5. Theo dõi: Chú ý chiều cao của cái cây

Cây cao đến mức: hột đa rơi từ trên cành xuống lưng chừng đã nảy mầm, đâm rễ thành cây; cây đa con lớn lên kết quả, hột đa lại rơi tiếp, cứ thế đến khi rơi tới đất là đã bảy đời cây đa. → Sự phóng đại còn vô lí hơn cả chiếc ghe.

IV. Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi

Câu 1: Các truyện Lợn cưới, áo mới; Treo biển; Nói dóc gặp nhau phê phán những tính xấu nào của con người?

  • Lợn cưới, áo mới: phê phán thói khoe khoang, hợm của – đem những thứ tầm thường ra khoe khoang một cách lố bịch.
  • Treo biển: phê phán thói thiếu chính kiến, không có lập trường – ai nói gì cũng nghe theo, không biết suy xét.
  • Nói dóc gặp nhau: phê phán thói nói khoác, ba hoa, bịa đặt – nói những điều phi lí để ra vẻ ta đây.

Câu 2: Đối thoại của hai nhân vật trong truyện Lợn cưới, áo mới có gì đặc biệt? Trong tình huống đó, cách hỏi và trả lời thông thường sẽ như thế nào?

Điểm đặc biệt:

  • Cả câu hỏi và câu trả lời đều thừa thông tin, không cần thiết:
    • Anh tìm lợn lẽ ra chỉ cần hỏi “Bác có thấy con lợn của tôi chạy qua đây không?” – nhưng lại thêm chữ “cưới” để khoe nhà có cỗ cưới.
    • Anh kia lẽ ra chỉ cần trả lời “Tôi không thấy.” – nhưng lại thêm vế “Từ lúc mặc cái áo mới này” để khoe áo mới.
  • Cả hai đều tận dụng đối thoại để khoe của, tạo nên tình huống đáng cười.

Cách hỏi – trả lời thông thường:

  • “Bác có thấy con lợn của tôi chạy qua đây không?”“Tôi không thấy.”

Câu 3: Tính cách anh chàng có áo mới trong truyện Lợn cưới, áo mới được thể hiện qua những chi tiết nào?

  • May được cái áo mới liền mặc ngay, ra cửa đứng để mong có ai khen.
  • Kiên trì đứng từ sáng đến chiều mà chẳng có ai để ý.
  • Khi có người chạy qua hỏi chuyện lợn, anh ta phanh hai vạt áo ra, trả lời thừa hẳn một vế “Từ lúc mặc cái áo mới này…” để khoe.

→ Tính cách: khoe khoang, hợm hĩnh, lố bịch.

Câu 4: Nhà hàng bán cá trong truyện Treo biển đã hành động như thế nào trước những lời nhận xét của mọi người? Nếu là chủ của nhà hàng thì em sẽ làm gì trước những lời nhận xét đó?

Hành động của nhà hàng: mỗi lần nghe góp ý, nhà hàng nghe theo ngay, không suy nghĩ:

  • Lần 1: bỏ chữ “tươi”.
  • Lần 2: bỏ “ở đây”.
  • Lần 3: bỏ “có bán”.
  • Lần 4: cất luôn cái biển.

Nếu em là chủ nhà hàngcâu hỏi mở, em có thể chọn một trong các cách sau.

  • Cách 1: Em sẽ lắng nghe các ý kiến nhưng cũng suy xét xem có hợp lí hay không rồi mới quyết định. Tấm biển ban đầu “Ở đây có bán cá tươi” đã đủ thông tin (địa điểm, hoạt động, mặt hàng, chất lượng), không cần bỏ chữ nào. Em sẽ giữ nguyên cái biển.
  • Cách 2: Em sẽ cảm ơn các ý kiến đóng góp nhưng vẫn giữ vững quan điểm của mình. Tấm biển phục vụ mục đích quảng cáo nên cần đầy đủ thông tin để khách hàng biết: ở đâu, bán gì, chất lượng ra sao. Em không nghe theo những lời nhận xét chủ quan, thiếu căn cứ.

Câu 5: Ở truyện Treo biển, sự lặp lại tình huống bị chê – gỡ biển nhiều lần có tác dụng gì?

  • Tăng dần tính kịch tính và sức hấp dẫn cho câu chuyện.
  • Làm bật lên sự thiếu chính kiến đến mức vô lí của nhà hàng: ai nói gì cũng nghe, không hề suy xét.
  • Đẩy tiếng cười lên cao trào ở kết thúc bất ngờ – cuối cùng cái biển bị cất hẳn đi, dù ban đầu nó vốn đầy đủ và hợp lí.
  • Phê phán thói “đẽo cày giữa đường” trong cuộc sống một cách sâu sắc.

Câu 6: Có điều gì khác thường ở lời nói của hai nhân vật trong truyện Nói dóc gặp nhau?

  • Cả hai nhân vật đều nói khoác lác, phóng đại đến mức phi lí:
    • Nhân vật thứ nhất: tả chiếc ghe dài đến mức một người đi từ đầu mũi đến giữa cột buồm đã thành ông già, chết vẫn chưa tới lái.
    • Nhân vật thứ hai: tả cái cây cao đến mức hột đa rơi xuống đã thành bảy đời cây đa mới tới đất.
  • Lời nói của họ trái ngược với thực tế, không thể có trong đời sống. Đặc biệt, nhân vật thứ hai nói khoác nhưng có dụng ý – để chế giễu, phê phán thói nói dóc của nhân vật thứ nhất.

Câu 7: Theo em, trong Nói dóc gặp nhau, chi tiết nào tạo ra sự bất ngờ cho truyện?

Chi tiết tạo sự bất ngờ là câu nói cuối của anh thứ hai: “Nếu không có cây cao như thế thì lấy đâu ra gỗ để đóng chiếc ghe của anh?”

→ Câu nói ấy vừa cho thấy sự thông minh, hóm hỉnh của anh thứ hai, vừa lật ngược tình thế: chính anh đầu tiên (người đang cười người khác nói khoác) lại trở thành kẻ bị “lật tẩy”. Đây cũng là chi tiết gây cười nhất, làm bật ra ý nghĩa châm biếm của truyện.

Câu 8: Em có nhận xét gì về sắc thái của tiếng cười trong mỗi câu chuyện ở bài học này?

  • Lợn cưới, áo mới: tiếng cười bông đùa, giễu cợt nhẹ nhàng thói khoe của – một tật xấu phổ biến nhưng không gây hại lớn.
  • Treo biển: tiếng cười nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, mang tính giáo dục kín đáo – nhắc nhở mỗi người cần có lập trường, biết suy xét trước những lời góp ý.
  • Nói dóc gặp nhau: tiếng cười hóm hỉnh, thông minh – không lên án gay gắt mà dùng chính lời nói khoác để “trị” thói nói khoác.

→ Tiếng cười trong cả ba truyện đều nhẹ nhàng, vui tươi, mang tính giải trí kết hợp với giáo dục, hướng con người tránh xa những thói hư tật xấu.

V. Viết kết nối với đọc

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trình bày suy nghĩ của em về một tính cách đáng phê phán được nói đến trong những truyện cười trên.

Đoạn văn tham khảo 1 — Bàn về thói khoe khoang (qua truyện Lợn cưới, áo mới):

Trong chùm truyện cười dân gian, truyện Lợn cưới, áo mới đã phê phán sâu sắc thói khoe khoang lố bịch của con người. Hai nhân vật trong truyện chỉ vì muốn khoe một cái áo mới và một con lợn mà bịa ra cả cách hỏi, cách trả lời thừa thãi đến nực cười. Anh áo mới đứng từ sáng đến chiều ngoài cửa, chỉ để mong có ai đó khen mình; còn anh kia tìm lợn cũng cố nhấn mạnh chữ “cưới” để khoe nhà có cỗ. Thói khoe khoang ấy biến con người trở nên hợm hĩnh, kệch cỡm trong mắt người khác. Trong cuộc sống hôm nay, không ít người vẫn vướng vào thói xấu này: khoe của cải, khoe thành tích trên mạng xã hội để được người khác trầm trồ. Em cho rằng giá trị thực sự của một con người không nằm ở những thứ vật chất bên ngoài mà ở phẩm chất, tài năng và cách ứng xử. Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết khiêm tốn, sống thật với chính mình thay vì chạy theo những hư danh phù phiếm.

Đoạn văn tham khảo 2 — Bàn về thói thiếu chính kiến (qua truyện Treo biển):

Đọc truyện cười Treo biển, em rút ra được bài học sâu sắc về thói thiếu chính kiến – một tính xấu đáng phê phán. Nhà hàng bán cá trong truyện ban đầu treo tấm biển “Ở đây có bán cá tươi” hoàn toàn hợp lí, đầy đủ thông tin. Vậy mà chỉ vì nghe theo bốn lời góp ý chủ quan, vô căn cứ của người qua đường, ông chủ đã lần lượt bỏ từng chữ trên biển, cuối cùng cất luôn cái biển. Hành động ấy thật buồn cười nhưng cũng đáng để suy ngẫm. Trong cuộc sống, lắng nghe ý kiến của người khác là điều tốt, nhưng nghe rồi cứ răm rắp làm theo mà không suy xét thì lại là điều dại dột. Mỗi người cần có lập trường vững vàng, biết phân biệt đúng – sai, hợp lí – vô lí trước khi quyết định. Có như vậy, chúng ta mới không trở thành “kẻ đẽo cày giữa đường”, đánh mất chính mình giữa muôn vàn ý kiến trái chiều.

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

Thầy Nguyễn Thái Nhật Luật

(Người kiểm duyệt, ra đề)

Chức vụ: Trưởng ban biên soạn môn Ngữ Văn THCS

Trình độ: Cử nhân Sư phạm Ngữ Văn, Chứng chỉ hạng II, Chứng chỉ Tin học, Ngoại ngữ B1

Kinh nghiệm: 8+ năm kinh nghiệm tại THCS Hồng Bàng